Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về tỉnh Vĩnh Long (26 trang) Thao tác hóa khái niệm về văn hóa, tri thức dân gian, đánh bắt, thủy sản, văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, giao lưu văn hóa…và các quan điểm tiếp cận; đồng thời giới thiệu tổng quan về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - văn hóa- xã hội, lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Vĩnh Long làm cơ sở xác định nội dung nghiên cứu đề tài. 14 Chương 2: Tri thức dân gian trong hoạt động đánh bắt thủy sản của người Việt ở tỉnh Vĩnh Long (57 trang) Luận văn tập trung nghiên cứu tri thức dân gian có liên quan đến hoạt động đánh bắt thủy sản của người dân tỉnh Vĩnh Long. Trong đó, xác định vai trò nguồn lợi thủy sản đối với đời sống, cách nhận biết về ngư trường, về đặc tính và thành phần loài cá, về mùa vụ đánh bắt, về thời tiết và lịch con nước để đánh bắt. Đặc biệt, quan tâm nghiên cứu tri thức dân gian qua các loại hình ngư cụ đánh bắt truyền thống và kinh nghiệm đánh bắt của người dân.
Qua đó, thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của tri thức dân gian đối với đời sống nói chung và trong hoạt động đánh bắt thủy sản nói riêng. Chương 3: Tri thức dân gian trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản của người Việt ở tỉnh Vĩnh Long (26 trang) Trên kết quả khảo sát, nghiên cứu tri thức dân gian trong hoạt động đánh bắt ở chương này luận văn sẽ làm rõ việc ứng xử của người dân nơi đây với môi trường tự nhiên. Đồng thời nêu các yếu tố tác động đến sự biến đổi của tri thức dân gian về hoạt động đánh bắt trong bối cảnh đô thị hóa với vấn đề bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Qua đó, đánh giá những biến đổi của ngư cụ làm cơ sở dự báo và kiến nghị những định hướng bảo vệ môi trường sinh thái theo hướng bền vững trong điều kiện hiện nay.
Từ đó nhận diện giá trị của tri thức dân gian. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TỈNH VĨNH LONG 1.Thao tác hóa khái niệm Để làm sáng rõ các nội dung liên quan đến tri thức dân gian trong hoạt động đánh bắt và bảo vệ nguồn thủy sản của người Việt ở Vĩnh Long, luận văn tiếp cận các khái niệm có liên quan đến nội dung nghiên cứu như sau: Văn hóa Văn hóa là một khái niệm rất rộng, với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Khái niệm văn hóa có nhiều định nghĩa, mỗi định nghĩa căn cứ vào góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu, phản ánh những hướng quan tâm khác nhau đến sự phong phú, đa dạng của văn hóa. Năm 1871, nhà nhân học người Anh Edward Burnett Tylor đã đưa ra khái niệm: “Văn hóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất về dân tộc của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viên xã hội” [20:11].
Theo Fiderico Mayor, nguyên tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” [59:10]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đúc kết quan điểm của mình về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát triển ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức 16 sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [24: 431]. Trong Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) của Đảng về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” nhấn mạnh: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặc ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” [2]. Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữ con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [48: 17,18].
Từ các định nghĩa trên cho thấy, con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa trong sự thích nghi với môi trường tự nhiên (vì môi trường là điều kiện để con người sáng tạo) được tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn hình thành truyền thống văn hóa, có giá trị, phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, mang tính nhân văn. Trong đó, tri thức dân gian trong hoạt động đánh bắt và khai thác thủy sản của người Việt là văn hóa của cộng đồng Việt tạo ra. Luận văn này phân tích rõ phần tri thức dân gian về khai thác tự nhiên, trong hoạt động đánh bắt thủy sản và sự sáng tạo trong cách chế tác các loại ngư cụ đánh bắt của người Việt ở Vĩnh Long. Đó là những kinh nghiệm tích lũy trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, là giá trị văn hóa của người Việt khi sống trên vùng đất mới ở phía Nam của Tổ Quốc, khi biết tận dụng môi trường và khai thác phục vụ nhu cầu sinh tồn của mình.
Văn hóa dân gian Trên thế giới, thuật ngữ quốc tế “folklore” tức là Văn hóa dân gian, được W J. Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “Phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ…của người thời trước”. Ở Việt Nam, Văn hóa dân gian hiểu theo nghĩa rộng là trùng hợp với thuật ngữ “folk culture” mà nhiều học giả trên thế giới đang sử dụng. Nó bao hàm “toàn bộ văn hóa vật chất và tinh thần của dân chúng, liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống dân chúng”.
Và, Văn hóa dân gian hiểu theo nghĩa hẹp là trùng hợp với khái niệm 17 folklore. Thuật ngữ folklore là sự thể hiện của folk culture trên bình diện thẩm mỹ; folklore được hiểu như sản phẩm của mối quan hệ thẩm mỹ của dân chúng đối với hiện thực- folklore như là một nghệ thuật. Nó bao gồm trên thực tế toàn bộ “Văn hóa dân gian (nghệ thuật ngữ văn, âm nhạc, vũ đạo, hội họa, điêu khắc, nghệ thuật trang trí…) và những hiện tượng cũng như vật phẩm mang tính chất thẩm mỹ nảy sinh từ sản xuất và chiến đấu” [74:31]. Tri thức Tri thức là những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội [36].
“Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức, làm tái hiện tư tưởng con người, những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay hệ thống ký hiệu khác” [77]. Như vậy, tri thức là sự hiểu biết của con người trước mọi sự vật hiện tượng diễn ra xung quanh mình trong tự nhiên và xã hội. Tri thức là kết quả của quá trình lao động, sáng tạo được tích lũy, trải nghiệm từ trong thực tiễn của đời sống hàng ngày tạo nên kinh nghiệm phục vụ nhu cầu con người. Tri thức dân gian Tri thức dân gian (folk knowledge) trong nhiều trường hợp được xem là tri thức truyền thống của một tộc người, một nhóm cư dân, một khu vực, và có chung nội hàm với các thuật ngữ tri thức bản địa (Ingendious Knowledge), tri thức địa phương (local knowledge), tri thức truyền thống (Traditional knowledge) [54:12].
Tri thức dân gian (hay tri thức bản địa, tri thức địa phương) được hiểu theo nghĩa rộng. Đó là: “Các truyền thống lâu đời, kinh nghiệm, thực tiễn sống của một cộng đồng liên quan đến môi trường tự nhiên, xã hội, đời sống, tư duy của cộng đồng đó. Tri thức bản địa bao gồm các loại trí khôn, kinh nghiệm, phong tục, lề lối ứng xử, bài học của một cộng đồng. Tri thức bản địa được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, người này qua người khác, thông qua truyện kể, huyền thoại, văn học dân gian, các nghi lễ, lễ thức, tập quán, lề thói, quy định, luật tục…”.
Theo Ngô Đức Thịnh cho rằng: Tri thức dân gian là một tổng thể hóa các kinh nghiệm, những hiểu biết được loài người tích lũy qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm 18 thích nghi và thay đổi cùng với môi trường tự nhiên, xã hội theo cách có thể đem lại cho họ các lợi ích vật chất và tinh thần. Tri thức dân gian tồn tại và phát triển thông qua sự trải nghiệm lao động hàng ngày [56]. Nguyễn Ngọc Thanh đã tổng hợp các khái niệm về tri thức và cho rằng: “Tri thức dân gian giống như tri thức bản địa, tri thức địa phương, là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội được lưu truyền từ đời này qua đời khác, qua tự nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội [48]. Và tác giả Nguyễn Duy Thiệu cũng đưa ra khái niệm về tri thức dân gian, cho rằng: “Tri thức dân gian là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác” [52].
Như vậy, tri thức dân gian là toàn bộ hệ thống tri thức của một tộc người được hình thành trong quá trình lâu dài (là những kinh nghiệm tích lũy trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội). Tri thức dân gian được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng trí nhớ, thực hành và sự trải nghiệm thực tế xã hội. Từ các khái niệm trên về tri thức dân gian, tác giả cho rằng tri thức dân gian của người Việt ở tỉnh Vĩnh Long là tất cả những kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về tự nhiên và xã hội, được đúc kết lâu dài, được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ, qua truyền miệng, truyền nghề và thực hành xã hội.