CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM, BIÊN DỊCH VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU I. Về tình hình sưu tầm, biên dịch các tập truyện Ở Việt Nam, truyện cổ được ghi chép từ rất sớm trong các tác phẩm khởi đầu của nền văn học viết như: Báo cực truyện, Giao Chỉ ký, Ngoại sử ký (thế kỷ XII), Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh, Kiều Phú (thế kỷ XIV- XV),. Thế kỷ XIX và thời kì cận đại của thế kỉ XX, hoạt động sưu tầm, biên soạn truyện cổ càng được nhiều người chú ý, trong đó, có thể kể đến các công trình như: Chuyện khôi hài (1882), Chuyện đời xưa (1886) của Trương Vĩnh Ký, Chuyện giải buồn (1880: tập 1, 1885: tập 2) của Huỳnh Tịnh Của, Nam Hải dị nhân (1920) của Phan Kế Bính,… Liên quan đến đề tài nghiên cứu, tập truyện đầu tiên xuất hiện truyện kể của kiểu truyện này là tập Truyện cổ nước Nam (1932 – 1934) của Nguyễn Văn Ngọc.
Trên cơ sở nhận thức rằng: “trong khoa văn học dân gian, việc sưu tầm và chỉnh lý tư liệu phải được coi là tiền đề hay cơ sở” [148, tr. 217] nên sau Cách mạng tháng Tám (1945) hoạt động sưu tầm, biên soạn mới bắt đầu trở thành một hoạt động mang tính khoa học và thành một ngành khoa học độc lập. Từ giai đoạn này, bên cạnh các công trình sưu tầm truyện cổ người Việt, còn có các tuyển tập truyện cổ của các dân tộc anh em như: Truyện cổ tích miền núi (1958), Truyện cổ Tây nguyên (1961), Truyện cổ dân tộc Mèo (1963), Truyện cổ Việt Bắc (1963),… Một số công trình xuất hiện nhiều truyện kể của kiểu truyện đang khảo sát như: Truyện cổ Xê Đăng, Truyện cổ Cà Tu, Truyện cổ Mạ, Truyện cổ Cơ Ho, Truyện cổ Khơ me Nam Bộ, Truyện cổ dân gian Chăm, Truyện cổ Ê Đê, Truyện cổ M’nông, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn Tây Nguyên, Truyện cổ các dân tộc Việt Nam,… Gần đây, các nhà nghiên cứu có xu hướng tổng hợp thành các tổng tập như Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (4 tập, 6 quyển), Tổng tập Văn 11 học dân gian người Việt (19 tập, 20 quyển) và bộ Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (23 tập). Xin điểm qua một số công trình tiêu biểu: - Công trình Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam, gồm 4 tập do tổ Văn học các dân tộc thuộc Viện Văn học chỉnh lý, biên soạn và xuất bản trong những năm 1963 – 1967.
Đây là cột mốc quan trọng trong việc sưu tầm biên soạn truyện cổ dân gian. Tuyển tập này tập hợp 234 truyện của hơn 30 dân tộc anh em. - Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam, gồm 2 tập. Công trình tập hợp 97 truyện của 20 dân tộc ít người ở miền Nam nước ta, do Hà Văn Thư, Võ Quang Nhơn và Y Điêng biên soạn.
- Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập) do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, biên soạn, khảo dị, giới thiệu 200 truyện của dân tộc Kinh (Việt). Công trình được Nxb Văn Sử Địa, Nxb Sử học, Nxb KHXH xuất bản từ năm 1958 đến năm 1985. Năm 1993, viện Văn học xuất bản công trình này trọn bộ 5 tập; năm 2000, Nxb Giáo dục gộp lại thành 2 tập và cho tái bản. - Từ năm 2002 - 2007, lần lượt các tập của bộ Tổng tập Văn học dân gian người Việt (19 tập, 20 quyển) đã hoàn thành việc công bố - trong đó chúng tôi chú ý tập 6, tập 7 - truyện cổ tích (do Nguyễn Thị Huế chủ biên).
Đây là bộ tổng tập được biên soạn dựa theo cách phân loại cốt truyện theo tiểu loại (cổ tích thần kỳ, cổ tích loài vật và cổ tích sinh hoạt). Bên cạnh bản chính, tác giả còn tập hợp, giới thiệu các bản khác có cùng cốt truyện của người Việt hoặc của các dân tộc thiểu số để so sánh, đối chiếu. - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp Viện Nghiên cứu Văn hóa tiến hành biên soạn và xuất bản bộ Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (23 tập) – trong đó, chúng tôi chú ý đến tập 14 – truyện cổ tích do Nguyễn Thị Yên chủ biên. Công trình này giới thiệu diện mạo văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam theo từng thể loại.
Bên cạnh tính quy mô, công trình còn có điểm mới là: các bản kể được xuất bản dưới hình thức song ngữ (chữ dân tộc hoặc phiên âm tiếng dân tộc). Tuy bắt đầu muộn hơn nhưng từ những năm 60 của thế kỷ trước, công tác biên dịch truyện cổ cũng bắt đầu được chú ý. Liên quan đến đề tài nghiên cứu, bản dịch sớm nhất là Truyện dân gian Lào (1962), kế đến là các tập truyện như Truyện dân gian Trung Quốc (1963), Truyện cổ Cao Miên (1968),… Từ những năm 80 - 90, công việc biên dịch 12 càng được chú ý, đẩy mạnh. Có hàng trăm tập truyện, tuyển tập truyện dân gian nước ngoài được chuyển dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, trong đó, một số công trình có liên quan đến đề tài như: Truyện cổ Grim, Truyện cổ dân gian Bêlôrútxia, Truyện dân gian Nga, Truyện dân gian Ukraina, Truyện cổ dân gian Ấn Độ, Truyện cổ Hàn Quốc, Truyện kể dân gian châu Phi, Truyện cổ Campuchia, Truyện cổ Mã Lai, Truyện cổ Inđônêxia,… Nói về việc biên dịch, biên soạn không thể không nhắc đến Ngô Văn Doanh.
Ông đã có rất nhiều công trình về truyện dân gian các nước, các châu lục khác nhau, trong số đó, phải kể đến bộ tuyển tập Truyện cổ năm châu, tuyển tập Kho tàng truyện cổ thế giới cũng như tuyển tập về các nước trong khu vực Đông Nam Á. Đây là kho tư liệu rất quý giúp cho các nhà nghiên cứu Việt Nam dễ dàng tiếp cận với kho truyện kể của các nước. Gần đây, một số tác giả đã biên soạn, tuyển chọn truyện kể theo đề tài, theo nhân vật. Chúng tôi quan tâm đến các tập truyện như Truyện cổ tích về các loài vật của Phạm Thu Yến, Truyện cổ tích về loài vật của Lan Anh, của Lê Châu, Truyện cổ về các loài vật của Thúy Quỳnh, Truyện kể về những con vật thông minh của Sơn Khê, Truyện kể về các loài vật của Thu Lan,.
Như vậy, có thể khẳng định rằng tình hình sưu tập, biên dịch truyện dân gian luôn được các nhà nghiên cứu folklore Việt Nam quan tâm, chú ý. Nhờ vậy, nó đã giúp cho người viết có được những cốt truyện cùng các bản kể về kiểu truyện để khảo sát và nghiên cứu. Điểm qua các công trình trên có thể thấy rằng, phần lớn các tập truyện, tuyển tập được biên dịch là truyện dân gian của các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa trước đây, các nước trong khu vực Đông Nam Á - khối Asean, các nước gần gũi với Việt Nam về mặt địa lý và các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi vì tình hữu nghị của các nước dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau – mà một trong những điều cần biết đầu tiên đó là vốn quý của dân tộc: kho tàng văn hóa dân gian.
Về tình hình nghiên cứu Theo Chu Xuân Diên, năm 1865, O. Mile là người đầu tiên xem truyện loài vật như một tiểu loại. Trong cách phân loại này, “truyện cổ tích thần kỳ”, “truyện cổ tích động vật” và “truyện cổ tích sinh hoạt” đã được xác định như ba thể loại cơ bản [21, tr. Giới thiệu về tiểu loại này, Từ điển Văn học – bộ củ, cho rằng “Truyện cổ tích loài vật có sự kết hợp những điều quan sát hiện thực về các con vật với trí tưởng tượng nhân cách hóa giới tự nhiên.
Ở nhiều nước, tính chất cổ xưa của truyện loài vật đã bị pha 13 trộn với khuynh hướng của người đời sau, mượn truyện loài vật để nói về xã hội loài người. Do đó giữa loại truyện này với truyện ngụ ngôn có những trường hợp không có sự phân biệt thật rạch ròi” [125, tr. Hiện nay, các nhà nghiên cứu folklore đều thống nhất cho rằng, truyện cổ tích loài vật thường có 3 lớp chính [149, tr. 115 - 119]: - Lớp truyện hình thành sớm nhất là những truyện vật tổ gắn với tín ngưỡng, tô tem giáo của người nguyên thủy.
Lớp truyện này còn bảo lưu khá nhiều trong các dân tộc còn ở trình độ phát triển bán khai; - Lớp truyện phản ánh đặc điểm của loài vật. Qua đặc tính đó, người ta muốn truyền lại cho nhau những tri thức về thế giới tự nhiên nhằm chinh phục nó, sử dụng nó phục vụ cho đời sống con người; - Lớp truyện đồ chiếu quan hệ xã hội loài người vào quan hệ của các con vật. Lớp truyện này có xu hướng ngụ ngôn hóa. Tuy được biết đến như một tiểu loại từ sớm nhưng truyện loài vật nói chung, kiểu truyện con vật tinh ranh nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ.
Thực trạng này đã được V. Propp chỉ ra, khi ông cho rằng tiểu loại truyện cổ tích loài vật ở Nga và các nước phương Tây “chưa từng được coi là đối tượng nghiên cứu” [210, tr. Ở Việt Nam, vào những năm 90 của thế kỷ trước, Hoàng Tiến Tựu cũng nhận định: “Bộ phận truyện kể về loài vật chưa được chú ý sưu tầm nghiên cứu, nhất là nghiên cứu chuyên sâu” [186, tr. Năm 2002, Phạm Thu Yến cũng nhận thấy thực trạng đó.
Nhà nghiên cứu cho rằng: “việc nghiên cứu đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thể loại này chưa được đầu tư đúng mức” [200, tr. Đến nay, tình hình nghiên cứu tiểu loại cũng như kiểu truyện con vật tinh ranh vẫn chưa được cải thiện là bao. Tuy thế, đây đó đã có một số bài viết nghiên cứu về một vấn đề nào đó của kiểu truyện hoặc một vài ý kiến nhận xét, đánh giá với mục đích minh họa cho các công trình nghiên cứu về những kiểu truyện khác, những vấn đề khác. Chúng tôi điểm qua một số bài viết đó.
Bảng chỉ dẫn về các kiểu truyện [203] của Anti Aarne và Stith Thompson chia truyện kể thành 5 cụm lớn: Truyện cổ tích động vật, Những truyện kể thông thường, Truyện cười và giai thoại, Truyện kể theo công thức và Những truyện còn lại chưa phân loại.