Tổng quan luận án
Đề tài "Phật giáo thời Lê sơ qua tư liệu Hán Nôm" được thực hiện trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (hướng nghiên cứu Lịch sử Phật giáo). Nghiên cứu giải quyết vấn đề lịch sử tôn giáo ở một thời kỳ đặc thù của chế độ quân chủ Đại Việt trên cơ sở khảo sát các nguồn tư liệu Hán Nôm hiện còn.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả luận án xác định năm lý do căn bản:
- Tiến trình bản địa hóa của Phật giáo: Du nhập từ Ấn Độ, Phật giáo trải qua thời kỳ phát triển ở Lý – Trần và bám sâu vào tâm thức người Việt. Phật giáo thời Lê sơ là một mắt xích tiếp nối tiến trình dung hợp văn hóa đó.
- Đặc điểm xã hội thời Lê sơ (1428–1527): Đây là giai đoạn quân chủ chuyên chế đạt mức ổn định và thịnh trị, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông với mô hình nhà nước quan liêu Nho giáo. Nghiên cứu tôn giáo thời kỳ này giúp làm rõ các yếu tố cấu thành sự ổn định văn hóa - xã hội.
- Tình trạng khai thác nguồn tư liệu Hán Nôm: Nguồn tư liệu Hán Nôm thời Lê sơ phong phú nhưng phân tán ở nhiều dạng văn bản (sử ký, luật pháp, văn bia, văn chương), gây trở ngại ngôn ngữ cho các nhà nghiên cứu. Nguồn sử liệu này chưa từng được tập hợp, xử lý và phân tích một cách hệ thống và độc lập.
- Khoảng trống trong cách tiếp cận ngành học: Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận Phật giáo thời Lê sơ từ góc độ triết học tư tưởng hoặc sử học chung, chưa có công trình độc lập nào tiếp cận dưới góc độ Tôn giáo học để giải mã diện mạo Phật giáo như một thực thể tôn giáo hoàn chỉnh (gồm niềm tin, thực hành, cộng đồng, cơ sở vật chất).
- Giá trị nhận thức lịch sử đối với hiện tại: Cung cấp cơ sở khoa học nhằm nhận diện những giá trị truyền thống cũng như hạn chế lịch sử của tôn giáo, phục vụ công tác nghiên cứu và định hướng quản lý văn hóa - tôn giáo hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu trung tâm của luận án được xác định: "Qua khảo cứu tư liệu Hán Nôm, đời sống và ảnh hưởng của Phật giáo như thế nào?"
Mục đích nghiên cứu: Thông qua khảo cứu các nguồn tư liệu Hán Nôm, luận án góp phần làm rõ đời sống và ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội Đại Việt thời Lê sơ (1428–1527).
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm bốn nội dung:
- Tìm kiếm, khảo cứu, đối chiếu, phân loại, hệ thống hóa các tư liệu Hán Nôm liên quan đến Phật giáo thời Lê sơ; đánh giá giá trị văn bản về phương diện lịch sử và tôn giáo.
- Xử lý và phân tích các tư liệu thu thập được nhằm làm rõ bối cảnh cho sự hiện diện của Phật giáo thời Lê sơ.
- Nhận diện đời sống Phật giáo thời Lê sơ thông qua các thành tố cấu thành tôn giáo.
- Làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa, xã hội Đại Việt thời Lê sơ trong tương quan so sánh với giai đoạn trước; gợi ý các hướng nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Phật giáo thời Lê sơ với tư cách là một tôn giáo trong mối tương quan Tam giáo (Nho, Phật, Đạo), gồm các thành tố: cộng đồng Phật giáo, đối tượng thờ, tư tưởng Phật học, thực hành tôn giáo, cơ sở vật chất; cùng các biểu hiện ảnh hưởng trong văn hóa tư tưởng, kiến trúc, lối sống và tín ngưỡng bản địa.
- Phạm vi thời gian: Thời Lê sơ kéo dài 99 năm, từ năm 1428 khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế đến ngày 11 tháng 6 năm 1527 khi Mạc Đăng Dung ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ quốc gia Đại Việt thời Lê sơ.
- Phạm vi tư liệu: Tập trung vào ba nhóm văn bản Hán Nôm: chính sử và luật pháp, văn bia (bi ký), tác phẩm văn chương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại tình hình nghiên cứu liên quan theo các nhóm vấn đề chuyên môn:
Về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội:
- Phan Đại Doãn chỉ ra sự chuyển đổi từ kinh tế thái ấp, điền trang thời Trần sang chế độ lộc điền và quân điền thời Lê sơ, xác lập cơ cấu "nhà - làng - nước" với tính tự trị làng xã cao, nơi lưu giữ văn hóa dân gian và tín ngưỡng truyền thống.
- Phan Huy Lê và Trần Quốc Vượng nhận định thể chế chính trị chuyển dịch sang mô hình quân chủ quan liêu Nho giáo, dẫn đến việc nhà nước đề cao Nho giáo trên bình diện chính trị và đặt ra các chính sách quản lý đối với Phật giáo, Đạo giáo.
- Đào Duy Anh từng cho rằng thời Lê sơ Nho giáo độc tôn nên Phật giáo bị coi là tà giáo và bị hạn chế. Ngược lại, Hà Văn Tấn, Trần Bá Trí và Doãn Chính khẳng định Nho giáo giữ vai trò nền tảng tư tưởng quản trị nhưng Phật giáo không mất đi vị trí trong đời sống tâm linh của dân chúng.
- Mật Thể ghi nhận chính sách khảo hạch tăng sĩ năm 1429 và các nghi lễ quốc gia liên quan đến Phật giáo (như rước tượng Pháp Vân cầu mưa năm 1434, thiền sư Huệ Hồng điểm nhãn tượng năm 1435).
Về sinh hoạt, cộng đồng và tư tưởng Phật giáo:
- Về phía hoàng tộc, tác phẩm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (gắn với Lê Thánh Tông) được Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính và Mai Xuân Hải phân tích dưới nhiều góc độ: vừa thể hiện lòng từ bi và ảnh hưởng giáo lý Phật giáo, vừa phản ánh thái độ phê phán mê tín dị đoan và chủ trương củng cố trật tự Nho giáo.
- Về tầng lớp trí thức, quan lại, Nguyễn Tài Thư, Đàm Văn Chí, Doãn Chính phân tích tư tưởng nhân ái, hiếu sinh và thế giới quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi (Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập). Hiện tượng Trạng nguyên Lương Thế Vinh biên soạn các tác phẩm Phật học như Thiền môn khoa giáo, Nam Tông tự pháp đồ và soạn văn bia chùa được Viện Triết học và Nguyễn Thừa Hỷ ghi nhận.
- Về sự dung hợp niềm tin, Trần Đình Hượu và Georges Condominas phân tích hiện tượng cá nhân hành xử theo chuẩn mực Nho giáo ngoài xã hội nhưng tìm đến Phật giáo và Đạo giáo trong đời sống tâm linh và đạo đức cá nhân.
- Về cơ sở vật chất và nghi lễ, Nguyễn Duy Hinh và Lê Đức Hạnh nhận định thời Lê sơ chùa tháp không còn sôi động như thời Lý – Trần; trong khi Hà Văn Tấn chứng minh nhiều công trình Phật giáo thời kỳ trước tiếp tục được tu bổ, mở rộng và các nghi lễ cầu đảo vẫn được duy trì trong dân gian.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định:
Các công trình trước đây phần lớn dừng lại ở việc xem xét Phật giáo như một bộ phận phụ thuộc trong lịch sử tư tưởng triết học hoặc lịch sử chính trị, chủ yếu dựa trên các bộ chính sử quan phương. Quan điểm cho rằng Phật giáo thời Lê sơ hoàn toàn suy thoái do chính sách độc tôn Nho giáo chưa được kiểm chứng đầy đủ qua nguồn tư liệu thực địa. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát toàn diện ba khối tư liệu Hán Nôm (sử - luật, bi ký, văn chương) dưới hệ hình Tôn giáo học để phục dựng bức tranh đa chiều về đời sống Phật giáo thời Lê sơ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên tiếp cận liên ngành khoa học xã hội, lấy Tôn giáo học làm trung tâm, kết hợp Hán Nôm học, Sử học, Xã hội học và Triết học.
Khung lý thuyết:
- Thuyết Chức năng (Functionalism): Xem xã hội là một hệ thống cấu thành từ các tiểu hệ thống tương hỗ. Tôn giáo vận hành như một thiết chế duy trì sự cân bằng, cố kết xã hội và ổn định trật tự văn hóa.
- Luận điểm của Bronislaw Malinowski: Tôn giáo và nghi lễ tôn giáo đóng vai trò giải tỏa căng thẳng tâm lý, giúp cá nhân và cộng đồng ứng phó với các "khủng hoảng của cuộc sống" vượt ngoài khả năng kiểm soát kỹ thuật của con người. Luận án vận dụng luận điểm này để giải thích việc triều đình và dân chúng thời Lê sơ vẫn thực hành các nghi lễ Phật giáo (như cầu mưa, giải hạn, tế tự) bất chấp xu hướng Nho giáo hóa bộ máy nhà nước.
- Lý thuyết thực thể tôn giáo và văn hóa: Áp dụng quan niệm của Nguyễn Quốc Tuấn và Trác Tân Bình, cấu trúc tôn giáo được phân tích theo trục vận động: Niềm tin tôn giáo (cốt lõi) định hình Thực hành tôn giáo, từ đó tập hợp thành Cộng đồng tôn giáo và tạo lập Cơ sở vật chất tôn giáo.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp văn bản học: Tiến hành định bản, đối chiếu các bản khắc, bản in và bản chép tay Hán Nôm; khảo sát dị bản; phiên âm và hiệu chính các bản dịch tiếng Việt dựa trên thuật ngữ Tôn giáo học.
- Phương pháp sử liệu học: Khai thác dữ liệu lịch sử, thực hiện thao tác phê phán sử liệu nội văn bản (mục đích biên soạn, quan điểm tác giả) và ngoại văn bản (thời điểm ra đời, chất liệu, tính xác thực lịch sử).
- Phương pháp so sánh lịch sự: Đối sánh diện mạo Phật giáo thời Lê sơ với giai đoạn Lý – Trần trước đó và thời Mạc kế tiếp nhằm nhận diện tính kế thừa, biến đổi và đặc thù thời đại.
- Phương pháp phân loại, tổng hợp: Tập hợp các ghi chép tản mát trong văn thơ, văn bia, điều luật để hệ thống hóa thành các nhóm chủ đề nghiên cứu.
Nguồn tư liệu Hán Nôm sử dụng trong luận án:
| Nhóm tư liệu |
Các văn bản tiêu biểu được khảo sát |
Ký hiệu / Xuất xứ văn bản |
| Chính sử & Luật pháp |
Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục, Đại Việt thông sử, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, An Nam chí nguyên, Quốc triều hình luật, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính. |
Bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm: A.3/1-4, A.107, A.47, A.341, A.334/1-10, A.85... |
| Bi ký (Văn bia) |
40 văn bia chứa sử liệu Phật giáo (gồm 33 văn bia tạo dựng trực tiếp thời Lê sơ và 7 văn bia liên quan), bao gồm bia chùa, bia ma nhai ngự đề, bia lăng hoàng tộc, bia bến đò và bia cầu. |
Thác bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm và thực địa địa phương (Thanh Hóa, Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Hà Nam...). |
| Văn chương |
Việt âm thi tập, Thiên Nam dư hạ tập (các quyển thơ văn), Hồng Đức quốc âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Ức Trai di tập (của Nguyễn Trãi). |
Bản A.1925, A.3038, A.1313/a, A.3200/1-4, A.131, A.2232... |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN NGUỒN TƯ LIỆU, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO THỜI LÊ SƠ
Chương này trình bày chi tiết về ba nhóm tư liệu Hán Nôm, lịch sử nghiên cứu vấn đề và xác lập khung lý thuyết. Luận án chứng minh rằng mỗi nhóm tư liệu phản ánh một cấp độ phản ánh đời sống tôn giáo:
- Nguồn chính sử và luật pháp thể hiện góc nhìn quan phương của chính quyền trung ương, cung cấp cứ liệu về các quy định thể chế, kiểm soát tăng đồ, xây dựng chùa chiền và các đại lễ cấp quốc gia.
- Nguồn bi ký phản ánh sinh hoạt tôn giáo ở cấp độ cộng đồng địa phương (đạo tràng, làng xã), lưu giữ thông tin chân thực về hành vi công đức, tu tạo chùa cảnh, cúng tiến ruộng đất và bầu Hậu.
- Nguồn văn chương bộc lộ chiều kích tâm linh, niềm tin và sự chiêm nghiệm giáo lý của từng cá nhân trí thức, quan lại và vua chúa.
Về mặt lý luận, chương 1 xác định các khái niệm công cụ: tư tưởng Phật giáo, đối tượng thờ, Tăng bảo, cộng đồng Phật giáo, thực hành tôn giáo, cơ sở thờ tự, Tam giáo đồng nguyên và tín ngưỡng bản địa. Luận án khẳng định sự cần thiết phải phân tích Phật giáo theo logic vận hành từ niềm tin bên trong đến hành vi bên ngoài.
Chương 2: BỐI CẢNH PHẬT GIÁO HIỆN DIỆN Ở ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ
Chương 2 phân tích tiền đề lịch sử và môi trường xã hội trực tiếp sản sinh ra diện mạo Phật giáo thời Lê sơ qua hai nhóm nhân tố:
Đặc điểm Phật giáo trước thời Lê sơ:
- Thời Trần: Phật giáo đạt tới mô hình thống nhất dưới Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân Tông sáng lập, dung hợp tinh hoa của ba dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, đồng thời tích hợp yếu tố Mật giáo. Phật giáo thời kỳ này mang tính quý tộc hóa cao; tầng lớp quý tộc, hoàng thất vừa đóng vai trò lãnh đạo giáo hội, vừa cung cấp nguồn bảo trợ vật chất to lớn thông qua chế độ thái ấp, điền trang, hiến cúng hàng ngàn mẫu ruộng và nông nô ("Tam Bảo nô"). Chùa chiền thời Trần mở rộng quy mô, chuyển đổi hệ thống đình trạm thành chùa đắp tượng Phật (năm 1231), và từng là địa điểm tổ chức các kỳ thi quốc gia (thi Tam giáo năm 1227, 1247; thi Thái học sinh tại chùa Vạn Phúc năm 1384). Tình trạng lợi dưỡng dẫn đến sự gia tăng quá mức số lượng tăng đồ và suy giảm phẩm hạnh vào cuối thời Trần, buộc triều đình phải sa thải, sát hạch tăng sĩ (năm 1382, 1386).
- Thời thuộc Minh (1407–1427): Sự đô hộ của nhà Minh làm biến dạng sinh hoạt Phật giáo bản địa, áp đặt các thiết chế tăng quan và chính sách đồng hóa, tạo nên một giai đoạn gián đoạn phức tạp.
Bối cảnh xã hội Đại Việt thời Lê sơ (1428–1527):
- Chính trị và kinh tế: Kinh tế điền trang quý tộc bị bãi bỏ, thay thế bằng chế độ quân điền và lộc điền. Bộ máy quan liêu Nho giáo tuyển chọn qua khoa cử thay thế tầng lớp quý tộc huyết thống. Làng xã củng cố tính tự trị theo nguyên tắc "ruộng công làng nào làng ấy cày".
- Văn hóa và tôn giáo: Nhà nước chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng quản lý hành chính, pháp luật và luân lý xã hội. Tuy nhiên, Nho giáo không khỏa lấp được nhu cầu tâm linh, cứu độ và giải tỏa các lo âu hiện sinh của người dân. Phật giáo mất vị thế quốc giáo nhưng nhanh chóng thích nghi bằng cách dịch chuyển địa bàn sinh hoạt trọng tâm về không gian văn hóa làng xã, kết hợp chặt chẽ với tâm thức dân gian.
Chương 3: ĐỜI SỐNG PHẬT GIÁO THỜI LÊ SƠ QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM
Chương 3 là phần trọng tâm khảo sát thực chứng của luận án, phục dựng chi tiết các thành tố của đời sống Phật giáo dựa trên khối tư liệu bi ký và thư tịch:
Niềm tin và đối tượng thờ tự:
Tư liệu Hán Nôm chứng minh niềm tin Phật giáo thời Lê sơ tiếp tục hướng về Tam bảo, Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, cùng hệ thống Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Quan niệm nghiệp báo, luân hồi, nhân quả và nguyện vọng cầu siêu, cầu an, tích phúc chi phối mạnh mẽ hành vi của các tầng lớp xã hội.
Thực hành Phật giáo và cơ sở thờ tự:
- Hoạt động trùng tu, mở rộng am tự diễn ra liên tục tại các địa phương do cộng đồng làng xã tự nguyện đóng góp, không còn dựa hoàn toàn vào ngân khố triều đình như trước.
- Hoạt động cúng tiến ruộng đất (tự điền) làm của Tam bảo và tục gửi giỗ Hậu (bầu Hậu Phật) tại chùa xuất hiện phổ biến trong văn bia, phản ánh sự gắn kết giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gia đình với không gian thiêng của Phật giáo.
- Các nghi thức tụng niệm, sám hối, trai đàn chẩn tế và tham gia các hoạt động công ích xã hội (như tu bổ cầu cống, lập bến đò thiện nguyện được ghi nhận tại bia Vạn Thọ năm 1522 và bia Cù Sơn độ ký năm 1525).
Cộng đồng Phật giáo thời Lê sơ:
Cộng đồng Phật giáo thời kỳ này có sự phân hóa và biến chuyển rõ nét:
- Tăng sĩ: Chịu sự quản lý của nhà nước thông qua việc cấp độ điệp và khảo hạch kinh điển (khảo hạch năm 1429); số lượng không ồ ạt như cuối Trần nhưng giữ vai trò duy trì nghi lễ và hoằng hóa tại các tự viện địa phương.
- Hoàng tộc: Vẫn duy trì niềm tin Phật giáo ở phương diện cá nhân. Các văn bia tại khu lăng miếu Lam Sơn (Chiêu Lăng bi, Dụ Lăng bi, bia Khôi Nguyên chí đức) ghi lại niềm tin, mộng triệu Phật giáo và đức hạnh tu tập của các Hoàng thái hậu (như Ngô Thị Ngọc Dao). Vua chúa như Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Tương Dực để lại nhiều bài thơ ngự đề tại các danh thắng chùa tháp (chùa Long Đọi, núi Dục Thúy, động Kính Chủ, chùa Quang Khánh).
- Tầng lớp quan lại, trí thức: Vừa thi hành chức trách Nho gia, vừa đóng góp tu tạo tự viện, soạn văn bia Phật giáo (như Lương Thế Vinh soạn văn bia chùa, biên soạn sách Phật học; các tác phẩm của Nguyễn Trãi).
- Thiện nam tín nữ bình dân: Lực lượng đông đảo nhất, giữ vai trò chủ lực bảo trợ kinh tế và duy trì sức sống của chùa làng thông qua các hội thiện, phường cúng dường.
Phân bố niên đại của 33 văn bia Phật giáo tạo lập thời Lê sơ:
| Triều vua |
Niên hiệu / Thời gian |
Số lượng văn bia |
Văn bia tiêu biểu |
| Lê Thái Tông |
Thiệu Bình (1434–1439) |
01 |
Bảo Lai tự phụng Phật bệ (1434, Thanh Hóa) |
| Lê Thánh Tông |
Quang Thuận, Hồng Đức (1460–1497) |
13 |
Bia chùa Long Đọi (1467), Quang Khánh tự bi (1486) |
| Lê Hiến Tông |
Cảnh Thống (1498–1504) |
06 |
Văn bia ngự chế núi Dục Thúy (1501), Nga Phú (1501) |
| Lê Uy Mục |
Đoan Khánh (1505–1509) |
02 |
Các văn bia trùng tu tự viện địa phương |
| Lê Tương Dực |
Hồng Thuận (1509–1516) |
06 |
Bia chùa Quang Khánh (1515), ngự đề núi Dục Thúy |
| Lê Chiêu Tông |
Quang Thiệu (1516–1522) |
01 |
Văn bia Vạn Thọ (1522, Hoằng Hóa, Thanh Hóa) |
| Lê Cung Hoàng |
Thống Nguyên (1522–1527) |
02 |
Cù Sơn độ ký (1525, Quốc Oai, Hà Nội) |
| Tổng số |
1428 – 1527 |
33 |
|
Chương 4: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG VĂN HÓA ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM
Chương 4 vận dụng lý thuyết chức năng để làm rõ tác động đa diện của Phật giáo đối với xã hội:
- Trong văn hóa tư tưởng: Tinh thần từ bi, bình đẳng, nghiệp báo của Phật giáo bổ khuyết cho tính tôn ti, nghiêm khắc của đạo đức Nho giáo, làm mềm hóa các mối quan hệ xã hội, thấm nhuần vào quan điểm thương dân, hiếu sinh của các nhà lãnh đạo và tác gia văn học.
- Trong văn hóa kiến trúc: Kiến trúc chùa tháp thời Lê sơ chuyển dịch về quy mô vừa phải, gắn bó hữu cơ với cảnh quan làng quê; nghệ thuật điêu khắc hoa văn trên bia đá, chân bệ hoa sen bảo lưu phong cách truyền thống kết hợp nét chạm khắc đặc trưng thời Lê.
- Trong lối sống: Phật giáo định hình lối sống vị tha, hướng thiện, thực hành hạnh bố thí thông qua việc cứu trợ người nghèo, đóng góp làm đường sá, xây dựng cầu đò phục vụ dân sinh.
- Trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng:
- Tương tác Tam giáo: Không tồn tại sự đối kháng triệt tiêu giữa Nho, Phật và Đạo; thay vào đó là sự bổ sung chức năng. Nho giáo điều hành chính trị - xã hội thế tục; Đạo giáo cung cấp các phương thuật tương tác với giới tự nhiên; Phật giáo quản lý an ninh tâm linh, giải thích ý nghĩa sinh tử và luân hồi.
- Hội nhập tín ngưỡng bản địa: Phật giáo dung hợp chặt chẽ với tín ngưỡng nông nghiệp (thờ Tứ Pháp cầu mưa), tín ngưỡng thờ Thần Hoàng làng và tục thờ Mẫu, tạo nên diện mạo Phật giáo dân gian đặc trưng của người Việt.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:
Đóng góp mới về khoa học và lý luận:
- Là công trình chuyên khảo độc lập đầu tiên nghiên cứu Phật giáo thời Lê sơ dưới góc độ chuyên ngành Tôn giáo học, kết hợp liên ngành với Hán Nôm học, Sử học và Triết học.
- Mở rộng và hệ thống hóa nguồn tư liệu nghiên cứu: Thay vì chỉ dựa vào chính sử, luận án khai thác đồng bộ ba nguồn tư liệu Hán Nôm cốt lõi (sử ký - luật lệ, văn bia và tác phẩm văn chương), chứng minh giá trị bổ trợ lẫn nhau của các loại hình văn bản trong việc tái hiện lịch sử tôn giáo.
- Luận giải đời sống Phật giáo theo nguyên lý cấu trúc tôn giáo: Đặt niềm tin làm hạt nhân chỉ đạo thực hành, từ đó định hình cộng đồng và cơ sở vật chất, giúp làm rõ sinh hoạt Phật giáo ở nhiều bình diện xã hội (hoàng tộc, trí thức quan lại, thứ dân).
- Xác lập luận điểm khoa học mới về vị thế Phật giáo thời Lê sơ: Bác bỏ quan điểm đơn giản hóa cho rằng Phật giáo bị suy đồi hoặc triệt tiêu dưới thời Lê sơ. Luận án chứng minh Phật giáo chỉ chuyển dịch chức năng: rút lui khỏi vị trí ý thức hệ chính trị trung ương để thâm nhập sâu rộng vào đời sống văn hóa làng xã, giữ vai trò cân bằng tâm lý và liên kết xã hội.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Đề xuất tăng cường công tác sưu tầm, dập thác bản và bảo tồn các văn bia thời Lê sơ còn nằm rải rác tại các di tích địa phương nhằm tránh nguy cơ hư hại do thời tiết và hoạt động xây dựng tự phát.
- Đề nghị tiếp tục rà soát, hiệu chính các bản dịch thuật ngữ Phật học trong các bộ chính sử và văn khắc Hán Nôm đã xuất bản trước đây để phục vụ nghiên cứu lịch sử văn hóa dân tộc.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giáo dục truyền thống, phát huy các giá trị đạo đức, tinh thần nhập thế và từ bi của Phật giáo trong công cuộc xây dựng khối đại đoàn kết và phát triển bền vững hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Nguồn tư liệu Hán Nôm thời Lê sơ qua hơn 500 năm đã bị thất lạc, hủy hoại đáng kể qua các biến cố lịch sử và chiến tranh.
- Nhiều văn bia còn lại hiện nay bị bào mòn, mờ chữ, mất nét, gây khó khăn cho việc đọc và giải mã toàn văn nội dung.
- Do giới hạn về thời gian và điều kiện điền dã, nghiên cứu sinh chưa thể khảo sát triệt để toàn bộ các di tích và thác bản văn bia Hán Nôm còn lưu giữ tại một số làng xã vùng sâu, vùng xa.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục mở rộng phạm vi điền dã, sưu tầm các văn bia thời Lê sơ mới phát hiện tại các địa phương để bổ sung vào cơ sở dữ liệu.
- Kết hợp nghiên cứu tư liệu thành văn Hán Nôm với các phát hiện mới của ngành Khảo cổ học (khảo cổ học tôn giáo, khảo cổ học thời Lê sơ) nhằm đối chứng, làm sáng tỏ thêm về quy mô và kỹ thuật xây dựng cơ sở thờ tự Phật giáo thời kỳ này.
Giá trị tham khảo
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng:
- Cán bộ nghiên cứu và giảng viên: Cung cấp tư liệu chuyên sâu và khung phân tích liên ngành cho các ngành Tôn giáo học, Lịch sử Việt Nam, Hán Nôm học, Triết học và Văn hóa học.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Làm tài liệu tham khảo phương pháp luận về kỹ thuật xử lý, phê phán sử liệu văn bản Hán Nôm và kỹ thuật khảo sát văn khắc trong nghiên cứu lịch sử tôn giáo.
- Nhà quản lý văn hóa và tôn giáo: Cung cấp luận cứ lịch sử giúp nhận định đúng đắn về sự tương tác giữa chính quyền thế tục và các tổ chức tôn giáo, cũng như cơ chế dung hợp giữa tôn giáo du nhập và tín ngưỡng bản địa trong lịch sử quản trị quốc gia.
- Phần đáng tham khảo nhất trong luận án: Hệ thống danh mục, bản dịch và chú giải 40 văn bia Hán Nôm chứa sử liệu Phật giáo thời Lê sơ cùng chương phân tích đời sống tôn giáo từ các cứ liệu bi ký thực địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu văn bia thời Lê sơ và phân bố theo niên đại các triều vua như thế nào?
Luận án khảo sát tổng cộng 40 văn bia có chứa sử liệu Phật giáo, trong đó có 33 văn bia được tạo lập trực tiếp trong giai đoạn Lê sơ (1428–1527). Số lượng văn bia phân bố theo các triều vua gồm: 1 văn bia đời Lê Thái Tông (Bảo Lai tự phụng Phật bệ, 1434), 13 văn bia đời Lê Thánh Tông, 6 văn bia đời Lê Hiến Tông, 2 văn bia đời Lê Uy Mục, 6 văn bia đời Lê Tương Dực, 1 văn bia đời Lê Chiêu Tông và 2 văn bia đời Lê Cung Hoàng (Cù Sơn độ ký, 1525). Các văn bia tập trung nhiều nhất vào nửa sau của thời Lê sơ.
2. Quan điểm của luận án về vị thế của Phật giáo thời Lê sơ có điểm gì khác biệt so với các nhận định trước đây?
Một số học giả trước đây (như Đào Duy Anh, Phan Đại Doãn) cho rằng thời Lê sơ Nho giáo độc tôn nên Phật giáo bị hạn chế mạnh mẽ, suy thoái và bị coi là tà giáo. Luận án chứng minh rằng sự độc tôn của Nho giáo chỉ diễn ra trên bình diện chính trị và quản lý hành chính nhà nước. Trên bình diện xã hội, văn hóa và tâm linh, Phật giáo không bị triệt tiêu mà chuyển dịch không gian sinh hoạt sâu rộng vào làng xã, tiếp tục được các tầng lớp từ hoàng tộc, quan lại trí thức đến thứ dân bảo trợ, giữ vai trò điều hòa tâm lý và đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng.
3. Khung lý thuyết Xã hội học nào được tác giả sử dụng để giải thích sự hiện diện của các nghi lễ Phật giáo thời Lê sơ?
Tác giả sử dụng lý thuyết Chức năng luận (Functionalism) tổng quát và luận điểm chuyên sâu của nhà nhân học Bronislaw Malinowski. Malinowski cho rằng nghi lễ tôn giáo có chức năng giúp con người ứng phó với các trạng thái căng thẳng cảm xúc và "khủng hoảng của cuộc sống" nằm ngoài tầm kiểm soát của lý trí hay kỹ thuật thế tục. Từ đó, luận án lý giải việc triều đình và nhân dân thời Lê sơ vẫn cử hành các nghi lễ Phật giáo (như rước tượng Tứ Pháp cầu mưa, cầu an, giải hạn, tế âm hồn) nhằm tái lập trật tự xã hội và mang lại cảm giác an tâm trước các biến cố thiên tai, dịch bệnh.
4. Khối tư liệu văn chương thời Lê sơ được luận án khai thác gồm những công trình cụ thể nào?
Luận án khai thác các tổng tập và tuyển tập văn chương Hán Nôm gồm: Việt âm thi tập (Phan Phu Tiên biên tập, Nguyễn Tử Tấn phê điểm), Thiên Nam dư hạ tập (Lê Thánh Tông chủ biên, Đỗ Nhuận và Nguyễn Trực biên soạn), Hồng Đức quốc âm thi tập, Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn tuyển tập), và tuyển tập cá nhân Ức Trai di tập / Ức Trai thi tập (Nguyễn Trãi, đặc biệt là phần thơ Nôm trong Quốc âm thi tập).
5. Điểm khác biệt căn bản về cơ sở kinh tế của Phật giáo giữa thời Trần và thời Lê sơ là gì?
Thời Trần, cơ sở kinh tế của Phật giáo gắn liền với chế độ thái ấp, điền trang của tầng lớp quý tộc; các vương hầu cúng tiến số lượng lớn đất đai (lên tới hàng ngàn mẫu) và gia nô ("Tam Bảo nô") vào chùa. Sang thời Lê sơ, chế độ điền trang bị xóa bỏ và thay thế bằng chế độ quân điền, lộc điền; làng xã mang tính tự trị cao. Do đó, cơ sở vật chất của Phật giáo thời Lê sơ không còn dựa vào các khoản hiến cúng quy mô lớn của quý tộc mà phân tán, dựa vào sự đóng góp tự nguyện của cộng đồng làng xã qua việc cúng tiến các mảnh ruộng nhỏ làm tự điền và tục gửi giỗ Hậu tại chùa.
Kết luận
Luận án "Phật giáo thời Lê sơ qua tư liệu Hán Nôm" là công trình nghiên cứu chuyên ngành Tôn giáo học phục dựng diện mạo Phật giáo Đại Việt thế kỷ XV–XVI dựa trên việc xử lý đồng bộ ba nguồn văn bản Hán Nôm (sử - luật, bi ký, văn chương). Nghiên cứu khẳng định dù Nho giáo giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống chính trị và quản lý nhà nước thời Lê sơ, Phật giáo vẫn bảo lưu sức sống bền bỉ trong đời sống tâm linh, thích ứng linh hoạt qua không gian văn hóa làng xã và dung hợp mật thiết với tín ngưỡng bản địa. Kết quả luận án góp phần bổ khuyết những nhận định phiến diện về lịch sử tôn giáo thời Lê sơ, cung cấp hệ thống sử liệu văn khắc có độ tin cậy cao và khẳng định vai trò điều hòa văn hóa, xã hội của Phật giáo trong tiến trình lịch sử dân tộc.