Ma thuật đời sống văn hóa người Thái tỉnh Sơn La - Luận án TS. Đỗ Thị Thu Hà

Bài viết phân tích vai trò và biểu hiện của ma thuật trong đời sống văn hóa truyền thống của người Thái tại tỉnh Sơn La, Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

397
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ma thuật trong đời sống văn hóa người Thái Sơn La

Ma thuật đóng vai trò nền tảng trong hệ thống tín ngưỡng và vũ trụ quan của người Thái ở tỉnh Sơn La. Đây không phải là mê tín đơn thuần, mà là một bộ phận cấu thành quan trọng, chi phối các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và thế giới siêu nhiên. Các thực hành ma thuật, từ bói toán đến nghi lễ trừ tà, phản ánh một phương thức tư duy đặc thù, giúp cộng đồng giải thích và tương tác với những lực lượng vô hình. Nghiên cứu về chủ đề này là chìa khóa để hiểu sâu sắc đời sống văn hóa, tâm linh và cách thức thích nghi của tộc người Thái trong bối cảnh lịch sử và xã hội liên tục biến đổi. Các công trình học thuật đã chỉ ra rằng, ma thuật ở đây mang tính công năng xã hội rõ rệt, góp phần ổn định cộng đồng và duy trì các giá trị truyền thống.

1.1. Vị trí của ma thuật trong hệ thống tín ngưỡng Thái

Trong vũ trụ quan của người Thái, ma thuật được đan xen chặt chẽ với khái niệm về "phi" (hồn, vía, lực lượng siêu nhiên). Các thực hành ma thuật chính là phương thức để con người giao tiếp, xoa dịu hoặc chế ngự các "phi". Hệ thống này bao gồm nhiều tầng bậc từ "phi" của đất, nước, rừng đến "phi" của con người, mỗi loại có đặc tính và quy luật riêng. Ma thuật không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền với các nghi thức cộng đồng, luật tục và đời sống sinh hoạt hàng ngày, tạo thành một mạng lưới ý nghĩa văn hóa phức tạp.

1.2. Bối cảnh nghiên cứu và các hướng tiếp cận

Nghiên cứu về ma thuật của người Thái Sơn La thường được thực hiện trong khuôn khổ nhân học văn hóa và tôn giáo học. Các học giả tập trung vào phân tích công năng xã hội, diễn ngôn biểu tượng và mối quan hệ giữa ma thuật với quyền lực. Hướng tiếp cận từ góc độ "diễn năng" của Stanley Tambiah được vận dụng để hiểu ma thuật như một dạng hành động nghi lễ có ý nghĩa, thay vì chỉ là niềm tin nguyên thủy. Nghiên cứu cũng chú trọng bối cảnh đương đại, nơi ma thuật phải đối mặt với những thách thức từ hiện đại hóa và sự du nhập của các hệ thống tư tưởng mới.

II. Phân tích hệ thống vũ trụ quan và các hình thức ma thuật Thái

Cốt lõi của ma thuật Thái nằm trong hệ thống vũ trụ quan đa thần linh, với "phi" là trung tâm. Các "phi" được phân loại thành nhiều dạng thức khác nhau: "phi" của tự nhiên (núi, sông, rừng), "phi" hộ mệnh của con người, hay "phi" của tổ tiên. Đặc tính của chúng có thể thiện hoặc ác, gây bệnh tật hoặc ban phước lành. Con người không bị động trước các "phi" mà chủ động tương tác thông qua các hình thức ma thuật đa dạng. Bói toán (bói que, bói đồng xu) được sử dụng để thăm dò ý đồ của "phi", xác định nguyên nhân bất thường. Các nghi lễ trừ tà, cúng tế là hành vi ma thuật mang tính xử lý, nhằm xoa dịu, đuổi bắt hoặc ký kết giao ước với các lực lượng siêu nhiên này.

2.1. Khái niệm phi và hệ thống phân loại trong vũ trụ quan Thái

"Phi" là khái niệm trung mô, chỉ chung các lực lượng vô hình chi phối đời sống. Người Thái Sơn La phân loại "phi" theo nhiều tiêu chí: theo không gian (phi nhà, phi bản, phi rừng), theo tính chất (phi lành, phi dữ), và theo nguồn gốc (phi ông bà, phi do vi phạm kiêng kỵ). Mỗi "phi" có vị trí trong một trật tự vũ trụ phân tầng, từ các "phi" lớn như thần linh cai quản đất trời đến các "phi" nhỏ cư ngụ trong cây cối, vật dụng. Việc hiểu rõ hệ thống này là điều kiện tiên quyết để thực hành bất kỳ hình thức ma thuật nào, vì mục đích cuối cùng là đạt được sự hài hòa với "phi".

2.2. Các hình thức ma thuật phổ biến từ bói toán đến nghi lễ xử lý

Các hình thức ma thuật được phân chia rõ ràng theo chức năng. Nhóm thứ nhất là ma thuật xác định bất thường, tiêu biểu là bói que (khuổm hai) để tìm ra "phi" nào đang gây rối và lý do. Nhóm thứ hai là ma thuật xử lý, chế ngự phi, bao gồm các nghi lễ phức tạp với sự hiện diện của thầy mo, các vật phẩm hiến tế (gà, lợn) và bài cúng đặc thù. Một hình thức đáng chú ý là ma thuật tương tác với "khuân" (bùa, ếm), sử dụng các vật mang tính biểu tượng và lời thiêng để tác động trực tiếp lên đối tượng hoặc lực lượng siêu nhiên. Sự đa dạng trong hình thức phản ánh sự phong phú của đời sống tâm linh Thái.

III. Vai trò của thầy mo và nguyên tắc thực hành ma thuật Thái

Thầy mo (mo Thái) là trung gian không thể thiếu giữa thế giới con người và thế giới "phi". Đây không phải là một chức danh đơn giản mà là kết quả của một quá trình tu luyện, học hỏi kinh nghiệm thiêng liêng và được cộng đồng công nhận. Thầy mo nắm giữ tri thức sâu rộng về hệ thống "phi", các nghi thức, bài cúng và nguyên tắc thực hành. Nguyên tắc cốt lõi trong ma thuật Thái là sự tương tác dựa trên quy luật nhân quả và biểu tượng: một hành vi ma thuật (ví dụ: đốt hình nộm) được tin sẽ tạo ra hiệu ứng tương ứng trong thực tại thông qua sức mạnh của lời thiêng và niềm tin tập thể. Việc thực hành luôn tuân theo các quy tắc nghiêm ngặt về phẩm hạnh của người thầy, vật liệu sử dụng và thời điểm tiến hành.

3.1. Năng lực thiêng và thẩm quyền của thầy mo Thái

Thẩm quyền của thầy mo được kiến tạo từ nhiều nguồn. Đó là năng lực thiêng bẩm sinh (có thể do "phi" chọn), quá trình học tập bài bản từ những thầy mo kỳ cựu, và quan trọng nhất là sự thẩm chuẩn của cộng đồng thông qua hiệu quả của các nghi lễ. Nghiệp mo đòi hỏi người thầy phải giữ gìn đạo đức, tuân thủ các kiêng kỵ và không ngừng nâng cao tri thức. Trong xã hội truyền thống, thầy mo vừa là thầy cúng, thầy thuốc, vừa là người hòa giải, lưu giữ và truyền tải tri thức văn hóa bản địa qua các thực hành ma thuật của mình.

3.2. Nguyên tắc phép analog và biểu tượng trong tương tác với phi

Nguyên tắc cơ bản trong nhiều hình thức ma thuật Thái là "phép analog" (tương đồng), cho rằng "cái giống nhau tác động lên nhau". Ví dụ, để chữa bệnh do "phi" nước gây ra, thầy mo có thể dùng nước để thực hiện nghi lễ xua đuổi. Các vật liệu sử dụng trong ma thuật (máu gà, tóc, đất) luôn mang giá trị biểu tượng, đại diện cho các khái niệm thiêng liêng hoặc mối quan hệ cụ thể. Lời cúng, lời nguyền là công cụ mạnh mẽ nhất, được tin có khả năng "biến thế giới phù hợp với lời", tức là kiến tạo ra thực tại mới thông qua sức mạnh của ngôn từ thiêng liêng được kết nối với "phi".

IV. Ma thuật Thái trong xã hội đương đại Thích nghi và bảo tồn

Trong bối cảnh Sơn La ngày nay, đời sống văn hóa của người Thái chịu tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, đô thị hóa và sự du nhập của các tôn giáo lớn. Các thực hành ma thuật truyền thống không biến mất mà có xu hướng thích nghi. Nó mở rộng ranh giới để xử lý những bất an mới có tính hiện sinh như bệnh tật thời đại, tai nạn giao thông, hay áp lực kinh tế. Các hình thức mới cũng xuất hiện, như việc sử dụng bùa hộ mệnh cho sự may mắn trong kinh doanh. Đồng thời, ma thuật vẫn duy trì vai trò gia cố, gắn kết hệ thống hồn vía cá nhân và cộng đồng trong các sự kiện vòng đời như cưới hỏi, tang ma. Sự bảo tồn tri thức ma thuật Thái đang đối mặt với thách thức lớn khi đội ngũ thầy mo kế cận ngày càng ít.

4.1. Sự thích nghi và biến đổi của ma thuật trước những thách thức mới

Ma thuật Thái cho thấy sức sống mãnh liệt qua khả năng thích ứng. Các nghi lễ mới được sáng tạo để ứng phó với những "phi" của thời đại, như "phi" của xe cộ hay "phi" của đồng tiền. Vai trò của thầy mo cũng có phần thay đổi, có thể linh hoạt hơn trong cách thức tương tác. Tuy nhiên, nguyên tắc cốt lõi về tương tác với "phi" và công năng ổn định xã hội vẫn được giữ vững. Sự thích nghi này cho thấy ma thuật không phải là di sản tĩnh tại mà là một phần động, luôn tái cấu trúc để phù hợp với hoàn cảnh sống mới của cộng đồng.

4.2. Giá trị văn hóa và hướng bảo tồn tri thức ma thuật bản địa

Giá trị lớn nhất của ma thuật Thái nằm ở chỗ nó là kho tàng tri thức bản địa về thế giới quan, y học cổ truyền, đạo đức và quan hệ cộng đồng. Việc bảo tồn không có nghĩa là phục nguyên mọi thực hành, mà là hiểu và ghi nhận giá trị văn hóa của nó. Hướng bảo tồn hiệu quả bao gồm sưu tầm, ghi chép lại hệ thống tri thức (các bài cúng, phân loại "phi") từ các thầy mo cao tuổi. Đồng thời, cần nghiên cứu để tinh lọc những giá trị tích cực, phù hợp với đời sống hiện đại, từ đó giáo dục thế hệ trẻ về cội nguồn văn hóa tộc người.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐỖ THỊ THU HÀ MA THUẬT TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƢỜI THÁI TỈNH SƠN LA LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC HÀ NỘI - 2021 MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Bảng Danh mục tiếng Thái sử dụng trong luận án MỞ ĐẦU . Tính cấp thiết của đề tài . Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu . Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu . Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu . Đóng góp mới về khoa học của luận án . Ý nghĩa lý luận và thực tiễn . Cấu trúc của luận án . 14 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU . Tổng quan tình hình nghiên cứu . Nghiên cứu về ma thuật trong nhân học. Nghiên cứu về ma thuật trong đời sống văn hóa ở Việt Nam . Nghiên cứu về tôn giáo tín ngƣỡng, ma thuật của ngƣời Thái . Đánh giá chung và hƣớng gợi mở từ tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan tới đề tài luận án . Ma thuật, đời sống văn hóa và đời sống văn hóa Thái đƣơng đại. Nghiên cứu ma thuật trong bối cảnh đặc thù. Địa bàn nghiên cứu . Khái lƣợc về lịch sử cƣ trú của ngƣời Thái ở Sơn La . Những vấn đề nổi bật trong đời sống văn hóa của ngƣời Thái ở Sơn La. 40 Tiểu kết Chƣơng 1 . 44 Chƣơng 2: MA THUẬT THÁI TRONG HỆ THỐNG VŨ TRỤ QUAN TỘC NGƢỜI . Sự hiện diện và nguyên cớ của của các hình thức ma thuật trong đời sống Thái . Diện mạo các thực hành ma thuật Thái . Nguyên cớ của các hành vi ma thuật Thái: Phi . Những kiến tạo về phi trong hệ thống vũ trụ quan tộc ngƣời . Phi: kiến tạo về các tầng bậc mƣờng . Phi: kiến tạo về các dạng thức và đặc tính . Phi: kiến tạo về thuộc tính ngƣời, các trật tự và những chiều tác động. Ngƣời tƣơng tác và điều khiển các phi: thầy mo. Mo Thái: đa dạng tiểu loại và tính năng . Nghiệp mo: năng lực thiêng và thẩm quyền đƣợc kiến tạo từ các tài liệu phê chuẩn . 69 Tiểu kết Chƣơng 2 . 74 Chƣơng 3: MA THUẬT THÁI: DIỆN MẠO NHỮNG THỰC HÀNH TƢƠNG TÁC VỚI PHI . Ma thuật xác định bất thƣờng, thăm dò phi: Bói toán . Bói que và bói úp ngửa (khuổm hai) bằng thanh tre, đồng xu . Ma thuật xử lý, chế ngự phi: Hành vi, nghi lễ . Ma thuật tƣơng tác với khuân. Ma thuật tƣơng tác với các loại phi . Ma thuật tƣơng tác với phi: những vấn đề nổi bật . Bói: phƣơng thức tìm kiếm các thông tin từ phi . Tƣơng tác với phi và việc sử dụng hệ thống các vật, hành vi có tính biểu tƣợng . Ma thuật tƣơng tác với phi: cách thức tùy biến . Tƣơng tác với phi: phép analog Thái và dạng thức "biến thế giới phù hợp với lời" . 108 Tiểu kết Chƣơng 3 . 117 Chƣơng 4: MA THUẬT THÁI: MỞ RỘNG RANH GIỚI, ĐA CHIỀU TƢƠNG TÁC TRONG XÃ HỘI ĐƢƠNG ĐẠI . Ma thuật gia cố, gắn kết, tách rời hệ thống hồn vía ngƣời trong những bối cảnh mới. Gia cố hệ thống hồn. Gắn kết, tách rời hệ thống hồn vía . Ma thuật xử lý những bất an có tính hiện sinh . Tiễn hồn bổ sung, hỏa thiêu gộp . Ứng phó với ma hồn của dân tộc khác . Bùa Thái: đa dạng tình huống sử dụng và nguyên tắc của việc thực hành . Bùa: giải quyết các tình huống tức thời. Bùa: những nguyên tắc thực hành của thầy mo Thái . Ma thuật, sự thích nghi, các hình thức mới và những lựa chọn mới . Tẳng cảu thật, tẳng cảu giả và những tình huống đối phó . Phái xửa và cơ chế tự kiểm soát . Sinh nở tại bệnh viện và các hình thức ma thuật mới . Chữa bệnh bằng ma thuật kết hợp khám chữa bệnh tại bệnh viện . Những hình thức và lựa chọn mới trong một số bối cảnh . 150 Tiểu kết Chƣơng 4 . 152 Chƣơng 5: NGHIÊN CỨU MA THUẬT TRONG BỐI CẢNH ĐẶC THÙ: NHỮNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN. Tiếp cận ma thuật và vấn đề bối cảnh của những diễn giải . Sự đối sánh ma thuật - khoa học - tôn giáo của nhân học phƣơng Tây và những vấn đề bối cảnh . Bối cảnh của những diễn giải trái chiều trong các nghiên cứu về ma thuật ở Việt Nam . Bối cảnh tác động và những vấn đề trong diễn giải về ma thuật Thái . Tiếp cận ma thuật Thái trong bối cảnh đặc thù và những khám phá mới về nghĩa . Ma thuật Thái: mê tín hay một phƣơng thức tri nhận và ứng xử với thế giới . Ma thuật Thái: niềm tin thơ ngây hay một phƣơng thức tƣ duy bằng văn hóa. Ma thuật Thái: lạc hậu hay là một phần của cái hiện đại . Ma thuật Thái: vấn đề về khung phân loại và thuộc tính văn hóa Thái . Thái này là Thái nào: ma thuật và sự đa dạng trong các không gian văn hóa Thái . San lấp các hố ngăn cách: một không gian biệt lập chỉ có trong tƣởng tƣợng . Soi mình vào hình hài kẻ khác: ma thuật và những định kiến tâm linh về ngƣời Thái . 184 Tiểu kết Chƣơng 5 . 188 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ . 190 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO . 192 PHỤ LỤC PHỤ LỤC ẢNH BẢNG DANH MỤC TIẾNG THÁI SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN áp khuân tắm hồn ban bản, làng băng quây, che, chắn ca xa vợt xúc cá chan khu vực dành cho nữ giới trong ngôi nhà sàn chảu đin chủ đất chảu nặm chủ nƣớc chảu xửa chủ đất bản, mƣờng (về tâm linh) chom khuân hồn gốc choong quan tài dƣợng bói đẳm/ đăm 1. Tổ tiên đã mất đẳm chuống kang tổ tiên ngụ ở không trung đẳm đoi tổ tiên ngụ tại đất mƣờng trời đẳm kuông hƣỡn tổ tiên ngụ trong nhà đẳm pá heo tổ tiên ngụ tại rừng ma (nơi chôn ngƣời chết) đong khửn lễ cƣới lên đông tu sửa rừng cửa áo, khu rừng thiêng của bản, mƣờng. ha khuân lùng, tìm kiếm hồn hạn khuống hát đối nam nữ hết khoăn làm vía hịak khuân lông tìm hồn lạc hỉnh gác thờ hỉnh một gác thờ ma một của thầy một hỉnh môn gác thờ ma môn/ mun của thầy môn/ mun hỉnh tảy gác thờ ma tảy của mo tảy hịt khong luật bản lệ mƣờng hom khuân gom, tụ hồn hóng/hỏng hóng nơi thờ cúng tổ tiên, ở phía gian bên quản trong clo hóng ngôi nhà sàn khảu mạ bung thóc khớ dây sự sống của mỗi ngƣời khuân/ khoăn hồn, vía khuân hua hồn đầu khuân pai hồn ngọn khƣơi cốc rể gốc lắc bản cột bản lắc ná cột ruộng liên pan nọi Niết Bàn nhỏ liên pan luông Niết Bàn lớn măn/ mằn thổi, niệm chú vào một vật, thông quá đó tác động lên đối tƣợng cần măn me Bảu bà mụ nặn hồn vía con ngƣời, ngụ tại mƣờng trời me Một bà mẹ chủ mƣờng tâm linh (mƣờng Một), chuyên chăm sóc hồn vía con ngƣời minh nền bằng phẳng, điểm tựa của hồn mo (danh từ) ngƣời hành nghề tâm linh nói chung, ngƣời am hiểu luật bản lệ mƣờng. (động từ) cúng mo phi thầy mo trong đám tang mỏ nửng cái ninh đồng (chõ) một tiểu loại thầy cúng Thái chuyên tìm hồn vía lạc, cứu hồn vía bị ma hại bắt giữ bằng cách giao tiếp tại các mƣờng tâm linh hoặc dùng các phép thuật trị ma tà. một lao thầy cúng nam thờ ma một một nhinh thầy cúng nữ thờ ma một mun/ môn tiểu loại thầy cúng Thái chuyên dùng phép thuật khi cúng trị tà ma. muôn/ muỗn phù chú mƣờng 1. đơn vị cƣ trú tạo lập từ nhiều bản (khoảng 4 bản) 2. không gian tâm linh trên trời hoặc dƣới trần gian mƣờng lum mƣờng trần gian mƣờng một không gian tâm linh của bà mẹ Một, của thầy cúng và các ma hồn chuyên bảo vệ hồn vía ngƣời mƣơng phạ mƣờng trời mƣờng phi không gian cƣ ngụ của các ma ngƣời chết (hồn xấu của tổ tiên và ma chết dữ) tại không trung, giáp với mƣờng trời nai cảu ngƣời thực hiện việc búi tóc trên đỉnh đầu (tẳng cảu) cho cô dâu trong lễ cƣới nen mệnh, vận mệnh của một ngƣời nhá pháy nằm lửa sau sinh ói khuân dỗ hồn pá heo rừng ma, nơi chôn ngƣời chết của bản pành khuần sửa hồn peng khuân pãn cãi mâm cúng của thầy cúng và đội âm binh một páo khuân báo hồn, chiêu hồn pạt tông lễ cúng tổ tiên tại gian thờ trong nhà ngƣời Thái đen, diễn ra 10 ngày một lần pẽ khọk bè hạn rủi phái xửa trao áo phăn/ phẵn chém (chém bóng và chém trực tiếp vào vật) phi thần linh, ma, hồn phi bản phi mƣờng các thần tự nhiên của bản, mƣờng phi chuông ma hồn ngƣời tình phi cƣớt ma hồn trẻ con chết khi dƣới 13 tuổi phi đẳm ma hồn tổ tiên phi đin thần đất phi hại ma dữ phi hƣơn ma nhà (ma tổ tiên trong gian thờ) phi luông ma lớn phi một ma tổ sƣ và đội quân ma hồn của mo một phi mun/ môn ma tổ sƣ của mo mun/ môn phi nặm thần nƣớc phi ngƣợk thần chủ bến sông bến suối (thuồng luồng) phi ha phi héo ma hồn ngƣời chết dữ (tai nạn, chiến tranh,…) phi pá ma rừng phi pái ma hồn phụ nữ chết do sinh nở phi tảy ma tổ sƣ của mo tảy phi then thần linh ở trên mƣờng trời phúk khoăn buộc hồn, vía quản gian bên phải, nơi dành để tiếp khách và thờ cúng tổ tiên trong ngôi nhà sàn của ngƣời Thái Ta Khái tên con sông ngăn cách mƣờng ma và mƣờng các Then trên trời ta leo phên tre, nứa, đan hình mắt cáo, dùng để chỉ sự cấm kỵ hoặc sở hữu tam khuân cúng hồn tạy ho túi vật thiêng đựng linh hồn ngƣời, treo trên mái tạy ho trong nghi lễ riêng tiến hành sau khi sinh. Tạy là túi đựng của trẻ nam, ho là túi đựng của trẻ nữ. tẳng cảu búi tóc của phụ nữ Thái đen đã có chồng Then khọk Then gieo vận hạn Then khớ Then trông coi sự sống cho con ngƣời thót mút, rút thung xửa túi (đựng) áo tiễn minh nến sáp ong tƣợng trƣng cho hồn vía ngƣời tom khuân mừng đón hồn tỏn cộ đón cỗ (lễ giao/ nhận cỗ cho ma ngƣời chết) xai dây xau hẹ cột chủ trong ngôi nhà sàn xên cúng xên hƣỡn cúng nhà xên kẻ cúng cởi hạn, cởi tội xon khuân răn hồn xỏn khuân xúc hồn xú khuân thết/ tiếp đãi hồn xửa áo MỞ ĐẦU 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ