CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN 1. Khái niệm khai thác thủy sản Có nhiều khái niệm về khai thác thủy sản: “Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác”, Luật Thủy sản Việt Nam, 2013. “Đánh bắt thủy sản hay khai thác thủy sản là một hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên”, Bài giảng Thủy sản đại cương, Nguyễn Văn Tư, Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
“Khai thác thủy sản là hoạt động của con người sử dụng các công cụ và nhiều phương pháp khác nhau để tác động tới đối tượng các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên khác nhau và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội về các sản phẩm hàng hóa thủy sản.”, Bài giảng Kinh tế Thủy sản, Dương Trí Thảo (2008), Đại học Nha Trang. Như vậy, khai thác thủy sản được hiểu là hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên động thực vật tự nhiên sống trong môi trường nước, nhằm cung cấp hàng hóa cho tiêu dùng và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Quá trình khai thác thủy sản cũng chính là quá trình tương tác giữa con người và tự nhiên vì mục đích của con người hay đây là hoạt động chủ quan của con người. Trong điều kiện các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên tồn tại vận động theo các qui luật tự nhiên.
Do vậy, nếu quá trinh khai thác này phù hợp với qui luật tự nhiên thì sẽ tác động tốt, còn không thì hậu quả sẽ khó lường. Trong khai thác thủy sản được phân thành 2 loại hình khai thác: khai thác ven bờ và khai thác xa bờ. Khai thác ven bờ hiện nay được tạm thời quy định là đánh cá ở vùng biển tính từ bờ biển (ngấn nước khi thuỷ triều thấp nhất) đến đường nối liền các điểm cách bờ biển 24 hải lý; được phân thành hai tuyến: tuyến bờ và tuyến lộng. 7 Khai thác xa bờ hiện nay được tạm thời quy định là đánh cá ở vùng biển tính từ đường cách bờ biển 24 hải lý đến giới hạn ngoài của vùng biển Việt Nam (hay còn gọi là tuyến khơi) và chỉ cho phép tàu có lắp máy chính công suất từ 90 sức ngựa trở lên, có đăng ký hành nghề đánh cá xa bờ tại địa phương nơi cư trú hoặc giấy phép hành nghề đánh cá xa bờ do cơ quan bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp.
Đồng thời tàu cá tuyến khơi không được hoạt động tại tuyến bờ và tuyến lộng. Nhưng hiện nay các qui định đã được thay thế bằng các văn bản khác về chính sách khuyến khích đầu tư tàu đánh bắt xa bờ. Đặc điểm khai thác thủy sản Trước đây, người ta thường coi khai thác thủy sản là một hoạt động thuộc ngành nông nghiệp bởi vì khai thác thủy sản có những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp nói chung như: tư liệu sản xuất, đối tượng lao động và kết quả sản xuất. Tuy nhiên, khai thác thủy sản là ngành công nghiệp đặc thù bởi nó có những đặc điểm sau: Quá trình sản xuất trong nông nghiệp bao giờ cũng gắn với tự nhiên và thời gian sản xuất tách rời thời gian lao động.
Trong khai thác thủy sản thì thời gian lao động và thời gian sản xuất trùng nhau. Đặc điểm này khẳng định ngành khai thác thủy sản là một bộ phận của ngành công nghiệp. Do đó, tổ chức sản xuất của ngành khai thác mang đặc trưng của tổ chức sản xuất công nghiệp. Tư liệu khai thác chủ yếu của khai thác thủy sản là mặt nước, đối tượng khai thác là các sinh vật biển, chúng là những tài nguyên sẵn có và kết quả khai thác là những sản phẩm sinh vật.
Đặc điểm này nói lên công nghiệp hải sản mang tính chất của công nghiệp khai thác tài nguyên, tuy nhiên đây là những tài nguyên có khả năng tái sinh và khả năng này ngày càng phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người trong việc tổ chức đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi. Do đó đòi hỏi phát triển ngành khai thác hải sản phải gắn chặt với việc bảo vệ nguồn lợi, tổ chức khai thác hợp lí các tài nguyên nguồn lợi thủy sản. Đối tượng của khai thác thủy sản là những sinh vật di động, không bị ràng buộc bởi sự phân chia địa giới hành chính, cường độ giao động trong ngành khai 8 thác thủy sản lớn và sản xuất trong điều kiện sóng gió nguy hiểm, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, ngư trường, mùa vụ. Ngành khai thác thủy sản bao gồm nhiều nghề.
Mỗi nghề khai thác một hoặc một số đối tượng nhất định, nhưng phần lớn đều được dùng làm thực phẩm cho người và chăn nuôi. Do đó, việc phát triển ngành khai thác thủy sản gắn với đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về thực phẩm cho xã hội. Tất cả những đặc điểm này gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết và mô hình kinh tế trong nghiên cứu, phân tích và đề ra các chính sách quản lí. Điều này đòi hỏi để nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản, cần phải dựa chủ yếu vào thành phần kinh tế tư nhân và tập thể, xây dựng và áp dụng mô hình quản lý thủy sản mang tính đặc thù, thích hợp với tập quán và truyền thống văn hóa của từng vùng, từng khu vực cư dân ven biển, phát triển mô hình quản lí nghề cá trên cơ sở cộng đồng hoặc đồng quản lí.
Vai trò khai thác thủy sản Khai thác thủy sản là một bộ phận cấu thành của ngành thủy sản, là một chuyên ngành hẹp sản xuất các nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản và cung cấp thực phẩm tươi sống cho thị trường tiêu thụ. Nó được coi là một ngành công nghiệp có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế và nền kinh tế của mỗi quốc gia. Ngành khai thác thủy sản là ngành sản xuất vật chất cơ bản để đảm bảo cho sự phát triển của các hệ thống kinh tế thủy sản, là nguồn xuất khẩu quan trọng. Trong nhiều năm liền, ngành khai thác thủy sản cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản, góp phần đưa ngành Thủy sản lên vị trí thứ 3, thứ 4 trong bản danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước và thuộc trong nhóm 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới.
Sản lượng khai thác thủy sản giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh thực phẩm trong nước, đáp ứng một phần nhu cầu xuất khẩu và tạo điều kiện cho ngành chế biến thủy sản phát triển lấy nguyên liệu từ khai thác. Cũng trong giai đoạn này, thủy sản cung cấp thực phẩm cho trên 80 triệu người dân Việt 9 Nam. Bình quân hàng năm thủy sản đáp ứng khoảng từ 39,31-42,86% tổng sản lượng thực phẩm góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh thực phẩm và dinh dưỡng quốc gia. Khai thác thủy sản góp phần đảm bảo an ninh chủ quyền trên biển của đất nước.
Những ngư dân hoạt động khai thác hải sản trên biển họ chính là những “công dân biển”, là những chủ nhân đích thực, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: "Biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ",họ hàng giờ cùng với các hoạt động đánh cá, đang gián tiếp tham gia tuần tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động trên biển, góp phần giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trên biển Đông, góp phần ngăn chặn, hạn chế những tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển Việt Nam. Công nghiệp khai thác thủy sản phát triển kéo theo sự ra đời và phát triển của ngành đóng tàu trên thế giới. Hoạt động khai thác thường đóng vai trò chính về kinh tế khu vực ven biển, mang lại nhiều lợi ích cho địa phương góp phần xóa đói giảm nghèo. Nhờ tăng trưởng, thủy sản đã đưa được 43 xã bãi ngang ven biển đặc biệt khó khăn ra khỏi danh sách các xã nghèo.
Khai thác thủy sản thúc đẩy phân công lao động ngày càng sâu sắc tạo điều kiện sử dụng hiệu quả tài nguyên, nguồn lợi cho sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa, nguyên liệu đáp ứng cho nhu cầu xã hội. Bình quân giai đoạn 2001-2011 thủy sản giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 150. Phương pháp và công cụ quản lý khai thác thủy sản Phương pháp quản lý khai thác thủy sản Trên thế giới, có thể thấy được có hai xu hướng quản lý nghề cá khác biệt rất rõ ràng. Các nước phương Tây tuân thủ một cơ chế “tiếp cận mở” hoặc “tiếp cận tự do” với nguồn lợi thủy sản, được hiểu là của tất cả mọi người.
Chính phủ quản lý nguồn lợi thủy sản theo phương pháp từ trên xuống, bằng cách lập ra nhiều quy định về nghề cá. Tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan tuân thủ cơ chế “tiếp cận giới 10 hạn” hay “tiếp cận đóng” đối với nguồn lợi thủy sản, tạo ra hệ thống quản lý dựa vào cộng đồng. Chính phủ ban, cấp ngư trường, nguồn lợi thủy sản cho lượng người giới hạn, bởi “quyền đánh cá” cho tổ chức ngư dân và giấy phép đánh cá giới hạn chỉ cho ngư dân. Tiếp cận mở được sử dụng với cách : tiếp cận mở hoàn toàn và tiếp cận mở có quy định.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy hệ thống tiếp cận nguồn lợi mở mà bất kỳ ai cũng có quyền khai thác có thể gây ra hiệu quả nghiêm trọng, nếu không kiểm soát sẽ dẫn đến tình trạng khai thác quá mức và làm giảm lợi nhuận của mọi người tham gia. Điều này đã xảy ra từ nghề khai thác quy mô nhỏ đến nghề khai thác quy mô lớn ở cấp độ quốc gia và quốc tế được gọi là “bi kịch tài sản chung”. Tiếp cận mở có quy định, cơ quan quản lý chỉ hạn chế tổng sản lượng khai thác mà không kiểm soát quy mô đội tàu, ngư dân sẽ coi sản lượng đánh bắt bị giới hạn bởi quỹ sản lượng dùng chung. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng “tranh đua khai thác” và “dồn vốn đầu tư” vào thuyền tốt hơn và nhiều ngư cụ khai thác tốt hơn., Hậu quả, mùa vụ khai thác sẽ bị rút ngắn lại, sản lượng kém chất lượng, thu hoạch vượt mức, chi phí tăng và gây tác hại về kinh tế xã hội.