Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học (mã số: 931.10) với đề tài "Di sản phủ đệ triều Nguyễn trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay ở thành phố Huế" do nghiên cứu sinh Trần Văn Dũng thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Mạnh (bảo vệ năm 2020).

Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ gia tăng tại thành phố Huế đã và đang làm thay đổi cấu trúc không gian đô thị lịch sử. Sự chuyển đổi từ cấu trúc gia đình truyền thống nhiều thế hệ sang các tiểu gia đình hiện đại dẫn đến tình trạng phân chia, chia cắt quỹ đất khuôn viên phủ đệ để đáp ứng nhu cầu đất ở, xây dựng cơ sở kinh doanh và mở rộng hệ thống giao thông. Nhiều công trình phủ đệ bị biến đổi, xuống cấp, xen lẫn trong các khu dân cư mật độ cao, làm suy giảm giá trị cảnh quan và đe dọa sự tồn tại của loại hình kiến trúc này. Thực tế này đặt ra yêu cầu giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ mục tiêu của Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trên nền tảng bảo tồn, phát huy giá trị di sản cố đô.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình công bố trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát lịch sử hình thành hoặc đánh giá hiện trạng kiến trúc của một số phủ đệ đơn lẻ; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quá trình hình thành, phát triển và quy luật biến đổi của hệ thống di sản phủ đệ triều Nguyễn tại thành phố Huế dưới góc độ Dân tộc học trong bối cảnh đô thị hóa đương đại.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  • Khảo cứu di sản phủ đệ triều Nguyễn ở thành phố Huế trong quá khứ và hiện nay để góp phần làm rõ những đóng góp của di sản văn hóa triều Nguyễn trong kho tàng văn hóa Việt Nam.
  • Nhận diện hệ quả của sự biến đổi theo hướng tích cực và tiêu cực; từ đó xác lập các luận cứ khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản phủ đệ triều Nguyễn trong bối cảnh đô thị hóa tại thành phố Huế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu và tiến hành điều tra khảo sát các di sản phủ đệ triều Nguyễn ở thành phố Huế.
  2. Phân tích, đối sánh sự thay đổi của phủ đệ triều Nguyễn truyền thống với phủ đệ triều Nguyễn hiện nay nhằm làm rõ những biến đổi của di sản này trong bối cảnh đô thị hóa trên địa bàn thành phố Huế; xác định các mặt tích cực và tiêu cực của quá trình biến đổi.
  3. Nghiên cứu các luận cứ khoa học và thực tiễn để bàn luận, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản phủ đệ triều Nguyễn ở thành phố Huế trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm về quy hoạch, cảnh quan, kiến trúc, kết cấu, nghệ thuật trang trí, không gian sinh hoạt, nghi lễ và cơ cấu tổ chức quản lý trong di sản phủ đệ triều Nguyễn; tiếp cận tổng thể từ môi trường tự nhiên, xã hội, con người đến kiến trúc công trình.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát 60 di sản phủ đệ triều Nguyễn trên địa bàn thành phố Huế; trong đó nghiên cứu chuyên sâu 7 di sản phủ đệ tiêu biểu gồm: Phủ đệ Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, Diên Khánh vương, Tuyên Hóa vương, Diên Phúc trưởng công chúa, Ngọc Sơn công chúa và Ngọc Lâm công chúa.
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu các phủ đệ được khởi dựng trong giai đoạn 1802 - 1945 và theo dõi tiến trình biến đổi từ năm 1945 đến năm 2018, trọng tâm là giai đoạn đô thị hóa từ năm 1986 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan thành ba nhóm chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về kiến trúc cung đình triều Nguyễn

  • Các bộ chính sử triều Nguyễn do Quốc Sử Quán và Nội các biên soạn: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Châu bản triều Nguyễn.
  • Các công trình của học giả phương Tây: Léopold Cadière với L'Art à Hué (1919, tái bản 1930) và La Citadelle de Hué: Onomastique (1933) khảo cứu địa danh và công trình trong 10 phường thuộc Kinh thành Huế.
  • Các công trình nghiên cứu trong nước: Đề tài cấp Nhà nước do Đỗ Bang chủ nhiệm (1994); Phan Thuận An với Kinh thành Huế (1999); Phan Thanh Hải với Dấu ấn Nguyễn trong văn hóa Phú Xuân (2002); Nguyễn Thị Thúy Vi, Vũ Hữu Minh, Lê Vĩnh An với Thuật ngữ kiến trúc truyền thống nhà rường Huế (2010); nhóm tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, Trần Lâm Biền, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Nguyễn Hữu Thông với các công trình Mỹ thuật Huế (1992), Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế (1992), Mỹ thuật Nguyễn (2019); Trung tâm Lưu trữ quốc gia I với Ấn chương trên châu bản triều Nguyễn (2013) và Ngự phê trên châu bản triều Nguyễn (2016); các luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Đăng (2002), Phan Tiến Dũng (2005), Phan Thanh Bình (2010).

Nhóm 2: Các nghiên cứu về phủ đệ triều Nguyễn

  • Nguyễn Văn Mại với bài "Ông tám mươi nói chuyện mười tám" (1923) trên tạp chí Nam Phong; L. Sogny với bài viết về dòng họ Tuy Lý vương (1929) trên tập san BAVH; Tôn Thất Cổn với Hoàng tộc lược biên (1943); Bửu Kế với Nếp nhà (1957), "Công chúa hạ giá" (1962), "Hoàng tử nạp phi" (1962); Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc với Nguyễn Phúc Tộc thế phả (1995); Hồ Vĩnh với các khảo cứu về phủ Diên Phúc công chúa (1998) và phủ phòng các hoàng tử con vua Thiệu Trị (2005).
  • Lê Duy Sơn với đề tài Những phủ đệ ở Huế thời các vua Nguyễn (2002) và bài viết năm 2004; Nguyễn Đắc Xuân (2003) nghiên cứu phủ đệ vùng Gia Hội; Vĩnh Cao và Phan Thanh Hải (2007) khảo sát phong thủy nhà vườn; Ngọc Minh và Hà Oanh (2007) nghiên cứu sách đồng; Phan Thanh Hải (2010) khảo cứu lăng mộ hoàng gia; Huỳnh Công Bá (2012) nghiên cứu Tôn Nhân Phủ; Trần Đức Anh Sơn với các bài viết về phủ đệ Huế (2012, 2016); Phan Thuận An (2016) khảo cứu hoành phi phủ Ngọc Sơn công chúa và văn ngự chế thời Khải Định; Masatoshi Imai (2016) phân tích kiến trúc phủ Diên Phúc trưởng công chúa; Võ Vinh Quang (2016, 2019) dịch thuật văn bia và sách phong.

Nhóm 3: Các nghiên cứu về phủ đệ triều Nguyễn trong bối cảnh đô thị hóa

  • Trần Đình Hằng với bài viết về sự phân rã nhà vườn đường Bùi Thị Xuân (2002); Lê Nguyễn Lưu với Văn hóa Huế xưa - Đời sống văn hóa cung đình (2006); Nguyễn Hữu Thông với Nhà vườn xứ Huế (2008); Phan Thanh Hải với "Phủ đệ - Loại hình kiến trúc quý tộc Huế" (2008); Lê Quang Thái với "Tản mạn về phủ đệ dưới thời các vua Nguyễn" (2012); nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Tùng, Hirohide Kobayashi, Nawit Ongsavangchai, Miki Yoshizumi với Sự chuyển đổi và bảo tồn nhà vườn truyền thống trong khu vực Kinh thành Huế, Việt Nam (2016).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Luận án định vị là công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn diện về di sản phủ đệ triều Nguyễn tại thành phố Huế, tập trung phân tích tiến trình biến đổi dưới các tác động kinh tế - xã hội giai đoạn 1986 - 2018 từ góc độ Dân tộc học/Nhân học, xác định các hệ quả và đề xuất mô hình quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị thích ứng với quá trình đô thị hóa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các khái niệm và cơ sở lý luận

  • Di sản: Tiếp cận theo định nghĩa của Hội nghị Di sản toàn quốc tại Anh (1983) và các văn kiện của UNESCO, coi di sản là các giá trị vật thể và phi vật thể thuộc về quá khứ được các thế hệ trước gìn giữ, trao truyền cho hiện tại và hướng tới tương lai.
  • Phủ đệ: Khái niệm được xác định theo điển chế triều Nguyễn. Phủ đệ là dinh cơ dành riêng làm nơi ở của các hoàng tử và hoàng nữ khi trưởng thành được phong tước thân công hoặc công chúa (phân biệt với tư dinh của quan lại). Sau khi chủ nhân qua đời, nhà chính chuyển đổi chức năng thành nơi thờ tự (phủ thờ), được các thế hệ hậu duệ quản lý và hương khói.
  • Đô thị hóa: Tiếp cận theo quan điểm của Trần Cao Sơn và Mạc Đường, xác định đô thị hóa là quá trình biến đổi kinh tế - xã hội, chuyển dịch từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, gia tăng mật độ dân cư và chuyển đổi cấu trúc sử dụng đất.
  • Khung lý thuyết:
    • Lý thuyết biến đổi văn hóa: Vận dụng mô hình 3 giai đoạn của Kurt Lewin (1951) gồm rã đông (unfreezing), biến đổi (changing) và tái đông (refreezing); quan điểm của Auguste Comte, Karl Marx và Gérald Zaltman - Robert Duncan (1997) về các yếu tố thúc đẩy và cản trở biến đổi xã hội.
    • Thuyết cơ cấu - chức năng (Structural Functionalism): Dựa trên quan điểm của Bronisław Malinowski (1926) để khảo sát chức năng của các thành tố văn hóa, thiết chế gia đình, dòng họ hoàng tộc trong việc bảo tồn không gian phủ đệ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp Dân tộc học/Nhân học:
    • Điền dã dân tộc học tại 60 di sản phủ đệ ở thành phố Huế.
    • Quan sát tham dự các thực hành nghi lễ thờ cúng, sinh hoạt gia đình tại phủ đệ.
    • Phỏng vấn sâu cá nhân và phỏng vấn bán cấu trúc đối với chủ sở hữu/người quản lý phủ đệ, đại diện Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc, đại diện nhóm Nhúm Lửa Nhỏ, các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa và cán bộ quản lý di sản thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế.
    • Thảo luận nhóm tập trung về các vướng mắc trong quản lý, trùng tu và phân chia thừa kế.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phân tích và đối sánh văn bản sử liệu Hán Nôm, phương pháp thống kê xã hội học, đo vẽ khảo sát kiến trúc thực địa và phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tư liệu thành văn: Các bộ chính sử và văn bản hành chính triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí, Châu bản triều Nguyễn), gia phả dòng họ hoàng tộc (Nguyễn Phúc Tộc thế phả), cùng hệ thống sách báo, kỷ yếu hội thảo chuyên ngành.
  • Nguồn tư liệu điền dã: Dữ liệu thực địa thu thập từ 60 phủ đệ tại thành phố Huế, bao gồm sơ đồ phân bố, bản vẽ kiến trúc (mặt bằng, mặt đứng), hệ thống ảnh chụp hiện trạng, phiếu điều tra xã hội học và các bản ghi âm phỏng vấn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành phủ đệ triều Nguyễn

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết, tổng thuật tư liệu và phân tích các nhân tố quy định sự hình thành của phủ đệ triều Nguyễn:

  • Nhân tố tự nhiên, địa lý và thuật phong thủy: Vị trí kinh đô Huế gắn liền với trục sông Hương, núi Ngự Bình; quy hoạch phủ đệ tuân thủ các nguyên tắc phong thủy phương Đông với cấu trúc tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền án, hậu chẩm và minh đường.
  • Nhân tố lịch sử và ý thức hệ phong kiến: Khung khổ Nho giáo quy định điển chế xây dựng, phân biệt đẳng cấp tước vị hoàng gia thông qua quy mô gian nhà, chất liệu và đồ án trang trí.
  • Nhân tố giao thoa văn hóa Đông - Tây: Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX (đặc biệt dưới triều vua Khải Định), kiến trúc phủ đệ tiếp nhận kỹ thuật xây dựng và vật liệu phương Tây (bê tông, cốt thép, cửa vòm cuốn, kính màu) kết hợp với trang trí khảm sành sứ và đắp nổi phù điêu, thể hiện qua các công trình như phủ Tuyên Hóa vương, phủ Hoài Ân vương hay cung An Định.

Chương 2: Phủ đệ triều Nguyễn ở Kinh đô Huế trước năm 1945

Chương 2 phục dựng lịch sử hình thành, quy chuẩn kiến trúc và giá trị văn hóa của phủ đệ trong thời kỳ quân chủ:

  • So sánh khu vực và lịch sử: Đối sánh phủ đệ triều Nguyễn với vương phủ Đông Á (Tĩnh Giang vương phủ, Trịnh thân vương phủ ở Trung Quốc; Katsura Rikyu ở Nhật Bản; Donggung ở Hàn Quốc) và phủ đệ thời Lý, Trần, Lê, chúa Nguyễn tại Việt Nam. Điểm khác biệt là phủ đệ triều Nguyễn tại Huế thuộc sở hữu thừa kế của các chi phái dòng họ hoàng tộc và trở thành nơi thờ tự sau khi chủ nhân qua đời.
  • Tiến trình thay đổi điển lệ kiến trúc qua các triều vua:
Triều vua Năm ban hành điển lệ Quy chuẩn kiến trúc chính đường Quy định chi tiết khác
Gia Long 1816 5 gian 2 chái (tiền đường 7 gian) Nhà kép ("trùng thiềm điệp ốc"), lợp ngói âm dương, tường gạch bao quanh, cửa có bình phong.
Minh Mạng 1822 3 gian 2 chái (tiền đường 3 gian 2 chái) Lợp ngói âm dương; định rõ quy chuẩn hành lang cánh gà và nhà bếp.
Minh Mạng 1838 Khống chế quy mô nhà kép Cấm làm nhà quá 3 sổng nóc; nghiêm cấm đắp vẽ hoa văn rồng phượng xa xỉ.
Thiệu Trị 1843 3 gian 2 chái (dạng nhà đơn) Cắt giảm tòa tiền đường; tường bao quanh rộng 64 trượng, cao 5 thước 5 tấc.
  • Đặc điểm cấu trúc không gian: Quần thể phủ đệ gồm bến phủ ven sông, cổng phủ, tường bao (la thành), bình phong, non bộ, sân vườn, nhà chính (kết cấu khung gỗ nhà rường 3 gian 2 chái), nhà phụ (nhà ngang, nhà bếp) và khu vườn cảnh.
  • Vai trò văn hóa: Phủ đệ đóng vai trò cầu nối chuyển tiếp văn hóa giữa cung đình và dân gian; là trung tâm sáng tác văn học nghệ thuật (như thi đàn Mặc Vân thi xã tại phủ Tùng Thiện vương và Tuy Lý vương), bảo lưu nghệ thuật ẩm thực, gia lễ và nếp sống quý tộc.

Chương 3: Biến đổi di sản phủ đệ triều Nguyễn ở thành phố Huế

Chương 3 lượng hóa và phân tích diện mạo biến đổi của 60 di sản phủ đệ khảo sát qua hai giai đoạn 1945 - 1986 và 1986 - 2018:

  • Biến đổi khuôn viên đất đai: Sức ép gia tăng dân số và nhu cầu tách hộ khiến diện tích đất vườn bị chia nhỏ; nhiều phủ đệ bị cắt giảm diện tích khuôn viên để xây dựng nhà ở cho các thế hệ con cháu hoặc chuyển nhượng cho người ngoài dòng tộc.
  • Biến đổi kiến trúc công trình:
Thành tố kiến trúc Tình trạng bảo tồn nguyên vẹn Tình trạng biến đổi / Mất mát
Nhà chính Một số phủ giữ được kết cấu khung gỗ nhà rường truyền thống Nhiều công trình bị hư hỏng, thay thế vật liệu hiện đại (tường gạch xi măng, mái tôn) hoặc bị phá hủy hoàn toàn.
Nhà phụ Tỷ lệ bảo tồn thấp Đa số bị phá bỏ hoặc xây mới thành nhà ống bê tông cốt thép nhiều tầng.
Cổng và Bình phong Bảo lưu ở các phủ có diện tích lớn Phần lớn bị phá dỡ do mở rộng đường giao thông hoặc chia lô đất ở.
Bến phủ và La thành Hầu như không còn nguyên vẹn Bị lấn chiếm bởi các công trình dân sinh và cơ sở hạ tầng đô thị.
  • Nguyên nhân biến đổi: Áp lực nhân khẩu (nhân mãn trong các gia đình hoàng phái); điều kiện kinh tế của các gia đình thừa tự gặp khó khăn trong việc chi trả kinh phí duy tu, sửa chữa nhà rường; tác động của cơ chế thị trường; bất cập trong cơ chế quản lý quy hoạch đô thị và thủ tục công nhận quyền sở hữu nhà đất đồng thừa kế.
  • Hệ quả biến đổi:
    • Mặt tích cực: Một số phủ đệ chủ động chuyển đổi công năng sang dịch vụ văn hóa, du lịch trải nghiệm, tạo nguồn thu duy trì việc thờ tự.
    • Mặt tiêu cực: Phá vỡ không gian cảnh quan lịch sử, làm biến dạng kiến trúc quý tộc truyền thống, làm mai một các giá trị văn hóa phi vật thể và nề nếp gia phong hoàng tộc.

Chương 4: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản phủ đệ triều Nguyễn ở thành phố Huế trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay

Chương 4 đánh giá thực trạng quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn:

  • Đánh giá thực trạng: Hầu hết các phủ đệ thuộc quyền sở hữu tư nhân hoặc đồng sở hữu của nhiều nhánh dòng họ (đất hương hỏa), dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất phương án tu bổ hoặc lập hồ sơ xếp hạng di tích; kinh phí bảo tồn từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
  • Phân tích ma trận SWOT: Xác định rõ các điểm mạnh (giá trị lịch sử, kiến trúc, văn hóa phong phú), điểm yếu (sở hữu phân tán, nguồn lực tài chính hạn chế), cơ hội (chính sách phát triển đô thị di sản theo Nghị quyết 54-NQ/TW, nhu cầu du lịch văn hóa tăng cao) và thách thức (áp lực đô thị hóa, biến đổi khí hậu, nguy cơ mai một thế hệ thừa tự).
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    1. Giải pháp cơ chế, chính sách: Ban hành chính sách hỗ trợ kinh phí trùng tu nhà rường phủ đệ từ ngân sách địa phương; giải quyết vướng mắc pháp lý về quyền thừa kế nhà đất hương hỏa.
    2. Giải pháp phân loại và xếp hạng di tích: Khảo sát toàn diện để phân nhóm phủ đệ theo mức độ nguyên vẹn; lập hồ sơ xếp hạng di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia cho các công trình tiêu biểu.
    3. Giải pháp quy hoạch và quản lý không gian: Đưa hệ thống phủ đệ vào quy hoạch bảo tồn đô thị di sản Huế; kiểm soát chiều cao và mật độ xây dựng của các công trình phụ cận.
    4. Giải pháp phát triển du lịch bền vững: Xây dựng các tuyến tham quan du lịch chuyên đề di sản phủ đệ (kết nối phủ Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, Ngọc Sơn công chúa...); phát triển sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa ẩm thực, ca Huế và nếp sống gia đình quý tộc.
    5. Giải pháp cộng đồng: Tăng cường vai trò của Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc và chủ nhân di sản trong việc quản lý, tự bảo tồn và trao truyền giá trị văn hóa phi vật thể.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học

  • Luận án là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống dưới góc độ Dân tộc học về di sản phủ đệ triều Nguyễn tại thành phố Huế, cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của loại hình kiến trúc này trong tiến trình lịch sử.
  • Làm rõ diện mạo, đặc điểm cấu trúc không gian và chức năng văn hóa - xã hội của phủ đệ trong mối quan hệ giao thoa giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian xứ Huế.
  • Phân tích và lượng hóa các biểu hiện biến đổi của phủ đệ dưới tác động của quá trình đô thị hóa giai đoạn 1986 - 2018; chỉ ra các quy luật, nguyên nhân và hệ quả văn hóa - xã hội của quá trình này.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực địa chi tiết về 60 di sản phủ đệ tại thành phố Huế, làm cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác lập quy hoạch bảo tồn, trùng tu và tôn tạo di tích.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn về quyền sở hữu, hỗ trợ tài chính cho các chủ nhân di sản và định hướng khai thác tuyến du lịch phủ đệ, đóng góp vào mục tiêu xây dựng Thừa Thiên Huế thành đô thị di sản theo tinh thần Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, phạm vi khảo sát thực địa của luận án mới tập trung chủ yếu trên địa bàn thành phố Huế (60 công trình), chưa thể mở rộng điều tra toàn diện các phủ đệ phân bố tại các huyện lân cận như Phú Vang, Quảng Điền và Phú Lộc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn nghiên cứu sang các huyện phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm lập danh mục đầy đủ về hệ thống phủ đệ triều Nguyễn; đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống văn tự Hán Nôm (sách đồng, hoành phi, đối liễn, văn bia, sắc phong) và các giá trị di sản văn hóa phi vật thể đang được lưu giữ tại từng phủ phòng.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tư liệu và cơ sở khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Sở Xây dựng và UBND thành phố Huế trong việc xây dựng quy chế quản lý kiến trúc đô thị, ban hành chính sách hỗ trợ bảo tồn nhà vườn, phủ đệ và lập hồ sơ xếp hạng di tích.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Thuộc các chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Lịch sử, Văn hóa học, Kiến trúc và Mỹ thuật khi nghiên cứu về văn hóa cung đình triều Nguyễn, kiến trúc truyền thống Huế và vấn đề biến đổi văn hóa trong đô thị hóa.
  • Doanh nghiệp du lịch: Tham khảo các đề xuất tuyến điểm để xây dựng sản phẩm du lịch di sản văn hóa đặc trưng tại Cố đô Huế.

Câu hỏi thường gặp

1. Phủ đệ dưới triều Nguyễn có sự phân biệt như thế nào so với nơi ở của các quan lại cùng thời?

Theo điển lệ triều Nguyễn, danh xưng "phủ đệ" chỉ được dùng để chỉ nơi ở của các hoàng tử và hoàng nữ được nhà vua phong tước thân công hoặc công chúa. Nơi ở của các quan lại và tầng lớp quý tộc khác chỉ được gọi là "tư dinh" hoặc "tư thất". Sau khi chủ nhân qua đời, nhà chính trong phủ đệ chuyển đổi chức năng thành nơi thờ tự (phủ thờ), được con cháu dòng họ gìn giữ và hương khói qua các thế hệ.

2. Quy mô kiến trúc chính đường của phủ đệ thay đổi như thế nào từ thời vua Gia Long đến thời vua Thiệu Trị?

Năm 1816, vua Gia Long quy định tòa chính đường phủ đệ gồm 5 gian 2 chái, tiền đường 7 gian, xây dựng theo dạng nhà kép ("trùng thiềm điệp ốc"). Năm 1822, vua Minh Mạng giảm quy mô chính đường và tiền đường xuống còn 3 gian 2 chái; đến năm 1838 nghiêm cấm xây nhà kép quá 3 sổng nóc và cấm đắp vẽ hoa văn xa xỉ. Đến năm 1843, vua Thiệu Trị bãi bỏ hoàn toàn tòa tiền đường, quy định chính đường phủ đệ chỉ làm nhà rường đơn 3 gian 2 chái để tiết kiệm ngân khố và phù hợp với số lượng hoàng thân tăng lên.

3. Luận án đã tiến hành khảo sát thực địa bao nhiêu di sản phủ đệ và chọn nghiên cứu chuyên sâu những công trình nào?

Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát thực địa tại 60 di sản phủ đệ triều Nguyễn phân bố trên địa bàn thành phố Huế. Trong đó, 7 di sản phủ đệ được lựa chọn để nghiên cứu chuyên sâu gồm: Phủ đệ Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, Diên Khánh vương, Tuyên Hóa vương, Diên Phúc trưởng công chúa, Ngọc Sơn công chúa và Ngọc Lâm công chúa.

4. Những yếu tố chính nào dẫn đến sự biến đổi và thu hẹp khuôn viên phủ đệ giai đoạn 1986 - 2018?

Sự biến đổi bắt nguồn từ: áp lực gia tăng dân số (nhân mãn) khiến đất đai bị chia nhỏ cho các thế hệ con cháu; áp lực kinh tế và giá trị đất đô thị gia tăng dẫn đến việc chuyển nhượng một phần đất vườn; sự phát triển của hạ tầng giao thông đô thị; chi phí duy tu nhà rường gỗ quá cao vượt khả năng chi trả của các gia đình thừa tự; cùng với những vướng mắc pháp lý về quyền sở hữu đất hương hỏa đồng thừa kế.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Văn Dũng đã phục dựng bức tranh lịch sử, cấu trúc kiến trúc và giá trị văn hóa của hệ thống di sản phủ đệ triều Nguyễn tại Kinh đô Huế trước năm 1945. Thông qua các phương pháp Dân tộc học và khảo sát thực địa 60 phủ đệ, công trình đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và hệ quả của quá trình biến đổi di sản dưới tác động của đô thị hóa giai đoạn 1986 - 2018. Trên cơ sở đó, luận án xác lập khung giải pháp liên ngành nhằm bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản phủ đệ gắn với định hướng phát triển đô thị di sản bền vững tại thành phố Huế.