Luận án: Phát triển năng lực hợp tác học sinh Vật lý lớp 10 với máy tính

Dưới đây là các meta tag được tạo cho bài viết "Phát triển năng lực hợp tác Vật lý lớp 10 với máy tính": { "ai_description": "Phát triển kỹ năng hợp tác và

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Khoa học Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

294
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển năng lực hợp tác trong dạy học vật lí

Phát triển năng lực hợp tác là mục tiêu quan trọng trong giáo dục hiện đại. Nghị quyết 29-NQ/TW nhấn mạnh chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học. Năng lực hợp tác giúp học sinh xây dựng mối quan hệ tích cực, chia sẻ và giải quyết vấn đề cùng nhau. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về hợp tác trong dạy học. Johnson & Johnson chỉ ra bản chất quan hệ giữa người học mang tính hợp tác và cạnh tranh tương đối. Đặng Thành Hưng khái quát nhóm hợp tác, chỉ ra tầm quan trọng và nguyên tắc đảm bảo cho dạy học hợp tác thành công. Thái Duy Tuyên khẳng định hợp tác là yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống, diễn ra suốt đời mỗi con người. Trong dạy học vật lí, năng lực hợp tác được hiểu là khả năng phối hợp hoạt động nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập liên quan đến các khái niệm, định luật vật lí. Việc sử dụng máy vi tính hỗ trợ quá trình này tạo môi trường học tập sinh động, tăng tính tương tác và hiệu quả hợp tác cho học sinh.

1.1. Khái niệm năng lực hợp tác trong giáo dục

Năng lực hợp tác là tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết để cá nhân phối hợp hiệu quả với người khác trong hoạt động nhóm. Cấu trúc năng lực hợp tác bao gồm các thành phần: kiến thức về hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tổ chức hoạt động nhóm, kĩ năng giải quyết xung đột và thái độ tôn trọng, lắng nghe. Theo mô hình của Johnson & Johnson, hợp tác học tập đòi hỏi năm yếu tố then chốt: phụ thuộc lẫn nhau tích cực, tương tác trực diện, trách nhiệm cá nhân, kĩ năng giao tiếp nhỏ và đánh giá nhóm. Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam, năng lực hợp tác được xác định là một trong những năng lực chung cần phát triển cho học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông 2018.

1.2. Vai trò của máy vi tính trong dạy học hợp tác

Máy vi tính đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác. Phần mềm mô phỏng cho phép học sinh cùng nhau xây dựng mô hình, phân tích dữ liệu và trực quan hóa các hiện tượng vật lí. Công cụ hỗ trợ học tập tương tác tạo môi trường để học sinh thảo luận, tranh luận và cùng giải quyết vấn đề. Giáo viên có thể sử dụng máy vi tính để thiết kế các nhiệm vụ hợp tác đòi hỏi sự phân công, phối hợp giữa các thành viên nhóm. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học động lực học chất điểm giúp học sinh tiếp cận nội dung trừu tượng một cách trực quan, từ đó tăng cường hiệu quả hợp tác và hiểu biết sâu sắc kiến thức vật lí.

II. Phân tích thực trạng phát triển năng lực hợp tác học sinh lớp 10

Thực trạng dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông cho thấy nhiều hạn chế trong việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh. Phương pháp truyền thống chủ yếu tập trung vào truyền thụ kiến thức một chiều. Giáo viên đóng vai trò trung tâm, học sinh tiếp nhận thụ động. Hoạt động nhóm thường mang tính hình thức, thiếu sự tương tác thực chất giữa các thành viên. Học sinh chưa được rèn luyện kĩ năng giao tiếp, phân công công việc và giải quyết xung đột trong nhóm. Chương trình động lực học chất điểm chứa nhiều khái niệm trừu tượng như vận tốc, gia tốc, lực. Nếu chỉ dạy theo cách truyền thống, học sinh khó hình dung và hiểu sâu các hiện tượng vật lí. Việc đánh giá năng lực hợp tác còn thiếu tiêu chí cụ thể, rubric rõ ràng. Giáo viên chưa được đào tạo đầy đủ về kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả. Những hạn chế này đòi hỏi giải pháp đổi mới phương pháp dạy học, tích hợp công nghệ hỗ trợ để phát triển năng lực hợp tác cho học sinh một cách thực chất.

2.1. Hạn chế trong dạy học truyền thống chương động lực học chất điểm

Dạy học truyền thống chương động lực học chất điểm tồn tại nhiều bất cập. Giáo viên thường giảng giải lí thuyết, cho học sinh giải bài tập theo mẫu. Nội dung kiến thức được trình bày rời rạc, thiếu liên hệ thực tế. Học sinh học thuộc công thức mà không hiểu bản chất hiện tượng. Phương pháp này không tạo cơ hội cho học sinh thảo luận, tranh luận và xây dựng kiến thức cùng nhau. Các khái niệm như chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều, định luật Newton đòi hỏi học sinh phải tư duy trừu tượng. Nếu thiếu phương tiện trực quan và hoạt động hợp tác, việc tiếp thu kiến thức trở nên khó khăn, nhàm chán và kém hiệu quả.

2.2. Khó khăn trong đánh giá năng lực hợp tác của học sinh

Đánh giá năng lực hợp tác đặt ra nhiều thách thức cho giáo viên. Việc nhận diện và đo lường các biểu hiện hành vi hợp tác trong lớp học phức tạp hơn nhiều so với đánh giá kiến thức. Giáo viên khó quan sát đồng thời tất cả nhóm trong giờ học. Tiêu chí đánh giá chưa rõ ràng, thiếu rubric cụ thể với các mức độ chất lượng hành vi. Hệ thống tiêu chí cần bao gồm các chỉ số như: tham gia tích cực, lắng nghe, chia sẻ ý kiến, tôn trọng quan điểm khác, giải quyết xung đột. Mỗi chỉ số cần phân thành nhiều mức độ từ thấp đến cao. Việc xây dựng công cụ đánh giá phù hợp là cơ sở quan trọng để theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong quá trình hình thành năng lực hợp tác.

III. Giải pháp phát triển năng lực hợp tác với sự hỗ trợ máy vi tính

Giải pháp phát triển năng lực hợp tác cho học sinh đòi hỏi sự kết hợp giữa phương pháp dạy học đổi mới và ứng dụng công nghệ thông tin. Thiết kế bài dạy theo hướng hợp tác yêu cầu giáo viên xây dựng nhiệm vụ học tập đòi hỏi sự phối hợp nhóm. Bài học động lực học chất điểm được thiết kế với các hoạt động: thảo luận nhóm xây dựng giả thuyết, thí nghiệm ảo sử dụng phần mềm mô phỏng, phân tích dữ liệu và trình bày kết quả. Máy vi tính hỗ trợ học sinh trực quan hóa chuyển động chất điểm, mô phỏng tác dụng của lực, vẽ đồ thị quãng đường - thời gian. Phần mềm GeoGebra, PhET cho phép học sinh cùng nhau khám phá, kiểm chứng và xây dựng kiến thức. Giáo viên đóng vai trò tổ chức, định hướng, đánh giá hoạt động học tập. Bộ tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác được xây dựng với 8 chỉ số hành vi, mỗi chỉ số có 4 mức độ chất lượng. Rubric đánh giá giúp giáo viên và học sinh theo dõi sự tiến bộ trong quá trình hợp tác học tập vật lí.

3.1. Thiết kế hoạt động dạy học hợp tác chương động lực học chất điểm

Thiết kế hoạt động dạy học hợp tác chương động lực học chất điểm dựa trên nguyên tắc phụ thuộc lẫn nhau tích cực. Mỗi bài học được chia thành các nhiệm vụ nhỏ, phân công cho từng thành viên nhóm. Hoạt động đầu tiên là thảo luận tiền nghiệm để kích hoạt kiến thức sẵn có. Tiếp theo, học sinh sử dụng phần mềm mô phỏng để thí nghiệm ảo, thu thập dữ liệu về chuyển động chất điểm. Các thành viên cùng phân tích dữ liệu, thảo luận kết quả và rút ra định luật vật lí. Cuối cùng, nhóm trình bày kết quả trước lớp, nhận phản hồi từ các nhóm khác. Quá trình này đòi hỏi học sinh vận dụng đồng thời nhiều kĩ năng hợp tác: giao tiếp, tổ chức, lãnh đạo, giải quyết vấn đề và đánh giá.

3.2. Xây dựng rubric đánh giá năng lực hợp tác

Rubric đánh giá năng lực hợp tác được xây dựng dựa trên 8 chỉ số hành vi tương ứng với cấu trúc năng lực hợp tác. Các chỉ số bao gồm: tham gia tích cực hoạt động nhóm, lắng nghe và tôn trọng ý kiến khác, chia sẻ thông tin và kiến thức, đề xuất ý tưởng sáng tạo, phối hợp thực hiện nhiệm vụ, giải quyết xung đột trong nhóm, hoàn thành trách nhiệm cá nhân và đánh giá hoạt động nhóm. Mỗi chỉ số được phân thành 4 mức độ: chưa đạt, đạt, khá, giỏi. Rubric sử dụng công cụ bảng hỏi và bảng kiểm được chia mức độ năng lực cụ thể. Sau thực nghiệm vòng 1, rubric được điều chỉnh qua ý kiến chuyên gia từ các trường đại học sư phạm. Công cụ đánh giá này giúp giáo viên theo dõi sự tiến bộ và điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp.

IV. Kết luận và ứng dụng phát triển năng lực hợp tác dạy học vật lí

Nghiên cứu đã xây dựng và thực nghiệm mô hình phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương động lực học chất điểm vật lí lớp 10 với sự hỗ trợ của máy vi tính. Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả tích cực của mô hình. Học sinh tham gia thực nghiệm có mức độ năng lực hợp tác cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng. Các kĩ năng giao tiếp, tổ chức hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề được cải thiện rõ rệt. Sử dụng máy vi tính trong dạy học giúp trực quan hóa nội dung trừu tượng, tăng hứng thú học tập và hiệu quả hợp tác. Mô hình này phù hợp với định hướng giáo dục hiện đại, chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực. Bộ tiêu chí đánh giá với 8 chỉ số hành vi và rubric 4 mức độ là công cụ hữu ích cho giáo viên. Kết luận đóng góp lí luận và thực tiễn cho việc đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông. Mô hình có thể mở rộng áp dụng cho các chương khác trong chương trình vật lí.

4.1. Đóng góp lí luận của nghiên cứu

Nghiên cứu đã đóng góp nhiều nội dung lí luận quan trọng. Thứ nhất, luận án làm rõ khái niệm, cấu trúc năng lực hợp tác trong bối cảnh dạy học vật lí. Thứ hai, nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển năng lực hợp tác với 3 giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và đánh giá. Thứ ba, luận án thiết kế hệ thống hoạt động dạy học hợp tác chương động lực học chất điểm với sự hỗ trợ máy vi tính. Thứ tư, nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác với 8 chỉ số hành vi và rubric 4 mức độ chất lượng. Các nội dung lí luận này tạo nền tảng khoa học cho việc đổi mới phương pháp dạy học vật lí theo hướng phát triển năng lực người học.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và hướng phát triển

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn đối với giáo viên dạy vật lí. Mô hình phát triển năng lực hợp tác được thiết kế sẵn sàng áp dụng vào thực tế giảng dạy. Hệ thống bài dạy mẫu, phần mềm mô phỏng và rubric đánh giá là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên. Hướng phát triển tiếp theo bao gồm: mở rộng mô hình cho các chương khác trong chương trình vật lí, áp dụng cho các môn khoa học tự nhiên khác, tích hợp thêm công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo. Nghi cứu cũng khuyến nghị đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hợp tác. Việc áp dụng rộng rãi mô hình này góp phần nâng cao chất lượng giáo dục STEM ở trường trung học phổ thông.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương động lực học chất điểm vật lí lớp 10 trung học phổ thơng với sự hỗ trợ của máy vi tính luận án tiến sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Phát triển NL và phát triển NLHT cho HS đã và đang được nhiều nhà NC, nhà lí luận DH quan tâm. Mỗi một công trình NC đều đóng vai trò quan trọng đối với người đọc, người học và là nguồn tư liệu tham khảo quý giá dành cho học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng như những nhà NC khoa học giáo dục. Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Việc phát triển NL và phát triển NLHT cho HS đã được nhiều nhà NC nước ngoài đề cập đến.

Luận án này chỉ tập trung phần lớn vào kết quả của những NC trong khoảng thời gian từ thế kỷ XX cho đến nay. Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài Những công trình NC về NL được quan tâm và trình bày trong nhiều báo cáo của các nhà khoa học nước ngoài. Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực Có nhiều định nghĩa khác nhau về NL, theo đó, trong đề tài NC Các khái niệm về NL (Concepts of Competence), tác giả Franz E. Weinert (1999) đã xác định NL dựa trên nền tảng kiến thức, KN, nhận thức và chiến lược học tập của HS, trong đó, tập trung chủ yếu vào việc đánh giá kiến thức HS.

Việc hiểu NL theo hướng này sẽ có ít nhất bốn ưu điểm như sau: 1) Đối với các cá nhân có NL khác nhau thì sẽ giải quyết được những bài kiểm tra ở các mức độ khác nhau, điều đó dẫn tới việc không cần thiết phải sử dụng những PP phức tạp để đánh giá sự khác biệt về NL tiếp thu kiến thức của HS; 2) Có thể xem các bài kiểm tra được phân thành các mức độ từ dễ đến khó giống như là các tiêu chí đánh giá NL của HS; 3) Trái ngược với quan niệm lấy khả năng làm trung tâm của NL, việc định nghĩa NL tập trung vào kiến thức giúp người dạy có thể ngay lập tức đánh giá được NL của HS thông qua việc đánh giá kết quả giải quyết các nhiệm vụ học tập; 4) Định nghĩa NL theo hướng tập trung vào kiến thức có thể được áp dụng cho số lượng lớn các loại nhiệm vụ được giao trong cuộc 11 sống hàng ngày, trường học và các hoạt động cụ thể. Tuy nhiên, ngoài bốn ưu điểm này, định nghĩa NL tập trung vào kiến thức còn có một nhược điểm cần phải giải quyết, đó là khả năng về mặt trí tuệ của HS sẽ quyết định mức độ và lượng kiến thức mà HS đó đạt được, điều này dẫn tới việc đánh giá theo NL chỉ cung cấp một thước đo rất chung về kiến thức của HS [71]. Công bố kết quả NC của Serik Praliyev và các cộng sự (2013) về sự hình thành NL của HS đã cho thấy: Về mặt bản chất NL là sản phẩm của quá trình học tập, rèn luyện và là kết quả của quá trình tự phát triển, tự cải thiện của cá nhân mỗi HS, không chỉ tiến bộ về mặt kiến thức mà còn về KN được thể hiện qua hành động và kinh nghiệm của bản thân các em. Tác giả còn cho rằng, NL là sự tổng hợp của kiến thức, KN, thái độ của người học, theo đó, NL được chia làm ba loại: 1) Các NL cơ bản được hình thành trên cơ sở kiến thức, KN và được thể hiện qua các hoạt động nhất định; 2) Các NL cốt lõi được thể hiện trong tất cả các loại hoạt động, các khía cạnh của mỗi cá nhân, phản ánh bản chất bên trong và ý nghĩa hoạt động của nó; 3) Các NL đặc thù phản ánh chi tiết, cụ thể về một lĩnh vực hoặc chủ đề nhất định thông qua hoạt động mang tính chuyên biệt.

Cả ba loại NL này có mối liên quan chặt chẽ đến nhau và phát triển cùng một lúc trong quá trình học tập của HS, đồng thời, người học cần phải biết được PP tự kiểm tra, đánh giá và cải thiện các hành động thông qua việc sử dụng bộ tiêu chí đánh giá được xây dựng sẵn nhằm phân chia rõ được các mức độ NL. Có thể thấy, nhóm NC đã đưa ra được định nghĩa về NL cũng như xây dựng được thang đo các tiêu chí đánh giá NL, từ đó, giúp đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm góp phần phát triển NL cho HS [65]. Trong đề tài NC Phương pháp đánh giá NL của HS (Students’competence assessment methods), tác giả Olga Berestneva và các cộng sự (2015) đưa ra nhận định rằng NL là một đặc tính tích hợp (có nghĩa là phẩm chất mới đạt được bằng việc kết hợp kiến thức và khả năng thông qua quá trình rèn luyện), đây chính là kết quả của quá trình DH mà ở đó HS đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập liên quan đến việc phát triển NL. Qua những NC, phân tích và đánh giá cụ thể về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn đối với vấn đề đánh giá NL, tác giả cho rằng hiện tại có những khó khăn nhất định về việc xác định cơ chế hình thành và phát triển NL, chưa có ý 12 kiến chung về cấu trúc của NL.

Do đó, cần phải đưa ra phương án tiếp cận một cách có hệ thống đối với vấn đề NL của HS, cũng như các cơ chế hình thành và phát triển của NL [54]. Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Vấn đề NLHT cũng được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm NC và tìm hiểu từ khá sớm: Đầu thế kỉ XX, tác giả John Dewey đã chỉ ra rằng muốn cùng chung sống trong xã hội thì người học phải trải nghiệm thực tế cuộc sống bằng việc học cách HT với các thành viên trong lớp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Theo ông, sự HT của người học cần phải tuân theo hai nguyên tắc: Đảm bảo nhiệm vụ của các thành viên luôn được thực hiện liên tục và có sự tác động qua lại lẫn nhau [9]. Những công trình NC về học tập HT và nhất là NLHT bắt đầu có sự phát triển mạnh mẽ vào những năm cuối của thế kỉ XX và thật sự bùng nổ vào những năm đầu của thế kỉ XXI với nhiều kết quả đáng chú ý.

Trong đó, phải kể đến David W. Johnson cùng anh trai Roger T. Johnson và các cộng sự đã có rất nhiều những công trình NC chuyên sâu về học tập HT như: Cùng nhau học tập và học một mình: Tổng quan (Learning together and alone: An Overview), Cùng nhau học tập và học một mình: Tổng quan và phân tích tổng hợp (Learning Together and Alone: Overview and Meta- analysis). Các tác giả không ủng hộ cho việc học tập theo tư tưởng cạnh tranh lẫn nhau và chủ nghĩa cá nhân trong trường học, ngược lại, đề cao việc học tập theo nhóm, theo đó các công trình NC của ông và các cộng sự tập trung vào những vấn đề sau: Tổng hợp những hiểu biết về mối liên hệ giữa học tập HT, cạnh tranh và hoạt động cá nhân thông qua việc tìm tòi đánh giá toàn diện các tài liệu hiện có.

Xây dựng mô hình lý thuyết liên quan đến bản chất của sự HT và các thành phần cần thiết để điều chỉnh và mở rộng lý thuyết về các mối ràng buộc xã hội. Các tác giả đã tiến hành một chương trình NC có hệ thống để kiểm tra những lý thuyết mà mình đã đưa ra. Chuyển đổi lý thuyết đã được kiểm chứng thành một bộ các chương trình hành động và PP cụ thể để đưa mô hình HT vào sử dụng trong trường học. Kết quả NC của Johnson và các cộng sự khẳng định rằng HS đạt năng suất làm việc cao hơn khi HT cùng nhau để giải quyết các vấn đề học tập, từ đó thành tích học tập cũng tăng lên.

13 Ngoài ra, việc học tập HT cũng giúp giải quyết tốt hơn các xung đột giữa HS với nhau và một trong những khía cạnh hữu ích nhất học tập HT là việc nâng cao tính chính xác trong việc đánh giá chất lượng học tập của HS [61]. Để sử dụng học tập HT có hiệu quả, GV phải hiểu bản chất của việc HT tích cực, trách nhiệm cá nhân, khuyến khích HS trao đổi lẫn nhau, từ đó góp phần hình thành và phát triển NL xã hội trong hoạt động nhóm. Điều này giúp GV thích ứng với học tập HT trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của HS trong học tập, cũng như có những điều chỉnh trong việc sử dụng PP học tập HT để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình HS làm việc cùng nhau. Có thể thấy việc sử dụng các PP học tập HT có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành và phát triển NLHT, mặc dù không trực tiếp nhắc đến NLHT, tuy nhiên, những công trình đã công bố của các nhà khoa học về học tập HT là nguồn tư liệu quý giá giúp những nhà NC về NLHT có thêm những cơ sở, nhận định quan trọng của việc DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS [62).

Trong giai đoạn từ năm 1978 đến năm 2015, Robert E. Slavin và các cộng sự đã có rất nhiều những NC về học tập HT. Theo Slavin, học tập HT là việc GV sử dụng các PP giảng dạy để tổ chức cho HS làm việc trong một nhóm nhỏ, qua đó, HS hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau tìm hiểu nội dung bài học. Phương pháp học tập HT được NC rộng rãi và trong một số những điều kiện nhất định, đây là PP cải thiện đáng kể thành tích HS trong hầu hết các môn học và lớp học khác nhau [69].

Có bốn PP học tập HT được thể hiện thông qua các quy tắc giao tiếp, đã được các nhà khoa học tiến hành NC tại các trường học. Các PP này có những đặc điểm sau đây: Không tốn nhiều chi phí, dễ thực hiện trong lớp học, có thể áp dụng rộng rãi với các môn học và các lớp học khác nhau, dễ dàng đưa vào các trường học hiện nay và đã được kiểm chứng là có khả năng cải thiện thành tích nhiều hơn so với cách dạy truyền thống. Hai trong số những PP này đã được phát triển, đánh giá tại trường Đại học Johns Hopkins và được sử dụng rộng rãi trong các trường học ở Hoa Kỳ. Phương pháp thứ ba là PP giảng dạy Jigsaw (Jigsaw teaching, Aronson, 1978) đã được sử dụng rộng rãi trong một số trường học và được sửa đổi bởi Slavin.

Phương pháp cuối cùng được phát triển và đánh giá tại Đại học Minnesota, được gọi là PP “học cùng nhau” (learning together, D. Johnson, 1975), PP này đã được đưa 14 vào NC tại nhiều trường học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ