Tổng quan luận án
Đề tài "Chợ ở tỉnh Nam Định từ năm 1831 đến năm 1890" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9229013), do nghiên cứu sinh Bùi Văn Huỳnh thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Minh Tường.
Luận án xuất phát từ tính cấp thiết về mặt học thuật và thực tiễn:
- Về mặt học thuật: Chợ truyền thống là thiết chế kinh tế - xã hội và không gian văn hóa quan trọng của làng xã Việt Nam thời quân chủ. Trong bối cảnh triều Nguyễn lấy hệ tư tưởng Nho giáo làm nền tảng với quan điểm "Dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt" (lấy nông nghiệp làm gốc, thương nghiệp là ngọn), việc nghiên cứu mạng lưới chợ giúp làm rõ chính sách quản lý kinh tế của nhà nước quân chủ cũng như bức tranh nội thương thực tế tại một địa bàn trọng điểm như tỉnh Nam Định thế kỷ XIX.
- Về mặt thực tiễn: Hệ thống chợ truyền thống hiện nay vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong lưu thông hàng hóa (theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 2020, cả nước có 8.581 chợ, chiếm trên 40% giá trị hàng hóa dịch vụ; riêng Nam Định có 201 chợ và Thái Bình có 218 chợ). Việc nghiên cứu nguồn gốc và quy luật vận động của chợ thời Nguyễn cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử cho công tác quy hoạch, phát triển và nâng cấp hệ thống chợ hiện đại.
- Khoảng trống nghiên cứu: Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu độc lập, chuyên sâu và có hệ thống về toàn bộ mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh Nam Định trong khung niên đại từ năm 1831 đến năm 1890.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ nguồn gốc, quy mô, cơ chế hoạt động, các đặc điểm cơ bản và vai trò đa diện của mạng lưới chợ ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn 1831 - 1890. Để đạt được mục đích đó, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát bức tranh kinh tế, xã hội tỉnh Nam Định từ năm 1831 đến năm 1890 để nhận diện các nhân tố tác động thuận lợi và khó khăn đến sự hình thành, hoạt động của mạng lưới chợ.
- Tìm hiểu hệ thống chính sách của triều Nguyễn đối với chợ nói chung và việc thực thi các chính sách này trên địa bàn Nam Định để định hình mạng lưới chợ.
- Làm rõ nguồn gốc ra đời, quy mô tổ chức và các hoạt động kinh tế, quản lý chợ tại tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 - 1890.
- Nghiên cứu mở rộng, so sánh chợ Nam Định với các địa phương lân cận ở đồng bằng Bắc Bộ và giữa các vùng trong nội bộ tỉnh, từ đó đúc kết đặc điểm và vai trò của chợ đối với địa phương và cả nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Nam Định, bao gồm các cấp độ: chợ tỉnh, chợ phủ, chợ huyện và chợ làng; đồng thời tìm hiểu hoạt động của các làng nghề, làng buôn, phố buôn gắn liền với sự lưu thông hàng hóa qua chợ.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1831 (thời điểm vua Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính bãi bỏ cấp trấn, lập tỉnh Nam Định) đến năm 1890 (thời điểm chính quyền thực dân Pháp tách một số phủ, huyện thuộc tả ngạn sông Hồng để lập tỉnh Thái Bình).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 - 1890, bao gồm 4 phủ: Thiên Trường (Xuân Trường), Nghĩa Hưng, Kiến Xương, Thái Bình cùng 2 phân phủ Nghĩa Hưng, Thái Bình (tương ứng với địa bàn tỉnh Nam Định và phần lớn tỉnh Thái Bình ngày nay).
- Phạm vi nội dung: Khảo sát các yếu tố tác động, nguồn gốc, quy mô, phương thức mua bán, hệ thống thuế khóa, đặc điểm phân bố và vai trò kinh tế - văn hóa - đô thị hóa của chợ Nam Định.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và điểm luận các nhóm công trình nghiên cứu liên quan theo từng nhóm chủ đề:
Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội có đề cập đến chợ:
- Tác phẩm của Nguyễn Thế Anh (1968, Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn) phân tích luồng mậu dịch nội thương nhưng chỉ xem chợ làng là nơi trao đổi nhỏ lẻ nông sản và tiểu thủ công nghiệp giữa các làng phụ cận.
- Các công trình của Trương Thị Yến (1979, 1981, 1993, 2004, 2006, 2008), đặc biệt là luận án tiến sĩ Chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX (2004), phân tích toàn diện chính sách thuế, tiền tệ, đo lường và hoạt động của mạng lưới chợ, phường buôn và thương nhân Hoa kiều.
- Các nghiên cứu của Nguyễn Thừa Hỷ (1983, 2010) về kinh tế - xã hội Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XIX cung cấp khung tham chiếu về cơ cấu phố chợ đô thị.
- Các nghiên cứu của Nguyễn Quang Ngọc (1984, 1985, 1989, 1993, 2018) và Phan Đại Doãn (1985, 1992) đi sâu vào kết cấu làng buôn (như làng Báo Đáp ở Nam Định, Đa Ngưu, Phù Lưu) và khẳng định vai trò của chợ làng trong kinh tế nông thôn truyền thống.
- Công trình của Đỗ Bang (1997, Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn) tập trung phân tích chính sách nội thương và hoạt động thương mại chủ yếu tại miền Trung.
- Bộ sách Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học, trong đó tập 5 (Trương Thị Yến chủ biên, 2014) và tập 6 (Võ Kim Cương chủ biên, 2014) trình bày mạng lưới chợ và chính sách thương nghiệp giai đoạn 1802 - 1896.
Nhóm công trình chuyên khảo, luận án nghiên cứu trực tiếp về chợ:
- Luận án của Lê Thị Mai (2002, in sách năm 2004) tiếp cận xã hội học về chợ quê đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới.
- Các ấn phẩm văn hóa học và địa chí của Đỗ Thị Hảo (2010, Chợ Hà Nội xưa và nay), Huỳnh Thị Dung (2011, Chợ Việt - khảo tả 11 chợ tại Nam Định), Trần Gia Linh (2015, Chợ quê Việt Nam), Nguyễn Mạnh Tiến (2017, Sống đời của chợ).
- Luận án của Đinh Thị Thảo (2019, Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn giai đoạn 1802 - 1884) khảo sát hệ thống chợ tại 5 tỉnh Nam Trung Bộ.
- Các bài nghiên cứu chuyên sâu trên tạp chí của Nguyễn Đức Nghinh (1979, 1980, 1981, 1990) về chợ làng, chợ chùa; Nguyễn Thừa Hỷ (1983) về chợ Thăng Long - Hà Nội; Nguyễn Quang Hồng (2004) về chợ Nghệ An thế kỷ XIX; Trương Thị Thu Thảo (2010) về chợ Thừa Thiên Huế; Ngô Vũ Hải Hằng (2013) về chợ thời Mạc; Hà Mạnh Khoa (2007) về chợ Mẹo (Thái Bình).
Nhóm công trình tiếp cận qua tư liệu Hán Nôm:
- Luận văn và bài viết của Đỗ Thị Bích Tuyển (2003, 2006) khảo cứu hệ thống 88 văn bia chợ, trong đó có 5 văn bia tại Nam Định và 4 văn bia tại Thái Bình.
- Công trình Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu Văn bia do Trịnh Khắc Mạnh chủ biên (2015, tái bản 2020) dịch thuật 65 bia chợ.
- Bài viết của Đinh Văn Viễn (2011) về văn bản giao ước nhượng đất mở chợ năm 1755.
Nhóm công trình nghiên cứu địa phương (Nam Định, Thái Bình):
- Các công trình: Lịch sử Hà Nam Ninh tập 1 (1988); Thành Nam xưa của Vũ Ngọc Lý (1997); các khảo cứu về chợ Viềng của Vũ Minh Xuyến (2000), Lê Xuân Quang (2001), Bùi Văn Tam (2007); luận án tiến sĩ của Phạm Thị Nết (2001) về huyện Tiền Hải; bộ sách Quần Anh dấu xưa mở đất của Trần Xuân Mậu (2002 - 2005); Địa chí Nam Định (2003); 744 năm kiến trúc thành phố Nam Định của Phan Đăng Trình (2006); Địa chí Thái Bình (2010); Thành Nam địa danh và giai thoại (2012); đề tài của Hoàng Dương Chương (2012); bộ Tài liệu địa chí Thái Bình 10 tập (2006 - 2017); nghiên cứu của Trần Thị Thái Hà (2012, 2017) về đô thị Vị Hoàng.
Nhóm công trình của tác giả nước ngoài:
- Các tác phẩm thời thuộc địa của Dauphinot (1909), L. Bonnafont (1919), Pièrre Gourou (1936, Người nông dân châu thổ Bắc kỳ).
- Các nghiên cứu quốc tế của Yoshiharu Tsuboi về Đại Nam thời Tự Đức; Đới Khả Lai (1998) khảo cứu tác phẩm Hải Nam tạp trước của Thái Đình Lan (1835 - 1836) ghi nhận tàu buôn Trung Quốc cập bến Nam Định (Si Phóng); Choi Byung Wook (2008) về sự chuyển giao vai trò ngoại thương giữa người Hoa và người Việt nửa đầu thế kỷ XIX.
Khoảng trống và vị trí của luận án: Các công trình trên đã cung cấp bức tranh tổng thể về chính sách thương nghiệp triều Nguyễn, diện mạo kinh tế làng xã hoặc khảo sát các chợ đơn lẻ tại địa phương. Luận án của Bùi Văn Huỳnh kế thừa các nguồn tư liệu và nhận định lý thuyết, đồng thời giải quyết khoảng trống: xây dựng một công trình sử học chuyên khảo toàn diện, phục dựng cụ thể mạng lưới, cấu trúc, quy mô, hoạt động mua bán, quản lý thuế khóa và đánh giá vai trò lịch sử của hệ thống chợ trên toàn bộ không gian hành chính tỉnh Nam Định thời kỳ 1831 - 1890.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật lịch sử, xem xét sự hình thành và biến đổi của thiết chế chợ gắn liền với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, điều kiện tự nhiên, cơ cấu kinh tế làng xã và chính sách quản lý của nhà nước quân chủ.
Về mặt khái niệm và khung phân tích:
- Luận án tiếp cận khái niệm chợ từ Từ điển bách khoa Việt Nam (1995) và Nghị định 02/2003/NĐ-CP, kết hợp các quan niệm học thuật của Nguyễn Đức Nghinh (về chợ làng, chợ Tam bảo do làng xã lập và quản lý) và Phan Đại Doãn (về các tầng bậc chợ phiên, chợ hôm/sớm, chợ tổng, chợ huyện).
- Phân loại chợ: Luận án phân tích chợ theo nhiều tiêu chí (tính chất: kinh tế thuần túy hoặc kết hợp văn hóa - tín ngưỡng; thời gian: họp hàng ngày, họp phiên, chợ Tết; địa hình: đồng bằng, ven biển; chức năng: bán buôn, bán lẻ, đầu mối). Trong cấu trúc nội dung, luận án sử dụng hệ thống phân loại theo cấp độ quản lý hành chính: chợ tỉnh, chợ phủ, chợ huyện và chợ làng/xã.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành được áp dụng gồm:
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình xuất hiện, tồn tại, biến đổi hoặc suy tàn của từng loại hình chợ và các chợ cụ thể theo trình tự thời gian từ năm 1831 đến năm 1890.
- Phương pháp logic: Phân tích bản chất của mạng lưới chợ trong mối liên hệ hữu cơ với chính sách triều đình, cơ cấu kinh tế nông - thương và cấu trúc xã hội địa phương.
- Phương pháp so sánh: So sánh mật độ, số lượng, quy mô chợ giữa Nam Định với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; giữa các phủ, huyện nội tỉnh; giữa vùng bãi bồi ven biển mới khai hoang và vùng đồng bằng lâu đời.
- Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp: Xử lý các tư liệu định lượng lịch sử từ địa bạ, địa chí, báo cáo hành chính để lập các bảng thống kê về số lượng chợ, diện tích, dân số, đơn vị đo lường và tỷ lệ phân bố.
- Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa vị trí các chợ cổ, bến đò, phế tích thương cảng, đình đền gắn với chợ; phỏng vấn nhân chứng và thu thập tư liệu địa phương tại Nam Định và Thái Bình nhằm đối chiếu, bổ khuyết cho chính sử.
- Phương pháp liên ngành: Tích hợp tri thức từ Dân tộc học, Văn hóa học, Địa lý học lịch sử, Xã hội học và Kinh tế học.
Nguồn tài liệu thực hiện luận án:
- Chính sử và địa chí triều Nguyễn: Đại Nam thực lục (Tiền biên, Chính biên, Đệ lục kỷ phụ biên), Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, Đồng Khánh địa dư chí, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), Quốc triều chính biên toát yếu.
- Tác phẩm của tác giả đương thời: Hoàng Việt nhất thống địa dư chí (Lê Quang Định), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Bắc Thành dư địa chí lược (Lê Chất), Đại Việt địa dư toàn biên (Nguyễn Văn Siêu, Bùi Quỹ), Sử học bị khảo (Đặng Xuân Bảng), Chuyến đi thăm Bắc Kỳ năm Ất Hợi (Trương Vĩnh Ký), Un campagne au Tonkin (Hocquard).
- Địa phương chí: Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục (1893, Nguyễn Ôn Ngọc), Thái Bình phong vật chí (1900, Phạm Văn Thụ), Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược (1915, Khiếu Năng Tĩnh), Thái Bình địa dư ký.
- Tư liệu Hán Nôm và lưu trữ: Văn bia chợ, địa bạ, thần tích, hương ước, gia phả; tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Sử học và các bảo tàng, thư viện địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 tổng hợp, phân loại và đánh giá có hệ thống 5 nhóm tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chợ và thương nghiệp Việt Nam thời quân chủ. Tác giả phân tích những đóng góp của các học giả đi trước về phương diện chính sách vĩ mô, cấu trúc làng buôn và văn hóa chợ quê; đồng thời chỉ rõ những mảng tư liệu còn thiếu hụt đối với địa bàn Nam Định giai đoạn 1831 - 1890, xác lập cơ sở khoa học và nhiệm vụ kế thừa, giải quyết của luận án.
Chương 2: Những yếu tố tác động đến chợ ở tỉnh Nam Định (1831 – 1890)
Chương 2 làm rõ khung lý niệm về chợ và phân tích 6 nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến mạng lưới chợ tại địa phương:
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí cửa ngõ phía nam đồng bằng Bắc Bộ, giáp biển và tiếp giáp Hà Nội. Hệ thống sông ngòi dày đặc với hơn 20 con sông dài trên 10km (sông Hồng, Vị Hoàng, Ninh Cơ, Đáy, Luộc, Trà Lý). Địa hình chia 3 vùng (đồi núi thấp phía tây nam; đồng bằng chiêm trũng; vùng bãi bồi ven biển tiến nhanh ra biển như Ba Lạt bồi 90 ha/năm, cửa Đáy bồi 32 ha/năm). Tài nguyên đất canh tác lớn (thời Đồng Khánh có 416.407 mẫu ruộng trên tổng diện tích 1.573.018 mẫu), cùng nguồn lợi hải sản, muối biển và con rươi phục vụ buôn bán và tiến vua.
- Yếu tố chính trị và tổ chức hành chính: Tỉnh Nam Định thành lập năm 1831, gồm 4 phủ (Thiên Trường/Xuân Trường, Nghĩa Hưng, Kiến Xương, Thái Bình) và 17 đến 19 huyện qua các lần điều chỉnh. Thành tỉnh Nam Định xây gạch năm 1833 (chu vi 830 trượng 7 thước 3 tấc). Hệ thống công quyền với Tổng đốc Định - Yên, Bố chính, Án sát, Lãnh binh và lực lượng quân đồn trú quy mô lớn tạo ra nhu cầu tiêu thụ hàng hóa thường xuyên. Giai đoạn sau 1884, thực dân Pháp đặt viên Công sứ Brionval, thực thi Hiệp ước Giáp Tuất (1874) mở cửa biển Ba Lạt và Hiệp ước Patenotre (1884) cho phép thương nhân Pháp tự do lưu thông, làm thay đổi cán cân mậu dịch.
- Yếu tố kinh tế: Nông nghiệp trù phú với tỷ lệ công điền cao (31,43% ở 5 huyện tả ngạn; 40,50% ở 5 huyện hữu ngạn); các thành tựu khẩn hoang lớn (Nguyễn Công Trứ lập huyện Tiền Hải năm 1828 - 1829 với 7 tổng 47 ấp/lý/trại/giáp; công cuộc khai hoang tổng Hoành Nha, Sỹ Lâm và vùng Quần Anh thành lập huyện Hải Hậu năm 1888). Hệ thống đê điều được củng cố (63.266,6 trượng đê công và 35.130 trượng đê tư). Sự phát triển của các làng nghề thủ công (dệt, đúc đồng, mộc, làm muối) và làng buôn (làng Báo Đáp).
- Yếu tố văn hóa, xã hội: Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo xem trọng nông nghiệp; tập quán sinh hoạt làng xã; sự gắn kết giữa tín ngưỡng tâm linh (chùa Tam bảo, đền phủ) với hoạt động chợ hội.
- Mạng lưới giao thông: Hệ thống đường thủy thuận lợi trên các triền sông lớn kết nối duyên hải với nội địa và kinh thành Thăng Long - Hà Nội.
- Chính sách quản lý của triều Nguyễn: Hệ thống tiền tệ (tiền đồng, tiền kẽm, bạc thoi), quy chuẩn đơn vị đo lường (chiều dài, trọng lượng, dung lượng) và hệ thống tuần ty kiểm soát thuế quan.
| Hệ thống bảng số liệu phản ánh các yếu tố tác động trong Chương 2 |
| Bảng 1.1: Số nhân đinh làm nghề buôn bán ở phủ Xuân Trường và phủ Nghĩa Hưng đầu thế kỷ XX |
| Bảng 2.2: Đơn vị tiền tệ thời Nguyễn |
| Bảng 3.3: Đơn vị đo trọng lượng thời Nguyễn |
| Bảng 4.4: Đơn vị đo chiều dài thời Nguyễn (1 thước = 40 cm, 1 dặm = 720 m, 1 tầm = 8 thước) |
| Bảng 5.5: Đơn vị đo dung lượng thời Nguyễn |
Chương 3: Nguồn gốc, quy mô và hoạt động của chợ ở tỉnh Nam Định (1831 – 1890)
Chương 3 trình bày chi tiết thực trạng mạng lưới chợ:
- Nguồn gốc và cách thức ra đời: Nhiều chợ hình thành lâu đời từ thời Lý - Trần - Lê; các chợ mới ra đời trong thế kỷ XIX thông qua công cuộc khẩn hoang lập làng ven biển, các chợ do tư nhân/cộng đồng mua bán nhượng đất lập chợ (như giao ước nhượng đất mở chợ), hoặc chợ do triều đình/quan lại địa phương quy hoạch.
- Cách đặt tên chợ: Phản ánh tính chất lưỡng hợp văn hóa qua tên chữ Hán và tên Nôm (Bảng 6.6), đặt theo tên làng xã, tên sản vật buôn bán hoặc các biểu tượng dân gian.
- Quy mô chợ: Phân định rõ thứ bậc từ chợ tỉnh (chợ Rồng lập năm 1856, chợ Vị Hoàng, chợ Cửa Trường, chợ Đò Chè), chợ phủ, chợ huyện đến hệ thống chợ làng.
- Hoạt động mua bán: Thời gian họp chợ được tổ chức chặt chẽ theo phiên (ngày chẵn - lẻ hoặc theo can chi); tại một số khu vực trù mật như Quần Anh (Hải Hậu), mạng lưới 10 chợ luân phiên họp kín tất cả các ngày trong tháng. Mặt hàng trao đổi phong phú gồm lúa gạo, tơ lụa, nông sản chế biến, đồ đồng, nông cụ, trâu bò, muối hạt và hải sản tươi/khô.
- Thuế chợ và quản lý: Triều Nguyễn quản lý thông qua lệ thu thuế chợ (chợ chịu thuế công nộp vào kho nhà nước và chợ tư do làng xã thu hoa lợi phục vụ việc làng), quy định kiểm soát trật tự, cân đo và bảo đảm an ninh chợ phiên.
Chương 4: Đặc điểm và vai trò của chợ ở tỉnh Nam Định (1831 – 1890)
Chương 4 đúc kết các thuộc tính và đánh giá tác động của mạng lưới chợ:
- Đặc điểm cơ bản:
- Số lượng chợ nhiều và mật độ cao: Nam Định nằm trong nhóm các tỉnh có số lượng chợ lớn nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ giữa thế kỷ XIX (Bảng 7.1).
- Phân bố không đồng đều: Mật độ chợ tập trung dày đặc ở các vùng đồng bằng lâu đời, ven các trục sông chính (phủ Xuân Trường, Nghĩa Hưng) và thưa hơn tại các vùng đất mới bãi bồi ven biển (Bảng 8.2, 9.3, 10.4).
- Quy mô còn nhỏ và liên kết hạn chế: Đa phần là chợ làng phục vụ bán lẻ và tự cấp tự túc, mạng lưới liên kết vùng chưa phát triển thành hệ thống thương mại quy mô lớn.
- Vị trí xây dựng được chọn lọc kỹ lưỡng: Bố trí tại các đầu mối giao thông thủy bộ, ngã ba sông, bến đò, trục đường liên tổng (Bảng 11.5 về vị trí các chợ ở huyện Nam Trực).
- Loại hình chợ tâm linh phát triển: Tiêu biểu là chợ Viềng Nam Giang (Nam Trực), chợ Viềng Phủ Dầy (Vụ Bản) họp vào dịp đầu xuân kết hợp mua bán đồ cũ, nông cụ với lễ hội đền phủ, cầu may; cùng hệ thống chợ chùa (chợ Tam bảo).
- Vai trò của chợ:
- Về kinh tế: Là đầu mối tiêu thụ nông - hải sản, kích thích mở rộng diện tích canh tác và phát triển nghề thủ công truyền thống, thúc đẩy phân công lao động tại làng xã.
- Về văn hóa - xã hội: Tạo không gian giao tiếp cộng đồng, trao đổi thông tin, bảo lưu phong tục tập quán dân gian, ca dao tục ngữ và củng cố tính gắn kết cộng đồng dân cư.
- Đối với tiến trình đô thị hóa: Đóng vai trò hạt nhân kinh tế thúc đẩy đô thị Nam Định phát triển từ trung tâm hành chính Vị Hoàng thành đô thị thương nghiệp - công nghiệp với các tuyến phố nghề (Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Tiện, Hàng Bát, Hàng Cau).
| Hệ thống bảng số liệu thống kê phân tích trong Chương 4 |
| Bảng 7.1: Số chợ ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ giữa thế kỷ XIX |
| Bảng 8.2: Số chợ và đơn vị hành chính ở phủ Xuân Trường và phủ Nghĩa Hưng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX |
| Bảng 9.3: Tỷ lệ đất đai so với số chợ ở phủ Xuân Trường và phủ Nghĩa Hưng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX |
| Bảng 10.4: Số nhân khẩu và số chợ ở phủ Xuân Trường và phủ Nghĩa Hưng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX |
| Bảng 11.5: Vị trí của các chợ ở huyện Nam Trực cuối thế kỷ XIX so với hiện nay |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả cụ thể về lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về mặt học thuật, lý luận:
- Là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về chợ ở tỉnh Nam Định trong khung thời gian 1831 - 1890.
- Làm sáng tỏ diện mạo, quy mô, cơ cấu mặt hàng, chu kỳ họp phiên và phương thức quản lý thuế khóa của mạng lưới chợ dưới thời Nguyễn tại một tỉnh trung tâm đồng bằng Bắc Bộ.
- Góp phần bổ khuyết nguồn sử liệu về kinh tế thương nghiệp nông thôn và kinh tế làng xã truyền thống Việt Nam thế kỷ XIX.
- Làm rõ mối quan hệ tương tác giữa chính sách kinh tế của nhà nước quân chủ triều Nguyễn, thể chế quản lý làng xã và hoạt động thương mại thực tế của các tầng lớp nhân dân.
- Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử xác thực, có hệ thống phục vụ việc nghiên cứu lịch sử địa phương hai tỉnh Nam Định và Thái Bình.
- Khẳng định giá trị di sản và kinh nghiệm lịch sử trong việc lựa chọn địa điểm, phân bố mật độ và tổ chức chợ phiên truyền thống; làm căn cứ tham khảo khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Công Thương, chính quyền địa phương) trong công tác lập quy hoạch mạng lưới chợ dân sinh, kết hợp bảo tồn các chợ truyền thống và chợ văn hóa lễ hội gắn với du lịch.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tài liệu thành văn của triều Nguyễn đối với cấp cơ sở làng xã, nhiều số liệu thống kê cụ thể về doanh số, lượng hàng hóa lưu chuyển chi tiết qua từng phiên chợ nhỏ ở vùng nông thôn sâu chưa được ghi chép đồng đều. Mặt khác, phạm vi không gian tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 - 1890 bao gồm cả phần đất tỉnh Thái Bình ngày nay, việc đối chiếu biến động địa danh và địa giới hành chính làng xã qua nhiều thời kỳ đòi hỏi nguồn tư liệu điền dã phức tạp.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa mạng lưới chợ Nam Định với các mô hình chợ vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng Nam Bộ thời Nguyễn.
- Đi sâu khảo cứu sự chuyển biến của mạng lưới chợ Nam Định trong giai đoạn thuộc địa hóa toàn diện (1890 - 1945) khi cơ cấu thương mại phương Tây và hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ hiện đại tác động mạnh mẽ vào thị trường nông thôn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng và mục đích cụ thể:
- Đối với nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Phục vụ nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử Việt Nam cận đại, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Lịch sử làng xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, Văn hóa dân gian và Địa lý học lịch sử.
- Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho ngành Công Thương và chính quyền địa phương tỉnh Nam Định, Thái Bình trong việc đánh giá mạng lưới thương mại truyền thống, lập quy hoạch hạ tầng thương mại nông thôn, bảo tồn các chợ tâm linh - lễ hội (chợ Viềng Nam Giang, chợ Viềng Phủ Dầy) và phát triển kinh tế thương mại địa phương.
- Các phần nội dung đáng tham khảo:
- Chương 2: Tổng hợp dữ liệu về tổ chức hành chính, địa lý tự nhiên và các chính sách quản lý đo lường, tiền tệ, thuế khóa thời Nguyễn.
- Chương 3 và Chương 4: Bảng danh mục địa danh chợ (tên Hán - Nôm), quy mô, phương thức phân bố chợ theo đơn vị hành chính và mô hình chu kỳ họp chợ phiên tại các vùng khẩn hoang.
Câu hỏi thường gặp
1. Không gian hành chính tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 - 1890 trong luận án được xác định như thế nào?
Trong giai đoạn từ năm 1831 (khi vua Minh Mệnh chia đặt các tỉnh) đến năm 1890 (khi chính quyền thuộc địa Pháp lập tỉnh Thái Bình), tỉnh Nam Định bao gồm vùng đất thuộc hữu ngạn và tả ngạn sông Hồng với 4 phủ: Thiên Trường (năm 1862 đổi là Xuân Trường), Nghĩa Hưng, Kiến Xương, Thái Bình cùng 2 phân phủ Nghĩa Hưng, Thái Bình. Địa bàn này tương ứng với toàn bộ diện tích tỉnh Nam Định và phần lớn tỉnh Thái Bình hiện nay.
2. Công cuộc khẩn hoang thế kỷ XIX tác động như thế nào đến việc hình thành các chợ mới tại Nam Định?
Công cuộc khẩn hoang do nhà nước tổ chức (tiêu biểu là Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ lập huyện Tiền Hải năm 1828 - 1829) và các cuộc khai hoang tự phát của nhân dân (tổng Hoành Nha, Sỹ Lâm, vùng Quần Anh lập huyện Hải Hậu năm 1888) đã thành lập nhiều làng xã mới. Nhu cầu tiêu thụ nông - thủy sản và trao đổi công cụ sản xuất tại các vùng đất mới đã thúc đẩy việc lập mới hàng chục chợ, như việc hình thành hệ thống 10 chợ luân phiên họp kín tháng tại vùng Quần Anh hay mạng lưới chợ tại huyện Tiền Hải cuối thế kỷ XIX.
3. Mạng lưới chợ ở tỉnh Nam Định giai đoạn 1831 - 1890 có những đặc điểm cơ bản nào?
Luận án chỉ ra 5 đặc điểm chính: (1) Số lượng chợ nhiều và mật độ cao hàng đầu khu vực đồng bằng Bắc Bộ; (2) Phân bố không đồng đều giữa vùng đồng bằng lâu đời và vùng bãi bồi mới khai hoang; (3) Quy mô nhìn chung còn nhỏ, mang nặng tính tự cấp tự túc làng xã, mức độ liên kết thành mạng lưới lớn chưa cao; (4) Vị trí đặt chợ được lựa chọn kỹ lưỡng tại các đầu mối giao thông thủy bộ, ngã ba sông, bến đò; (5) Loại hình chợ gắn với sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng phát triển mạnh.
4. Chợ tâm linh tại Nam Định có biểu hiện tiêu biểu nào trong văn bản luận án?
Biểu hiện tiêu biểu nhất là hệ thống chợ Viềng, gồm chợ Viềng Nam Giang (huyện Nam Trực) và chợ Viềng Phủ Dầy (huyện Vụ Bản) họp vào dịp đầu xuân kết hợp hoạt động mua bán nông cụ, đồ cổ, cây cảnh với các nghi lễ đền phủ, cầu may; cùng với đó là loại hình chợ chùa (chợ Tam bảo) họp trên đất chùa do nhà chùa và làng xã phối hợp quản lý.
5. Luận án sử dụng những nguồn sử liệu chính nào để khảo sát mạng lưới chợ?
Tác giả khai thác nguồn sử liệu đa dạng gồm: các bộ chính sử và hội điển triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Hoàng Việt luật lệ); địa phương chí cổ (Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục, Thái Bình phong vật chí); hệ thống văn bia chợ Hán Nôm; địa bạ làng xã; ghi chép của người nước ngoài (Dauphinot, Hocquard, Pièrre Gourou); tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và kết quả điền dã thực địa.
Kết luận
Luận án "Chợ ở tỉnh Nam Định từ năm 1831 đến năm 1890" của tác giả Bùi Văn Huỳnh là công trình sử học chuyên khảo nghiên cứu toàn diện về mạng lưới chợ trên địa bàn Nam Định thế kỷ XIX. Thông qua nguồn tư liệu thành văn phong phú kết hợp với khảo sát điền dã, luận án đã phục dựng bức tranh sinh động về nguồn gốc, quy mô, cơ cấu hoạt động và chính sách quản lý chợ của triều Nguyễn. Công trình không chỉ làm rõ các đặc điểm phân bố và vai trò kinh tế - văn hóa - đô thị hóa của chợ truyền thống, mà còn đóng góp nguồn sử liệu có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử kinh tế làng xã và công tác quy hoạch thương mại địa phương hiện nay.