Luận án văn hóa cư dân biển đảo Vân Đồn - Thành Thu Trang - Viện KHXH Việt Nam

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Văn hóa cư dân biển đảo Vân Đồn, Quảng Ninh": { "ai_description": "Tìm hiểu về văn hóa cư dân biển đảo Vân Đồn, Quảng

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

188
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan văn hóa cư dân vùng biển đảo Vân Đồn Quảng Ninh

Vân Đồn là huyện đảo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Vùng đất này sở hữu đường bờ biển trải dài hơn 600 km với hơn 600 hòn đảo lớn nhỏ. Cư dân Vân Đồn sinh sống chủ yếu bằng nghề đi biển, đánh bắt thủy hải sản và giao thương hàng hải. Lịch sử hình thành văn hóa biển đảo Vân Đồn gắn liền với thương cảng cổ từ thời Lý - Trần. Đây từng là trung tâm thương mại quốc tế sầm uất bậc nhất Đông Nam Á. Qua nhiều thế kỷ, cư dân vùng biển đã hình thành một hệ thống văn hóa đặc sắc. Hệ thống này bao gồm sinh kế, phong tục tập quán, tín ngưỡng và lễ hội. Các yếu tố văn hóa nông nghiệp và văn hóa biển đan xen, tương tác liên tục. Sự giao thoa giữa văn hóa truyền thống và đương đại tạo nên bản sắc riêng. Nghiên cứu văn hóa cư dân Vân Đồn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn. Luận án tiến sĩ của Thành Thu Trang (2021) là công trình toàn diện đầu tiên về chủ đề này.

1.1. Địa lý tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội vùng biển đảo Vân Đồn

Vân Đồn nằm trong vịnh Bái Tử Long, thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Địa hình chủ yếu là đồi núi và hải đảo, diện tích đất liền hạn chế. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh của biển. Kinh tế địa phương dựa vào đánh bắt thủy sản, nuôi trồng hải sản và du lịch biển. Khu kinh tế Vân Đồn được quy hoạch trở thành đặc khu kinh tế. Sự phát triển kinh tế kéo theo biến đổi lớn trong đời sống văn hóa cư dân. Hạ tầng giao thông cải thiện giúp kết nối đảo với đất liền thuận lợi hơn.

1.2. Cơ sở lý luận nghiên cứu văn hóa cư dân biển đảo

Nghiên cứu văn hóa cư dân biển đảo dựa trên nhiều lý thuyết văn hóa học. Edward Burnett Tylor định nghĩa văn hóa là tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp và phong tục. A. Kroeber và Kluckhohn nhấn mạnh văn hóa là mô hình hành vi được truyền đạt qua biểu trưng. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm văn hóa là toàn bộ sáng tạo của con người. Phạm Văn Đồng coi văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần. Các lý thuyết này tạo khung phân tích phù hợp cho văn hóa cư dân vùng biển Vân Đồn.

II. Phân tích sinh kế và tri thức dân gian của cư dân biển đảo Vân Đồn

Sinh kế của cư dân vùng biển đảo Vân Đồn gắn bó mật thiết với biển. Nghề đi biển là hoạt động kinh tế chủ đạo, quyết định mọi mặt đời sống văn hóa. Cư dân tham gia đánh bắt xa bờ và gần bờ tùy theo mùa vụ và điều kiện thời tiết. Các công việc phụ trợ bao gồm chế biến hải sản, đóng tàu, làm lưới và buôn bán. Tri thức dân gian về biển được tích lũy qua nhiều thế hệ truyền miệng. Cư dân Vân Đồn có khả năng đọc thời tiết qua mây, gió và dòng hải lưu. Họ phân biệt từng loại cá, từng vùng đánh bắt theo kinh nghiệm thực tiễn. Hệ thống tín hiệu hàng hải dân gian giúp ngư dân định hướng trên biển. Tri thức về ngư trường, mùa vụ và kỹ thuật đánh bắt là di sản văn hóa phi vật thể quý giá. Sự thay đổi công nghệ đánh bắt hiện đại đang tác động mạnh đến tri thức truyền thống. Nhiều tri thức dân gian có nguy cơ mai một nếu không được nghiên cứu và bảo tồn kịp thời.

2.1. Nghề đi biển và các công việc phụ trợ nghề biển tại Vân Đồn

2.2. Tri thức dân gian về biển và nghề đi biển của cư dân Vân Đồn

Tri thức dân gian về biển của cư dân Vân Đồn là hệ thống tri thức phong phú. Ngư dân nhận biết thời tiết qua màu sắc bầu trời, hướng gió và trạng thái sóng biển. Họ thuộc lòng hệ thống tên gọi các vùng biển, bãi cạn và luồng lạch. Kinh nghiệm về mùa sinh sản của từng loài cá giúp bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Các bài thuốc dân gian chữa bệnh thường gặp trên biển được truyền lại qua nhiều đời. Hệ thống ký hiệu và tín hiệu hàng hải dân gian phục vụ liên lạc giữa các tàu. Tri thức về dòng hải lưu và thủy triều là yếu tố sống còn với ngư dân.

III. Phong tục tập quán đặc trưng của cư dân vùng biển đảo Vân Đồn

Phong tục tập quán của cư dân Vân Đồn phản ánh đời sống văn hóa biển đặc thù. Tập quán ăn uống xoay quanh hải sản, phản ánh nguồn lợi từ biển. Trang phục truyền thống chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu ven biển. Kiến trúc nhà ở thích ứng với gió bão và triều cường. Nghi thức sinh đẻ, cưới hỏi và tang ma mang dấu ấn văn hóa biển rõ nét. Cư dân có nhiều kiêng kỵ liên quan đến nghề đi biển và cuộc sống hàng ngày. Tết Nguyên đán và các lễ tết khác được tổ chức theo phong tục riêng. Tết Thuyền hay Tết ra Giêng là nét văn hóa đặc trưng của ngư dân. Các tục lệ kiêng kỵ trên biển nhằm đảm bảo an toàn và may mắn. Phong tục tập quán đang biến đổi dưới tác động của đô thị hóa và du lịch. Bảo tồn phong tục truyền thống là nhiệm vụ cấp bách trong bối cảnh hiện nay.

3.1. Tập quán ăn mặc ở và đi lại của cư dân vùng biển Vân Đồn

Ẩm thực cư dân Vân Đồn chủ yếu từ hải sản tươi sống và chế biến. Các món ăn truyền thống như chả mực, sá sùng, gỏi cá được ưa chuộng. Phương pháp chế biến đơn giản, giữ nguyên hương vị tự nhiên của biển. Trang phục truyền thống gọn nhẹ, phù hợp với công việc đi biển. Kiến trúc nhà ở truyền thống sử dụng vật liệu địa phương như gỗ, tre, lá. Nhà xây thấp, chắc chắn để chống chịu gió bão từ biển. Giao thông đường thủy là phương thức đi lại chính giữa các đảo.

3.2. Nghi thức sinh đẻ cưới hỏi và tang ma của cư dân biển đảo

Nghi thức sinh đẻ tại Vân Đồn có nhiều tập quán riêng biệt. Phụ nữ mang thai kiêng kỵ nhiều điều liên quan đến biển và tàu thuyền. Cưới hỏi có nghi lễ đặc trưng phản ánh đời sống ngư dân. Lễ vật cưới hỏi thường có sản vật từ biển như cá, mực, tôm. Tang ma được tổ chức theo phong tục địa phương với nhiều quy tắc riêng. Người chết trên biển được xử lý theo nghi thức đặc biệt. Các nghi thức vòng đời gắn liền với tín ngưỡng thờ cá Ông và thần biển.

IV. Tín ngưỡng lễ hội và tương tác văn hóa của cư dân biển đảo Vân Đồn

Tín ngưỡng dân gian của cư dân Vân Đồn phong phú và đa dạng. Thờ cá Ông (cá voi) là tín ngưỡng đặc trưng nhất của cư dân biển. Tín ngưỡng này phản ánh mối quan hệ tâm linh giữa con người và biển cả. Cư dân còn thờ cúng thần biển, thần Nam Hải và các vị thần bảo hộ nghề biển. Đình, đền, miếu là không gian tín ngưỡng quan trọng trong cộng đồng. Lễ hội truyền thống gắn liền với chu kỳ đánh bắt và mùa vụ. Lễ hội Cửa Ông, lễ hội Đình Quan Lạn là những lễ hội tiêu biểu. Tương tác văn hóa nông nghiệp và văn hóa biển tạo nên bản sắc độc đáo. Giao thoa văn hóa truyền thống và đương đại diễn ra mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới. Văn hóa nội sinh tiếp nhận yếu tố ngoại sinh qua giao thương và du lịch. Sự tương tác đa chiều này vừa tạo cơ hội vừa đặt thách thức cho bảo tồn văn hóa.

4.1. Tín ngưỡng dân gian và lễ hội truyền thống của cư dân Vân Đồn

Tín ngưỡng thờ cá Ông là tín ngưỡng cốt lõi của cư dân biển Vân Đồn. Cá Ông được coi là vị thần cứu giúp ngư dân gặp nạn trên biển. Làng chài nào cũng có lăng hoặc miếu thờ cá Ông dạt vào bờ. Tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật giáo cũng phổ biến trong cộng đồng. Lễ hội Cửa Ông tôn vinh Trần Quốc Nghiễn, vị tướng nhà Trần. Lễ hội Quan Lạn bao gồm đua thuyền và rước kiệu trên biển. Các lễ hội phản ánh đời sống tâm linh và sinh kế của cư dân biển.

4.2. Tương tác văn hóa nội sinh và ngoại sinh tại vùng biển đảo Vân Đồn

Văn hóa nội sinh của cư dân Vân Đồn hình thành qua hàng nghìn năm sống với biển. Văn hóa ngoại sinh du nhập qua giao thương, du lịch và quá trình đô thị hóa. Sự tương tác giữa hai dòng văn hóa tạo ra quá trình biến đổi phức tạp. Các giá trị truyền thống như tri thức dân gian, phong tục tập quán bị ảnh hưởng mạnh. Du lịch phát triển mang lại kinh tế nhưng cũng đe dọa văn hóa bản địa. Cần có chính sách hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa truyền thống. Sự cân bằng này quyết định tương lai văn hóa cư dân biển đảo Vân Đồn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ văn hóa của cư dân vùng biển đảo vân đồn quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát vùng biển đảo Vân Đồn Chương 2: Sinh kế của cư dân vùng biển đảo Vân Đồn Chương 3: Phong tục tập quán của cư dân vùng biển đảo Vân Đồn Chương 4: Tín ngưỡng, lễ hội của cư dân vùng biển đảo Vân Đồn Chương 5: Văn hóa của cư dân vùng biển đảo Vân Đồn trong các chiều tương tác 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VÙNG BIỂN ĐẢO VÂN ĐỒN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Việt Nam là một quốc gia biển nên văn hóa biển, văn hóa của cư dân vùng biển nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Theo đề tài của luận án, tác giả tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan thành hai nhóm vấn đề chính như sau: 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa biển, văn hóa biển đảo và văn hóa của cư dân vùng biển * Những công trình nghiên cứu nước ngoài Đã từ lâu, chủ đề biển Việt Nam nhận được sự quan tâm của nhiều học giả nước ngoài.

Trong số đó, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa và được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan… Vấn đề biển đảo Việt Nam đương đại được nghiên cứu ở nhiều chiều cạnh khác nhau như vấn đề chủ quyền biển, thương mại biển, văn hóa biển… Tiêu biểu là những công trình nghiên cứu của các tác giả như Li Tana “Về góc nhìn từ biển với vùng ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ” (A View from the Sea: Pespectives on the Northern and Central Vietnamese Coast, 2006); hay tác giả Whitmore, J với bài viết “Vươn lên từ biển: Thương mại, quốc gia và văn hóa của nước Đại Việt xưa” (The rise of the Coast: Trade, State and Culture in Early Dai Viet, 2006)… Những công trình đó đã phác thảo bức tranh về biển Việt Nam nói chung và văn hóa biển nói riêng dưới góc nhìn của các học giả nước ngoài. Đặc biệt, từ những năm 2010 trở lại đây, các học giả nước ngoài đã đi sâu nghiên cứu về văn hóa biển của Việt Nam. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu sau: 7 Luận án tiến sĩ: “Tục thờ cá Voi: một di sản đa văn hóa của vùng biển Việt Nam” của Nguyễn Quốc Thanh - một nghiên cứu sinh người Pháp gốc Việt hoàn thành năm 2017. Trong phần kết luận của Luận án, tác giả khẳng định: Việt Nam là một vùng văn hóa thuận lợi cho các tín ngưỡng về biển như tín ngưỡng thờ cá Ông, thờ cá Voi và những điệu hò của ngư dân vùng biển.

Đó là nét đặc sắc trong văn hóa biển Việt Nam. Trong số các công trình nghiên cứu về biển Việt Nam và văn hóa biển Việt Nam, có nhiều công trình tập trung nghiên cứu về các cảng thị Việt Nam như Hội An, Lý Sơn… như Luận án tiến sĩ “Thương mại liên văn hóa và mạng lưới liên vùng ở Cảng thị Hội An; hàng hải Việt Nam giai đoạn tiền hiện đại” của tác giả Chales Wheeler (năm 2001). Trong luận án, tác giả đã tổng quan về đặc điểm vùng biển Việt Nam, đi sâu phân tích vùng cảng thị Hội An. Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng thuyết phục để khẳng định Hội An là một đô thị cổ, một trung tâm thương mại quốc tế lớn của miền Trung.

Nơi đây đã kết tinh những giá trị văn hóa nổi bật của vùng biển miền Trung Việt Nam. Có thể nói, biển Việt Nam nói chung và văn hóa biển Việt Nam nói riêng nhận được sự quan tâm của không ít nhà khoa học nước ngoài. Những công trình đó có giá trị tham khảo nhất định với tác giả luận án khi trình bày những vấn đề về văn hóa biển Việt Nam. * Những công trình nghiên cứu trong nước Đến nay, các công trình nghiên cứu về biển của các học giả trong nước được tiếp cận ở nhiều góc độ như khảo cổ học, sử học, dân tộc học, văn hóa dân gian, văn hóa học, khu vực học…; trong đó nhiều nhất là những nghiên cứu thuộc chuyên ngành văn hóa học, dân tộc học và sử học.

Tiêu biểu là những công trình nghiên cứu sau: Cuốn sách Văn hóa dân gian làng ven biển (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 2000). Trong bài dẫn luận, tác giả đã đưa ra quan điểm về văn hóa biển Việt Nam như sau: “Việt Nam không có một nền văn hóa biển điển hình, mà chỉ là 8 những yếu tố văn hóa biển đan xen với văn hóa nông nghiệp tạo nên một sắc diện văn hóa đặc thù của cư dân ven biển. Đó chính là một mảng mầu văn hóa riêng- văn hóa cận duyên, góp phần làm cho văn hóa Việt Nam đa dạng và phong phú hơn” [116; tr. Như vậy, theo tác giả, ở Việt Nam không có một nền văn hóa biển theo đúng nghĩa mà có sự đan xen với văn hóa nông nghiệp để góp phần tạo nên dấu ấn của văn hóa biển Việt Nam.

Bài viết “Văn hóa biển miền Đông Nam Bộ- nhìn từ lễ hội dân gian của ngư dân” của tác giả Đinh Văn Hạnh (năm 200) [41]. Bài viết khái quát đặc điểm của văn hóa biển miền Đông Nam Bộ qua không gian địa lý, lịch sử-văn hóa miền Đông Nam Bộ, vùng duyên hải miền Đông Nam Bộ với hàng chục lễ hội dân gian: Lễ hội thờ cúng Thành hoàng làng (hay hội đình), Lễ hội Nghinh Ông (tức tục thờ cá ông-cá voi, hay Nam hải Đại tướng quân, Lễ hội thờ Mẫu/Nữ thần. Lễ hội dân gian của ngư dân miền Đông Nam Bộ là loại hình lễ hội của một nhóm cộng đồng sinh sống trên cùng một địa bàn với nghề nghiệp nhất định, phản ánh đặc điểm riêng có về quá trình hình thành, về nghề nghiệp, về điều kiện lao động sản xuất, gắn liền với nghề đánh bắt thủy, hải sản. Bài viết có giá trị tham khảo nhất định với tác giả luận án trong việc khái quát đặc điểm của văn hóa biển các vùng miền trên đất nước ta.

Trong bài viết “Truyền thống văn hóa biển cận duyên của người Việt” của Ngô Đức Thịnh (năm 2010) [120], tác giả đã đi sâu nghiên cứu về văn hóa biển, chủ thể của văn hóa biển, đặc trưng cấu thành nền văn hóa biển cận duyên truyền thống của người Việt, cộng đồng ngư dân và các hình thức tổ chức xã hội; hệ thống tri thức bản địa; hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ và phong tục… Bài viết đã chỉ ra những nội hàm cơ bản của văn hóa biển nước ta, có giá trị tham khảo với tác giả luận án trong việc trình bày đặc điểm của văn hóa biển Việt Nam. Bài viết “Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam” của Trần Thị Mai An (năm 2010) [5] đã nhấn mạnh vai trò và vị trí văn hóa biển trong tổng thể của nền văn hoá Việt. Từ những hình thức kinh tế nông nghiệp đầu tiên 9 như trồng khoai lang trên bãi cát đến các mảnh vỡ “dân tộc học” trong dòng tri thức dân gian, hay các dấu ấn đã từng thịnh vượng của các cảng thị/thương cảng Việt xưa như Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An. Bức tranh văn hoá biển Việt Nam ngày càng lộ diện và không thể không được nhắc đến trong các yếu tố cấu thành văn hoá Việt.

Bài viết “Người Việt với biển” của tác giả Nguyễn Văn Kim (năm 2011) [65] đề cập đến ba nội dung chính: Cơ tầng văn hoá biển; Quan hệ giao thương; Chủ quyền và an ninh biển và khẳng định vị trí, tầm quan trọng của biển, tiềm năng phong phú đa dạng của biển đồng thời góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Khác với một số ý kiến cho rằng người Việt “xa rừng, nhạt biển”, tác giả Nguyễn Văn Kim dựa vào nhiều nguồn tư liệu khác nhau đã chỉ ra rằng trong hành trình lịch sử - văn hoá của dân tộc từ thời dựng nước, biển có một vị trí khá quan trọng trong tâm thức và tư duy của nhiều tộc người ở Việt Nam. Vị trí của biển trong tâm thức và tư duy của các cộng đồng tộc người, đặc biệt là người Việt, không chỉ được thể hiện rõ trong các truyền thuyết, huyền thoại như truyện Lạc Long Quân, Âu Cơ, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Tiên Dung - Chử Đồng Tử mà còn biểu hiện rõ trong niềm tin, thực hành tín ngưỡng dân gian của nhiều cộng đồng. Bài viết “Văn hóa biển đảo và văn hóa biển đảo Khánh Hòa” của tác giả Trần Ngọc Thêm (năm 2012) [108] đã chỉ ra 4 yếu tố nhận diện văn hóa biển: không gian đủ rộng, thời gian đủ dài, dân số đủ đông và kết quả hoạt động kinh tế đủ nhiều trở thành nguồn sống chính.

Đây là cách tiếp cận mới về văn hóa biển để qua đó tác giả chỉ ra sự khác biệt của văn hóa biển với các khía cạnh văn hóa khác. Bài viết “Quốc gia biển và chính sách bảo tồn văn hóa biển” của Trần Đức Anh Sơn (năm 2012) [99]. Trong bài viết, tác giả nêu lên nguồn gốc và mối quan hệ của người Việt với biển và chỉ ra một thực tế “Tuy sống cạnh 10 biển và “nương nhờ” vào biển nhưng từ bao đời nay người dân duyên hải miền Trung vẫn mang tâm lý “sợ biển”, sợ những thảm họa hiểm nguy đến từ biển, nên chưa thực sự “đối diện” với biển và sẵn sàng “sống chung” với biển. Tâm lý này không chỉ có trong các cộng đồng cư dân duyên hải miền Trung mà là tâm lý chung của người dân ở các miền duyên hải Việt Nam”.

Chính vì vậy, tác giả đã nêu ra những chính sách bảo vệ văn hóa biển trong tầm nhìn của một quốc gia biển như Việt Nam. Bài viết “Có một văn hoá biển đảo ở Việt Nam” của tác giả Phan An (năm 2012) cho rằng: “Các nhà văn hóa xem văn hóa biển đảo Việt Nam có thể nghiên cứu từ nhiều góc cạnh khác nhau như văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử, văn hóa tổ chức. Dân tộc Việt Nam đã biết và hiểu rõ về biển đảo của mình, đã biết cách ứng xử rất linh hoạt và độc đáo để tồn tại và phát triển với biển đảo. Đó là một dân tộc hướng biển”[1].

Như vậy, tác giả khẳng định Việt Nam có một nét đặc sắc của văn hóa biển đảo. Nền văn hóa ấy được hình thành trong quá trình con người gắn bó với biển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ