Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn Kiểu truyện con vật tinh ranh trong truyện dân gian Việt Nam và thế giới do nghiên cứu sinh Đặng Quốc Minh Dương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Văn học dân gian, mã số: 62 22 36 01, bảo vệ năm 2014).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Xuất phát từ nguyên lý sáng tác truyền miệng, truyện dân gian luôn vận hành theo các công thức nghệ thuật ổn định. Nhà nghiên cứu B. Putilov từng xác định "tính lặp lại" là đặc tính nổi bật của văn học dân gian, tạo tiền đề cho khuynh hướng nghiên cứu truyện kể theo kiểu truyện (type) từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong kho tàng truyện dân gian thế giới và Việt Nam, kiểu truyện con vật tinh ranh là một hiện tượng phổ biến, nơi nhân vật chính là loài vật nhỏ bé dùng mưu mẹo, mánh lới để chế ngự đối thủ to lớn hoặc giúp đỡ các nhân vật khác. Đây là kiểu truyện mang tính duy lý nổi trội song hành cùng các giá trị thẩm mỹ và nhân văn. Tuy nhiên, theo đánh giá của các học giả như V. Propp, Hoàng Tiến Tựu và Phạm Thu Yến, tiểu loại truyện loài vật nói chung và kiểu truyện con vật tinh ranh nói riêng vẫn chưa được sưu tầm và nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ. Phần lớn các tài liệu trước đây chỉ dừng lại ở các bài viết ngắn, mang tính gợi mở hoặc đóng vai trò minh họa cho các đề tài khác. Ngoài ra, trên bản đồ folklore quốc tế, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam vẫn là "một khu vực rộng lớn để trắng", chưa được định vị hệ thống theo các bảng tra cứu quốc tế.
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận án được tác giả xác định và đánh số cụ thể gồm ba nội dung:
- 0.1: Khảo sát một cách hệ thống về kiểu truyện con vật tinh ranh ở Việt Nam và thế giới nhằm xác định sự phân bố, chứng minh tính phổ biến toàn cầu, đồng thời nhận diện diện mạo và đặc trưng thể loại của kiểu truyện này.
- 0.2: Nghiên cứu kết cấu, nhân vật, hệ thống motif để làm rõ đặc trưng nghệ thuật của kiểu truyện; mở rộng so sánh để phát hiện những nét tương đồng và dị biệt trong phương thức xây dựng nhân vật, kết cấu và motif giữa Việt Nam với các quốc gia, khu vực và châu lục.
- 0.3: Tiến hành đối chiếu kiểu truyện với Bảng tra cứu A – T (Aarne – Thompson) nhằm khẳng định khả năng ứng dụng của bảng tra cứu, đồng thời bổ sung các type truyện của Việt Nam và các khu vực mà công trình quốc tế này chưa bao quát đến.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các truyện kể dân gian đáp ứng đồng thời hai tiêu chí: nhân vật trung tâm là loài vật và con vật này mang đặc điểm tính cách tinh ranh. Tác giả loại trừ những truyện loài vật không có tính cách tinh ranh hoặc những truyện có nhân vật tinh ranh là con người.
- Phạm vi tư liệu: Luận án tiến hành thống kê và khảo sát trên nguồn tư liệu gồm 103 tuyển tập truyện kể dân gian xuất bản bằng tiếng Việt (bao gồm 32 tập truyện của Việt Nam và 71 tập truyện của các nước, các châu lục). Tổng số văn bản được tập hợp và xử lý là 512 truyện. Về mặt địa bàn, nguồn truyện dân tộc thiểu số tại Việt Nam được khai thác qua các bản dịch sang tiếng phổ thông, còn truyện cổ các nước được tiếp cận qua các bản dịch tiếng Việt.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây:
Về tình hình sưu tầm và biên dịch:
- Tại Việt Nam, việc ghi chép truyện dân gian xuất hiện từ các tác phẩm Hán văn cổ (Báo cực truyện, Giao Chỉ ký, Ngoại sử ký, Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh và Kiều Phú). Thời cận đại có các công trình của Trương Vĩnh Ký (Chuyện khôi hài, Chuyện đời xưa), Huỳnh Tịnh Của (Chuyện giải buồn), Phan Kế Bính (Nam Hải dị nhân). Văn bản đầu tiên ghi nhận truyện thuộc kiểu con vật tinh ranh là tập Truyện cổ nước Nam (1932 – 1934) của Nguyễn Văn Ngọc. Sau năm 1945, hoạt động sưu tầm dân gian chuyển biến thành một ngành khoa học độc lập với các công trình quy mô: Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (4 tập, 1963 – 1967), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập, 1958 – 1985) của Nguyễn Đổng Chi, Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam (2 tập) của Hà Văn Thư, Võ Quang Nhơn và Y Điêng; các bộ tổng tập lớn như Tổng tập Văn học dân gian người Việt (tập 6, 7 do Nguyễn Thị Huế chủ biên) và Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (tập 14 do Nguyễn Thị Yên chủ biên).
- Về công tác dịch thuật truyện nước ngoài tại Việt Nam, các bản dịch xuất hiện từ thập niên 1960 (Truyện dân gian Lào năm 1962, Truyện dân gian Trung Quốc năm 1963, Truyện cổ Cao Miên năm 1968) và phát triển mạnh từ thập niên 1980 – 1990 với truyện cổ Grimm, truyện dân gian Nga, Ukraina, Bêlôrútxia, Ấn Độ, Hàn Quốc, châu Phi cùng các tuyển tập của Ngô Văn Doanh (Truyện cổ năm châu, Kho tàng truyện cổ thế giới). Tiếp đó là các tập truyện chọn lọc theo chủ đề loài vật của Phạm Thu Yến, Lan Anh, Lê Châu, Thúy Quỳnh, Sơn Khê, Thu Lan.
Về tình hình nghiên cứu lý luận:
- Trên thế giới: O. Mile (1865) lần đầu xếp truyện loài vật thành một tiểu loại độc lập; Antti Aarne và Stith Thompson xây dựng Bảng chỉ dẫn về các kiểu truyện (Bảng tra cứu A – T), phân chia truyện loài vật từ số 1 đến 299, trong đó nhóm "con vật thông minh" (the clever animal) chiếm các mã số từ 1 đến 69; Stith Thompson xuất bản 6 tập Mục lục các motif của văn học dân gian với chương K (Deceptions - mưu mẹo, lừa dối) gồm hơn 2300 motif; Denise Paulme nghiên cứu cấu trúc phân loại truyện kẻ ranh mãnh ở châu Phi; Claude Bremond công bố nghiên cứu về các nguyên tắc tra cứu mưu mẹo và chiến lược bảo vệ; E. Kotlyar khảo cứu truyện kẻ láu cá ở châu Phi; A. Novikova phân tích tính hai mặt của nhân vật con cáo trong truyện dân gian Nga; V. Propp dành chương VI tác phẩm Truyện cổ tích để khảo sát truyện loài vật; Alan Dundes so sánh các khái niệm "trompeur" và "trickster" giữa châu Phi và châu Mỹ.
- Tại Việt Nam: Chu Xuân Diên xác định truyện cổ tích loài vật là một tiểu loại từ năm 1984; Võ Quang Nhơn điều chỉnh mô hình phân loại truyện cổ tích các dân tộc thiểu số; giáo trình của Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (1990), Hoàng Tiến Tựu (1990) định vị tiểu loại truyện loài vật; Lê Trường Phát phân tích nhân vật con thỏ tinh khôn; Phạm Thu Yến (2002) chỉ ra sự thiếu hụt các công trình chuyên sâu về truyện loài vật; Nguyễn Tấn Đắc tiếp cận truyện dân gian qua type và motif; Đỗ Bình Trị vận dụng hình thái học của V. Propp; Đặng Quốc Minh Dương từng thực hiện luận văn thạc sĩ Kiểu truyện con thỏ tinh ranh trong truyện cổ Việt Nam (2005) dưới sự hướng dẫn của Chu Xuân Diên.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và hệ thống kiểu truyện con vật tinh ranh trên cả hai bình diện văn học dân gian Việt Nam và thế giới. Luận án giải quyết khoảng trống về việc xác lập cấu trúc tổng thể và bộ phận của kiểu truyện (từ tên gọi, cách mở đầu, kết thúc, các mô hình kết cấu đến hệ thống nhân vật và motif), đồng thời trực tiếp đối chiếu 512 truyện khảo sát với Bảng tra cứu A – T nhằm xác định những type tương thích và các type chưa được hệ thống hóa quốc tế ghi nhận.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ:
- Khái niệm "tinh ranh": Tác giả điểm lại các định danh của giới nghiên cứu như "the clever animal" (Aarne), "deceptions" (Thompson), "láu cá" (Kotlyar), "trompeur" và "trickster" (Dundes), "ruse" (Bremond), "décepteur" (Paulme), "thông minh", "tinh khôn", "gian giảo" (các học giả Việt Nam). Luận án lựa chọn thuật ngữ "tinh ranh" vì theo Từ điển tiếng Việt, từ này biểu thị sự "ranh mãnh và khôn ngoan". Nó bao hàm tính hai mặt của nhân vật: vừa có nét ranh mãnh, tinh quái (thuộc sắc thái phê phán), vừa có sự khôn ngoan, mưu trí (thuộc sắc thái ngợi khen), phản ánh bản chất phức hợp của nhân vật dân gian.
- Kết cấu truyện kể dân gian: Tiếp cận kết cấu như một chỉnh thể tổ chức nghệ thuật mang tính tuyến tính, đơn tuyến do đặc trưng truyền miệng chi phối; các sự kiện và motif được nén chặt về dung lượng thông tin.
- Nhân vật truyện kể dân gian: Nhận diện nhân vật theo tính chất nhân vật chức năng, có đặc điểm ổn định từ đầu đến cuối, không bộc lộ đời sống nội tâm phức tạp mà chủ yếu tồn tại và biểu đạt ý nghĩa thông qua hành động.
- Motif và Kiểu truyện (Type): Luận án sử dụng khái niệm motif theo định nghĩa của Nguyễn Tấn Đắc và Từ điển thuật ngữ Văn học (đơn vị cấu tạo cốt truyện bền vững, ổn định, có thể tách rời và lắp ghép). Khái niệm type được xác định theo định nghĩa của A. Aarne và S. Thompson (những cốt kể có khả năng tồn tại độc lập trong kho tàng văn học truyền miệng).
- Bảng tra cứu A – T: Sử dụng công trình phân loại quốc tế The Types of the Folktale để làm hệ quy chiếu đối chiếu loại hình học.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận án kết hợp 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp thống kê - phân loại: Thu thập số liệu, định lượng sự phân bố truyện kể theo vùng lãnh thổ, thống kê tần số xuất hiện của các con vật và phân loại các nhóm kết cấu, tên gọi.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thẩm định chi tiết nội dung, hành động nhân vật, tình huống truyện và các motif để khái quát đặc trưng loại hình.
- Phương pháp so sánh - loại hình: Đối chiếu diện mạo kiểu truyện giữa các dân tộc, quốc gia, châu lục để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt về văn hóa, xã hội và lịch sử.
- Phương pháp lịch sử - địa lý: Áp dụng để phân tích cấu trúc của type và motif, mô tả mô hình kết cấu mà không nhằm mục đích truy tìm nguồn gốc phát sinh địa lý ban đầu.
- Phương pháp mô hình hóa: Chuyển đổi các kết quả phân tích về kết cấu, cách đặt tên thành các sơ đồ và công thức hóa nhằm tăng tính trực quan khoa học.
Nguồn tư liệu khảo sát:
Tư liệu gồm 512 văn bản truyện cổ được tuyển chọn từ 103 tập truyện và tổng tập truyện dân gian trong nước và quốc tế đã ấn hành bằng tiếng Việt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử sưu tầm, biên dịch và nghiên cứu văn học dân gian liên quan đến kiểu truyện con vật tinh ranh ở Việt Nam và thế giới; đồng thời xác lập cơ sở khái niệm công cụ và tiến hành phân tích sự phân bố, phân loại kho tàng truyện khảo sát.
Về phân bố địa lý, trong số 512 truyện thu thập được, kiểu truyện con vật tinh ranh xuất hiện ở khắp 5 châu lục với tỷ lệ có sự chênh lệch rõ rệt.
| Châu lục |
Số lượng truyện |
Tỷ lệ (%) |
| Châu Á |
333 |
65% |
| Châu Âu |
77 |
15% |
| Châu Phi |
73 |
14% |
| Châu Mỹ |
19 |
4% |
| Châu Úc và châu Đại Dương (CU&CĐD) |
10 |
2% |
| Tổng cộng |
512 |
100% |
Tại Việt Nam, luận án tập hợp được 144 truyện (chiếm 43% số truyện châu Á và 28% tổng số truyện khảo sát toàn cầu). Truyện phân bố tập trung ở các tộc người thuộc ngữ hệ Môn – Khơ me và Nam Đảo cư trú chủ yếu tại khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long:
| Dân tộc tại Việt Nam |
Số lượng truyện ghi nhận |
| Khơ me |
26 |
| Mạ |
20 |
| Ê Đê |
15 |
| Cơ Ho |
12 |
| Chăm |
11 |
| Kinh |
11 |
| Mơ Nông |
9 |
| Xê Đăng |
8 |
Về mặt lý thuyết phân loại, tác giả phân tích quan điểm của V. Propp về hai dạng truyện loài vật (dạng hoàn chỉnh có kết cấu thắt nút - cao trào - mở nút và dạng tương liên phản ánh các type truyện na ná nhau); đồng thời giới thiệu hệ thống mã hóa của Denise Paulme đối với truyện kẻ ranh mãnh châu Phi dựa trên tương quan mưu mẹo và kết quả (A+, A-, D+, D-, Ao, Do).
Chương 2: Kết cấu của kiểu truyện con vật tinh ranh
Chương 2 đi sâu khảo sát hình thức cấu tạo tác phẩm, bao gồm cách đặt tên truyện, phương thức mở đầu, kết thúc và mô hình kết cấu của 4 nhóm truyện chức năng.
Về tên gọi, khảo sát 512 truyện cho thấy các tác giả dân gian sử dụng 5 phương thức đặt tên chính:
- Đặt tên theo mối quan hệ của các nhân vật: chiếm 5%.
- Đặt tên theo công việc mà nhân vật tinh ranh thực hiện: chiếm 5%.
- Đặt tên theo tính cách của nhân vật: chiếm 7%.
- Đặt tên theo kiểu giải thích nguyên nhân (suy nguyên): chiếm 11% (38 truyện). Dạng này phổ biến ở châu Phi, châu Mỹ, châu Đại Dương gắn liền với tư duy nguyên hợp giải thích tập tính, đặc điểm cơ thể loài vật.
- Đặt tên theo tên nhân vật tinh ranh: chiếm 26% (24 truyện dùng tên riêng hoặc tên loài cụ thể).
- Các cách gọi tên khác: chiếm 46%.
Về cách mở đầu, kiểu truyện sử dụng công thức thời gian phiếm chỉ ("ngày xửa ngày xưa", "thuở xưa") nhằm kiến tạo "trường cổ tích", ly gián người tiếp nhận khỏi thực tại. Một số khu vực có lối mở đầu mang âm hưởng thần thoại nguyên thủy (châu Mỹ, châu Đại Dương với "thuở ban đầu", thời kỳ con người và loài vật hiểu tiếng nhau). Đặc biệt, truyện dân gian châu Phi có phương thức mở đầu đặc thù bằng việc thông báo "nạn đói lớn". Đây không đơn thuần là bối cảnh thời gian mà là sự kiện đầu mối, thắt nút xung đột xuất phát từ thực tế khắc nghiệt của môi trường sa mạc Sahara. Không gian nghệ thuật chủ yếu là rừng già, rừng sâu đóng vai trò vật chướng ngại và sàn diễn mưu trí.
Về kết cấu các nhóm truyện, luận án phân chia thành 4 nhóm chính:
- Nhóm truyện tự vệ (168/512 truyện, chiếm 33%): Mô hình phổ biến là nhân vật tinh ranh bị đối thủ to lớn, hung dữ đe dọa hoặc rơi vào tình huống nguy cấp, sau đó vận dụng trí khôn để bảo toàn mạng sống. Dẫn dụng lý thuyết của C. Bremond, luận án phân lập 3 chiến lược tự vệ: làm cho đối thủ từ bỏ ý định tấn công (dissuasion), loại trừ/tiêu diệt đối thủ (contre-agression), hoặc thoát khỏi tầm tấn công của đối thủ (esquive).
- Nhóm truyện thủ lợi (149/512 truyện, chiếm 29%): Nhân vật tinh ranh chủ động dùng mưu để đoạt miếng ăn, của cải hoặc vị thế. Nhóm này gồm 4 dạng kết cấu cụ thể:
| Dạng kết cấu thủ lợi |
Tình huống xuất phát |
Diễn tiến và kết quả |
| Xác định chủ sở hữu |
Quyền lợi hoặc miếng mồi chưa xác định chủ sở hữu |
Thi tài hoặc cam kết; con vật tinh ranh thắng cuộc và giành quyền sở hữu |
| Giành giật quyền sở hữu |
Miếng mồi thuộc quyền sở hữu của đối thủ hoặc sở hữu chung |
Con vật tinh ranh dùng mưu kế tước đoạt miếng mồi từ tay kẻ mạnh |
| Hợp tác... bất công |
Hai bên thỏa thuận hợp tác canh tác nông nghiệp |
Con vật tinh ranh nắm quyền chọn loại cây; đối thủ luôn nhận phần không ăn được (gốc/ngọn) |
| Tái lập quyền sở hữu |
Con vật tinh ranh bị cướp mất tài sản |
Dùng mưu mẹo đoạt lại vật sở hữu (có trường hợp ngoại lệ ở châu Phi: nhện Ananxi tham lam bị thất bại trước gia đình) |
- Nhóm truyện chơi khăm: Nhân vật tinh ranh chủ động bày trò chọc phá, quấy rối đối thủ nhằm mục đích bỡn cợt hoặc trừng phạt kẻ xấu mà không thuần túy vì mục tiêu sinh tồn.
- Nhóm truyện trợ thủ: Con vật tinh ranh giữ vai trò trọng tài xử kiện, phân giải tranh chấp hoặc đứng ra hỗ trợ các loài vật yếu thế khác.
Chương 3: Nhân vật của kiểu truyện con vật tinh ranh
Chương 3 khảo sát hệ thống nhân vật trong kiểu truyện theo nguyên tắc nhân vật chức năng, chia thành 4 tuyến nhân vật chính:
- Nhân vật tinh ranh: Là trung tâm của cốt truyện, mang kích thước nhỏ bé nhưng sở hữu sự mưu trí, lanh lợi. Tính cách nhân vật mang tính hai mặt: vừa đáng khâm phục bởi sự tài trí, nhanh nhạy, vừa mang nét tiêu cực như lừa lọc, vụ lợi, tàn nhẫn (điển hình như hình tượng con cáo trong truyện Nga, con thỏ ở Đông Nam Á, nhện Ananxi ở châu Phi, hoẵng/can-chi ở Mã Lai - Inđônêxia).
- Nhân vật đối thủ: Thường là những con vật ăn thịt to lớn, hung dữ, nắm giữ sức mạnh cơ bắp và quyền lực (hổ, sư tử, sói, gấu, voi, cá sấu). Điểm chung của tuyến nhân vật này là nóng nảy, kiêu ngạo, cả tin và thiếu khả năng phán đoán ("hữu dũng vô mưu"), đóng vai trò tạo lực đẩy cho mưu kế của con vật tinh ranh phát huy tác dụng.
- Nhân vật nạn nhân: Là những đối tượng bị con vật tinh ranh lừa gạt tước đoạt tài sản, biến thành phương tiện phục vụ cho mục đích tự vệ hoặc thủ lợi của nhân vật trung tâm.
- Nhân vật trợ thủ tư tế: Xuất hiện đặc thù trong các truyện dân gian châu Phi, can thiệp vào các tình huống con vật tinh ranh vượt quá giới hạn đạo đức cộng đồng để khôi phục trật tự xã hội.
Chương 4: Một số motif thường gặp trong kiểu truyện con vật tinh ranh
Chương 4 khảo cứu 9 motif nghệ thuật cốt lõi tham gia kiến tạo cốt truyện của kiểu truyện:
- Motif suy nguyên: Giải thích nguồn gốc hình thể, tập tính sinh học của các loài động vật sau các cuộc đối đầu mưu mẹo.
- Motif thi tài: Các cuộc chạy đua, thi nhảy hoặc đọ sức giữa con vật nhỏ bé và đối thủ to lớn, phần thắng thuộc về kẻ biết dùng mưu lừa.
- Motif xử kiện: Nhân vật tinh ranh đóng vai trò quan tòa phân xử các vụ việc tranh chấp giữa các loài vật hoặc giữa người và vật.
- Motif hoãn binh: Kế sách kéo dài thời gian khi bị bắt giữ nhằm tìm kiếm cơ hội tẩu thoát (xin đi tắm, giả vờ chết, xưng tội).
- Motif giả mạo: Giả mạo thân phận vua chúa, sứ giả thượng đế hoặc làm sai lệch nhận thức của đối phương về sự vật xung quanh.
- Motif xui bẩy: Kích động đối thủ thực hiện các hành động nguy hiểm hoặc tự hủy hoại (xui nhúng đuôi vào băng câu cá, xui nhảy xuống giếng bắt bóng).
- Motif sự bắt chước: Nhân vật đối thủ bắt chước hành động của con vật tinh ranh nhưng thất bại thảm hại do không hiểu bản chất sự việc.
- Motif vi phạm điều ngăn cấm: Hành vi phá vỡ các cam kết hoặc điều cấm kỵ dẫn đến xung đột hoặc trừng phạt.
- Motif trao đổi: Quá trình trao đổi vật phẩm theo hướng nâng dần giá trị qua các mánh lới khôn khéo.
Chương 5: Kiểu truyện con vật tinh ranh và Bảng tra cứu A – T
Chương 5 vận dụng phương pháp so sánh đối chiếu hệ thống 512 truyện kể khảo sát với Bảng tra cứu type truyện dân gian quốc tế Aarne – Thompson:
- Các type truyện tương thích: Luận án xác lập danh mục các truyện dân gian Việt Nam và thế giới có cấu trúc trùng khớp với các mã số type từ 1 đến 299 trong Bảng tra cứu A – T (đặc biệt là tiểu nhóm con vật thông minh từ mã 1 đến 69).
- Các type truyện không có sự tương thích: Tác giả chỉ ra nhiều cốt truyện đặc sắc của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á (như chùm truyện thỏ lừa hổ, thỏ xử kiện) không tìm thấy vị trí tương ứng trong A – T. Luận án tổng hợp bảng đối chiếu type tương thích và không tương thích của các châu lục tại Bảng 4.1 (trang 144 của văn bản), minh chứng cho sự cần thiết phải mở rộng vùng phủ sóng folklore của khu vực Đông Nam Á.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về kiểu truyện con vật tinh ranh trên cả phương diện truyện dân gian Việt Nam và truyện dân gian thế giới. Kết quả nghiên cứu xác lập một cái nhìn cơ bản, đa diện về diện mạo, kết cấu và thi pháp của kiểu truyện, tạo tiền đề khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về tiểu loại truyện cổ tích loài vật.
- Luận án làm rõ tính hai mặt trong bản chất của nhân vật tinh ranh thông qua việc xác lập thuật ngữ "tinh ranh", đồng thời phân loại chi tiết các mô hình kết cấu chức năng (tự vệ, thủ lợi, chơi khăm, trợ thủ) và 9 motif phổ biến.
- Qua việc đối chiếu, so sánh giữa các châu lục, luận án phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa sự hình thành các biểu tượng loài vật với các yếu tố địa lý - văn hóa - lịch sử (như motif nạn đói ở châu Phi, hình tượng con thỏ ở ngữ hệ Môn - Khơ me và Nam Đảo, hình tượng con cáo ở châu Âu).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Luận án cung cấp hệ thống dẫn liệu thực chứng và đề xuất bổ sung các type truyện dân gian Việt Nam và Đông Nam Á vào hệ thống tra cứu quốc tế, khắc phục tình trạng "khu vực rộng lớn để trắng" trên bản đồ folklore thế giới.
- Dữ liệu khảo sát và các mô hình type, motif trong luận án là cơ sở trực tiếp phục vụ cho giới nghiên cứu folklore Việt Nam triển khai biên soạn Bảng chỉ dẫn về hệ thống type và motif truyện dân gian Việt Nam hoàn chỉnh trong tương lai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Do rào cản về mặt ngôn ngữ và điều kiện tư liệu, luận án chủ yếu khảo cứu nguồn tư liệu gồm 512 truyện từ 103 tuyển tập đã được biên dịch sang tiếng Việt và tiếng phổ thông. Tác giả thẳng thắn thừa nhận con số này chưa thể bao quát toàn bộ kho tàng truyện cổ dân gian thực tế của tất cả các dân tộc tại Việt Nam cũng như mọi quốc gia trên thế giới.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nguồn văn bản bằng cách tiếp cận trực tiếp các nguồn truyện nguyên ngữ của các dân tộc thiểu số chưa qua dịch thuật và các văn bản folklore quốc tế chưa được xuất bản tại Việt Nam.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng các phiên bản tra cứu quốc tế cập nhật để tiếp tục hoàn thiện bảng chỉ dẫn type và motif chuyên biệt cho truyện kể loài vật tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhóm đối tượng học thuật:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Nhân học: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận thi pháp học cấu trúc, phương pháp nghiên cứu truyện kể theo type và motif, cùng các thao tác mô hình hóa kết cấu tự sự dân gian.
- Giảng viên đại học, cao đẳng: Cung cấp tư liệu dẫn chứng cụ thể, đa văn hóa để phục vụ giảng dạy các chuyên đề về truyện loài vật, thi pháp văn học dân gian và văn học so sánh.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và cơ quan biên soạn từ điển, bảng tra cứu: Phần đối chiếu Bảng tra cứu A – T tại Chương 5 và các Phụ lục tóm tắt, đối chiếu type truyện là nguồn ngữ liệu hữu ích phục vụ dự án xây dựng Bảng tra cứu type và motif truyện dân gian Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại sử dụng thuật ngữ "tinh ranh" thay vì dùng các từ như "thông minh", "láu cá" hay "deceptions"?
Tác giả lý giải rằng các khái niệm "thông minh" (Aarne) mang hàm ý thuần túy ngợi khen, trong khi các từ "deceptions" (Thompson) hay "láu cá", "bịp bợm" (Kotlyar) lại mang nặng sắc thái phê phán đạo đức. Dựa vào định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, "tinh ranh" nghĩa là "ranh mãnh và khôn ngoan". Thuật ngữ này truyền tải trọn vẹn tính hai mặt cố hữu của nhân vật: vừa khôn ngoan, mưu trí (đáng thán phục), vừa tinh quái, mưu mô, vụ lợi (đáng phê phán).
2. Quy mô khảo sát thực tế của luận án bao gồm bao nhiêu văn bản và phân bố theo châu lục như thế nào?
Luận án khảo sát 512 truyện kể thuộc kiểu truyện con vật tinh ranh thu thập từ 103 tuyển tập (32 tập của Việt Nam, 71 tập của nước ngoài). Phân bố theo châu lục gồm: châu Á có 333 truyện (chiếm 65%), châu Âu có 77 truyện (chiếm 15%), châu Phi có 73 truyện (chiếm 14%), châu Mỹ có 19 truyện (chiếm 4%), châu Úc và châu Đại Dương có 10 truyện (chiếm 2%). Riêng Việt Nam có 144 truyện, chiếm 28% tổng số truyện khảo sát.
3. Hiện tượng mở đầu truyện bằng "nạn đói" xuất hiện ở khu vực nào và mang ý nghĩa gì trong cấu trúc truyện kể?
Hiện tượng mở đầu bằng "nạn đói" là nét đặc thù xuất hiện thường xuyên trong truyện dân gian châu Phi. Do điều kiện tự nhiên sa mạc Sahara khô hạn và nền kinh tế săn bắt hái lượm bấp bênh, nạn đói là hiểm họa thường trực. Trong tác phẩm, chi tiết nạn đói không chỉ là bước đệm mào đầu thời gian mà đóng vai trò là một sự kiện đầu mối, thắt nút kết cấu truyện, mở ra xung đột sinh tồn để nhân vật tinh ranh bắt đầu hành động.
4. Trong nhóm truyện tự vệ, nhân vật tinh ranh vận dụng những chiến lược hành động nào theo phân loại của Claude Bremond?
Theo luận án và quan điểm của C. Bremond, nhân vật tinh ranh thực hiện hành động tự vệ qua 3 chiến lược chính: (1) Làm cho đối thủ từ bỏ ý định tấn công thông qua đàm phán hoặc dùng đòn tâm lý hù dọa (dissuasion); (2) Tiêu diệt hoặc loại trừ hoàn toàn khả năng tấn công của đối thủ (contre-agression); (3) Thoát khỏi phạm vi khống chế, tấn công của đối thủ (esquive).
5. Việc đối chiếu với Bảng tra cứu A – T ở Chương 5 nhằm giải quyết yêu cầu khoa học gì?
Việc đối chiếu này nhằm hai mục đích: một mặt kiểm chứng tính ứng dụng thực tiễn của Bảng tra cứu quốc tế A – T; mặt khác chỉ ra các type truyện đặc trưng của Việt Nam và Đông Nam Á chưa có trong bảng tra cứu, qua đó cung cấp nguồn tư liệu khoa học để giới nghiên cứu folklore trong nước tiến tới xây dựng Bảng chỉ dẫn type và motif truyện dân gian Việt Nam, góp phần lấp kín "vùng trắng" trên bản đồ folklore thế giới.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Quốc Minh Dương đã phác thảo một bức tranh toàn diện và hệ thống về kiểu truyện con vật tinh ranh trong văn học dân gian Việt Nam và thế giới thông qua việc phân tích ngữ liệu 512 tác phẩm. Công trình đã làm sáng tỏ các quy luật thi pháp thể loại từ cách đặt tên, phương thức mở đầu, kết thúc đến các mô hình kết cấu tự vệ, thủ lợi, chơi khăm và hệ thống 9 motif đặc trưng. Bằng việc định vị kiểu truyện trong mối tương quan với Bảng tra cứu A – T, luận án không chỉ khẳng định giá trị biểu đạt trí tuệ dân gian của các tộc người mà còn đóng góp nguồn tư liệu thiết thực cho việc xây dựng bảng phân loại type và motif truyện cổ tại Việt Nam.