Tổng quan luận án
Công trình luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884)" tập trung khảo sát và phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế, xã hội của một địa bàn đồng bằng ven biển tiêu biểu tại Bắc Trung Bộ trong thời kỳ vương triều Nguyễn nắm quyền độc lập.
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
- Trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời Nguyễn (1802 - 1884), các vấn đề kinh tế - xã hội thường được tiếp cận ở tầm vĩ mô, mang tính toàn cảnh quốc gia hoặc phân vùng lớn (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Bộ). Cách tiếp cận này khiến các đặc điểm cụ thể của từng địa phương có nguy cơ bị lu mờ.
- Nghệ An là địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu ("phên dậu" của quốc gia) với nhiều chính sách quản lý và nét đặc thù về kinh tế - xã hội. Trong đó, huyện Nghi Lộc (thời Nguyễn là huyện Chân Lộc) giữ vị trí trung tâm, từng được chọn làm nơi đóng trấn thành, tỉnh thành của Nghệ An, đồng thời sở hữu hai cửa sông lớn là Cửa Xá (Cửa Lò) và Cửa Hội.
- Trước khi luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào đi sâu khảo sát toàn diện, có hệ thống về thực trạng kinh tế - xã hội của huyện Nghi Lộc trong giai đoạn lịch sử 1802 - 1884.
- Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trên cơ sở sưu tầm, chọn lọc và đối chiếu các nguồn tài liệu, luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884).
- Đánh giá, so sánh nhằm rút ra những nét tiêu biểu trong lĩnh vực kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn so với các vùng, khu vực lân cận.
- Rút ra những kết luận khoa học mang tính độc lập, khách quan về vấn đề nghiên cứu trên cơ sở các cứ liệu đã trình bày.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An) dưới triều Nguyễn (1802 - 1884), tập trung vào kết cấu kinh tế và các mặt đời sống xã hội.
- Phạm vi nội dung: Về kinh tế, luận án đi sâu vào kết cấu ruộng đất (được cấu trúc thành mục riêng dựa trên việc khai thác nguồn tư liệu địa bạ), nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Về xã hội, luận án nghiên cứu tổ chức hành chính, bộ máy quản lý xã thôn, kết cấu xã hội, đời sống nhân dân, giáo dục khoa cử, tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1802 (khi nhà Nguyễn thành lập) đến năm 1884 (khi thực dân Pháp xác lập ách thống trị trên toàn bộ Việt Nam); một số nội dung được mở rộng khảo sát đến nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX để bảo đảm tính liên tục lịch sử.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (huyện Chân Lộc), gồm 4 tổng: Đặng Xá, Kim Nguyên, Ngô Trường và Thượng Xá (tương ứng với phần lớn diện tích huyện Nghi Lộc và một phần thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò hiện nay).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu đi trước theo các nhóm chủ đề và giai đoạn:
- Các nghiên cứu về nông thôn, làng xã Việt Nam:
- Thời kỳ thuộc Pháp: Các khảo cứu của P. Ory (1894), Hội đồng tư vấn hỗn hợp và thương mại canh nông Trung kỳ (1906), Y. Henry (1932), P. Bernard (1934), P. Gourou (1936, 1940); các tác giả người Việt như Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục), Vũ Văn Hiền (Sở hữu làng xã ở Bắc kỳ), Nguyễn Văn Huyên (Nghiên cứu về làng xã An Nam); các bài viết trên tập san Bulletin L’éveil économique de l’Indochine của H. Le Breton, E. Castagnol, M. Cucherousset.
- Giai đoạn 1945 - 1975: Luận án tiến sĩ của Vũ Quốc Thúc (1951), các công trình của Nguyễn Hồng Phong (1959), Phan Huy Lê (1959), Toan Ánh (1967).
- Giai đoạn sau năm 1975: Các công trình của Viện Sử học (1977, 1978), Vũ Huy Phúc (1979 - Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX), Trương Hữu Quýnh (1982, 1983), Trần Từ (1984), Bùi Xuân Đính (1985).
- Giai đoạn Đổi mới (từ 1986): Công trình của Phan Đại Doãn (1992), Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc (1993), Nguyễn Hải Kế (1996), Nguyễn Quang Ngọc (2009), Vũ Duy Mền (2006, 2010), P. Tessier (2002); các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử và Tạp chí Khoa học Đại học Tổng hợp của Vũ Minh Giang (1988), Nguyễn Đình Đầu (1988), Vũ Văn Quân (1988, 1991, 1994, 1997), Phan Phương Thảo (2002, 2003), Bùi Quý Lộ (1986), Trịnh Thị Thủy (2002), Lê Hiến Chương (2012).
- Các nghiên cứu về tỉnh Nghệ An:
- Trước năm 1945: Bộ sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch; công trình Le vieux An Tinh (1936) của H. Le Breton; các khảo cứu của R. Bulateau, M. Castagnol (1930), Barbier (1930), J. Brévié (1937).
- Sau năm 1945: Sách Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập 1, 1984), Nghệ Tĩnh hôm qua và hôm nay (1986), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đổng Chi chủ biên, 1995); các công trình nghiên cứu tôn giáo của Trương Bá Cần, Vương Đình Chữ (1996), Võ Văn Hậu; sách Danh nhân Nghệ An (1998), Khoa bảng Nghệ An của Đào Tam Tỉnh (2000), Địa danh lịch sử, văn hóa Nghệ An của Trần Viết Thụ (2006); các nghiên cứu chuyên khảo của Ninh Viết Giao (1998, 2000, 2003, 2005); bộ sách Lịch sử Nghệ An do Trần Văn Thức chủ biên (2012); các bài viết của Nguyễn Quang Hồng (2004), Nguyễn Đình Chú (2005), Lê Quang Chắn (2010); luận văn của Hồ Sỹ Hùy (2001), Trần Nghị (2008).
- Các nghiên cứu về huyện Nghi Lộc:
- Lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc (Sơ thảo tập 1, 1991); Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển (1804 - 1945) của Nguyễn Quang Hồng (2003); lịch sử truyền thống các xã phường (Trường Thi, Nghi Long, Phúc Thọ, Nghi Hợp, Lê Mao); gia phả các dòng họ lớn (họ Hoàng ở Vạn Lộc, họ Nguyễn Đình ở Thượng Xá, họ Nguyễn Năng ở Thịnh Trường, họ Nguyễn Thức ở Đông Chử, họ Đinh ở Kim Khê); lý lịch di tích các đền, chùa, nhà thờ danh nhân (Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Thức Tự, Trung Kiên); kỷ yếu hội thảo Xác định Danh xưng Nghi Lộc (2009); luận văn của Vũ Thị Thùy Giang (2001), Nguyễn Thị Phương Lan (2008).
- Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khái quát diện mạo chung của vùng Nghệ Tĩnh, tập trung nhiều vào văn hóa dân gian, lịch sử chống ngoại xâm hoặc các địa bàn đô thị, chưa khai thác triệt để nguồn tư liệu địa bạ và chưa dựng lại được hệ thống cơ cấu kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn một cách độc lập và chuyên sâu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Khung phân tích và khái niệm: Luận án dựa trên quan điểm mở rộng về lịch sử xã hội, tiếp cận toàn diện các mối quan hệ sở hữu ruộng đất, phân hóa xã hội, tổ chức quản lý làng xã và đời sống văn hóa tinh thần. Cấu trúc nghiên cứu phân tách riêng mảng ruộng đất khỏi kinh tế nông nghiệp thuần túy để làm rõ quan hệ sở hữu dựa trên thư tịch cổ.
- Nguồn tư liệu sử dụng:
- Tài liệu chính thống triều Nguyễn: Các bộ chính sử và điển chế gồm Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Chính biên và Tục biên), Hoàng Việt luật lệ, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí, Hoan Châu phong thổ ký, Nghệ An ký, An Tĩnh cổ lục.
- Tư liệu thư tịch Hán Nôm: Khai thác hơn 5.000 trang tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và Viện Nghiên cứu Hán Nôm; trong đó cốt lõi là 47 tập địa bạ của 4 tổng (Đặng Xá, Kim Nguyên, Ngô Trường, Thượng Xá) lập dưới các triều Gia Long, Minh Mệnh, Tự Đức (đạt tỷ lệ 71,21% tổng số đơn vị xã thôn toàn huyện), kết hợp thần tích, thần sắc, gia phả, hương ước, văn bia.
- Tư liệu điền dã: Khảo sát thực địa và tư liệu truyền miệng tại các làng xã thuộc huyện Nghi Lộc.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp sử học và phương pháp logic làm chủ đạo.
- Phương pháp liên ngành: kết hợp xã hội học, khảo cổ học, địa lý lịch sử.
- Phương pháp điền dã: phỏng vấn điều tra, hồi cố lịch sử.
- Phương pháp định lượng: thống kê, lập bảng, phân loại và xử lý toán học dữ liệu từ 47 tập địa bạ, kết hợp phương pháp chọn mẫu và so sánh đối chiếu liên vùng (với đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ).
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng 169 trang (gồm Mở đầu 6 trang, Kết luận 4 trang, Tài liệu tham khảo 19 trang, Nội dung chính 151 trang chia làm 4 chương, cùng hệ thống bảng biểu, sơ đồ và phụ lục).
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề (12 trang)
Chương này phân tích, đánh giá có hệ thống ba nhóm công trình: nghiên cứu về nông thôn làng xã Việt Nam truyền thống; nghiên cứu về địa phương tỉnh Nghệ An; và các công trình, tư liệu liên quan trực tiếp đến huyện Nghi Lộc. Tác giả chỉ ra những đóng góp về mặt lý luận, phương pháp luận của các học giả đi trước, đồng thời xác định rõ việc nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế - xã hội Nghi Lộc thời Nguyễn vẫn là mảng đề tài chưa có công trình độc lập nào giải quyết trọn vẹn.
Chương 2: Vài nét về địa bàn huyện Nghi Lộc (19 trang)
Chương 2 trình bày tổng quan về điều kiện tự nhiên, hành chính và bối cảnh lịch sử của huyện:
- Vị trí địa lý và địa hình: Đầu thế kỷ XIX, huyện Chân Lộc nằm ở trung tâm trấn Nghệ An, là nơi đóng trấn thành. Toàn huyện có diện tích tự nhiên 345,9 km², phân thành 3 tiểu vùng địa hình:
- Vùng phía Tây và Tây Bắc: Bán sơn địa, sỏi đá, đồi dốc 35° - 40°, đất nghèo mùn, thung lũng bị chia cắt.
- Vùng phía Đông và Đông Nam: Địa hình cồn cát ven biển song song xen lẫn các lòng chảo, đầm bàu; đất nhiễm mặn và tích tụ sắt nhôm, canh tác khó khăn.
- Vùng phía Bắc và phía Nam: Đất bãi bồi hạ lưu sông Lam và sông Cấm bằng phẳng, màu mỡ, nhiều phù sa nhưng thường xuyên ngập úng vào mùa mưa lũ.
- Sông ngòi, đồi núi và bờ biển: Hệ thống núi Đại Hoạch, núi Cấm, núi Thược Dược, núi Quyết, Tùng Sơn, Kiếm Sơn. Sông Lam chảy qua địa phận huyện 7 km đổ ra Cửa Hội; sông Cấm tiêu úng cho vùng phía Đông; tuyến kênh Nhà Lê (nạo vét từ năm 1003 thời vua Lê Đại Hành) hỗ trợ tưới tiêu và giao thông thủy. Bờ biển dài 25 km (chiếm 32,8% chiều dài bờ biển Nghệ An), có hai cửa sông lớn là Cửa Xá (Cửa Lò) và Cửa Hội, cảng Bến Thủy, cùng các đảo Song Ngư và Hòn Mắt làm bình phong che chắn.
- Khí hậu và giao thông: Khí hậu chia làm mùa nóng (tháng 5 đến tháng 10, chịu gió Phơn Tây Nam gay gắt, nhiệt độ có lúc đạt 40°C - 42°C, lượng mưa tập trung 70% gây úng lụt) và mùa lạnh (tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ thấp nhất 6°C). Lượng mưa bình quân 1.900 mm, độ ẩm 88%. Mạng lưới giao thông gồm đường thiên lý Bắc - Nam dài 46 dặm với 2 trạm dịch Yên Dũng và Yên Kim; các tuyến đường liên huyện nối sang Hưng Nguyên, Cửa Hội, Cửa Xá; đường thủy qua sông Lam, sông Cấm và kênh Nhà Lê.
- Diên cách và bối cảnh cuối thế kỷ XVIII: Trải qua các tên gọi Cửu Đức, Hàm Hoan, Chân Phúc, Chân Lộc và Nghi Lộc. Cuối thế kỷ XVIII, cuộc khủng hoảng xã hội khiến vùng đất chịu nhiều tổn thất: thiên tai, dịch bệnh (năm 1715), nạn đói hoành hành; theo thơ Nguyễn Thiếp năm 1780, sáu phần mười dân chúng chết đói và phiêu bạt; Nghệ An ký ghi nhận tình trạng 7/9 mẫu đất, 112/118 mẫu ruộng bị bỏ hóa.
Chương 3: Kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (53 trang)
Chương 3 là phần trọng tâm định lượng của luận án, khảo sát 47 tập địa bạ của 4 tổng: Đặng Xá, Kim Nguyên, Ngô Trường, Thượng Xá. Tổng diện tích thống kê là 35.606 mẫu 6 sào (bình quân 757 mẫu/xã thôn).
| Loại ruộng đất |
Diện tích (Mẫu.sào) |
Tỷ lệ (%) |
Thực trưng |
Lưu hoang |
Phế canh |
| Công điền |
5.962.0 |
16,8% |
18,3% |
80,5% |
1,2% |
| Công thổ |
1.001.0 |
2,8% |
6,2% |
93,8% |
0,0% |
| Đất phù sa, bạch sa |
49.0 |
0,1% |
39,9% |
60,1% |
0,0% |
| Ruộng đất tư nhân |
28.591.0 |
80,3% |
27,45% |
72,55% |
- |
| Tổng cộng |
35.606.6 |
100% |
25,3% |
74,5% |
0,2% |
- Tình trạng hoang hóa: Tỷ lệ ruộng đất lưu hoang và phế canh rất cao, chiếm 74,7% tổng diện tích (chủ yếu do đất cát nghèo dinh dưỡng, nhiễm mặn và ngập lũ hạ nguồn).
- Chế độ sở hữu công:
- Công điền chiếm 16,8% (5.962 mẫu), phân bố không đều tại 33/50 xã thôn (chiếm 66%), có tới 17 xã thôn (34%) hoàn toàn không có ruộng công.
- Công điền bị bỏ hoang và phế canh lên tới 81,7%. Về chất lượng, ruộng công hạng 3 chiếm tuyệt đối 97,09% (5.789 mẫu), hạng 1 chỉ có 1,02% (60 mẫu), hạng 2 chiếm 1,89% (113 mẫu).
- Công thổ chiếm 2,8% (1.001 mẫu) xuất hiện ở 17/47 xã thôn, trong đó 93,8% diện tích bị bỏ hoang.
- Chế độ sở hữu tư:
- Chiếm ưu thế với 80,3% (28.591 mẫu), phản ánh xu thế tư hữu hóa ruộng đất thế kỷ XIX.
- Chất lượng tư điền (9.073 mẫu): Ruộng hạng 1 chiếm 3,55% (321 mẫu); hạng 2 chiếm 7,34% (666 mẫu); hạng 3 chiếm 89,02% (8.077 mẫu). Cơ cấu mùa vụ gồm Thu vụ chiếm 50,64% (4.594 mẫu) và Hạ vụ chiếm 49,36% (4.479 mẫu). Tam bảo điền (ruộng chùa thuộc sở hữu tập thể) có 9 mẫu tại 4 xã thôn.
- Phân hóa sở hữu tư nhân:
- Khảo sát 5.122 chủ sở hữu (với 7.812 mẫu 3 sào có thể tính toán sở hữu): nhóm sở hữu dưới 1 mẫu có 2.213 chủ (50,65% số chủ, nắm 11,35% diện tích); nhóm sở hữu dưới 3 mẫu chiếm trên 83% số chủ.
- Nhóm sở hữu từ 5 mẫu trở lên (khá giả) chỉ chiếm 6,07% số chủ (265 người) nhưng nắm giữ 32,49% diện tích tư điền.
- Bình quân sở hữu đạt 1 mẫu 5 sào 3 thước (1,53 mẫu/chủ); bình quân diện tích một thửa đất đạt 0 mẫu 7 sào 7 thước (0,77 mẫu/thửa).
| Quy mô sở hữu |
Số lượng chủ |
Tỷ lệ chủ (%) |
Diện tích (Mẫu) |
Tỷ lệ diện tích (%) |
| Dưới 1 mẫu |
2.213 |
50,65% |
886.0 |
11,35% |
| Từ 1 đến dưới 3 mẫu |
1.417 |
32,43% |
2.458.0 |
31,46% |
| Từ 3 đến dưới 5 mẫu |
474 |
10,85% |
1.931.0 |
24,70% |
| Từ 5 mẫu trở lên |
265 |
6,07% |
2.537.3 |
32,49% |
| Tổng số |
4.369 |
100% |
7.812.3 |
100% |
- Chủ sở hữu nữ và hiện tượng phụ canh:
- Chủ sở hữu nữ có 927 người (chiếm 18,10% tổng số chủ), nắm giữ 1.106 mẫu 1 sào (chiếm 14,16% diện tích), bình quân sở hữu đạt 1,19 mẫu/chủ nữ.
- Chủ phụ canh (người ở xã thôn khác có ruộng sở tại) có 2.318 trường hợp (chiếm 45,26% tổng số chủ), nắm giữ 2.394 mẫu (chiếm 30,65% diện tích tư điền), bình quân 1,03 mẫu/chủ phụ canh. Có 42/50 xã thôn (84%) xuất hiện phụ canh; cá biệt có xã Đặng An tỷ lệ phụ canh là 100%, thôn Bảo An đạt 96,04%, xã Thịnh Hoa đạt 94,59%.
- Các ngành kinh tế khác: Bên cạnh nông nghiệp trồng lúa, luận án trình bày sự phát triển của kinh tế biển (đánh bắt cá tại Cửa Lò, Cửa Hội), các nghề thủ công truyền thống và hoạt động thương nghiệp buôn bán chợ phiên dọc các tuyến giao thương đường sông Lam, sông Cấm.
Chương 4: Xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (57 trang)
Chương 4 khảo sát các bình diện cấu trúc và đời sống xã hội:
- Tổ chức bộ máy hành chính xã thôn: Cơ cấu quản lý tại 4 tổng, vai trò của đội ngũ lý dịch, chức sắc và các quy ước làng xã (hương ước).
- Kết cấu xã hội và đời sống dân cư: Sự phân tầng giữa các nhóm quan lại, chức sắc, phú hào với tầng lớp nông dân nghèo và dân phiêu tán; mức sống và điều kiện sinh hoạt trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh.
- Giáo dục và khoa bảng: Truyền thống Nho học, hệ thống trường thi, số lượng người đỗ đạt đại khoa, hương khoa qua các kỳ thi dưới triều Nguyễn.
- Tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội: Sự đan xen giữa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Ki tô giáo (sự hiện diện của các giáo xứ thuộc giáo phận Vinh), tục thờ cúng thành hoàng làng, thần tích, thần sắc và các hội làng truyền thống.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt khoa học:
- Khôi phục một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống diện mạo kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884), góp phần làm sáng tỏ lịch sử khu vực Nghệ Tĩnh và lịch sử địa phương Việt Nam.
- Xử lý định lượng nguồn tư liệu địa bạ Hán Nôm gồm 47 tập của 4 tổng, đưa ra các chỉ số cụ thể về cơ cấu công - tư (ruộng tư chiếm 80,3%), tỷ lệ hoang hóa (74,7%), mức độ phân hóa sở hữu đất đai (83% chủ đất sở hữu dưới 3 mẫu) và tỷ lệ xâm canh/phụ canh (45,26% số chủ).
- Tách biệt cấu trúc nghiên cứu ruộng đất khỏi sản xuất nông nghiệp thuần túy, làm rõ tính chất hàng hóa của ruộng đất và sự suy giảm tính khép kín của làng xã truyền thống qua hiện tượng phụ canh.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Bổ sung nguồn tư liệu gốc vào khoảng trống nghiên cứu lịch sử huyện Nghi Lộc.
- Cung cấp cơ sở khoa học để biên soạn lịch sử địa phương và tài liệu giảng dạy lịch sử Nghệ An cho học sinh, sinh viên các trường phổ thông, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh.
- Cung cấp luận cứ lịch sử phục vụ công tác quy hoạch, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của huyện Nghi Lộc, đặc biệt trong việc khai thác tiềm năng tự nhiên, nguồn nhân lực, đất đai và kinh tế biển.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nguồn tư liệu gốc còn thiếu khuyết nhất định: chỉ thu thập được 47 địa bạ trên tổng số 66 xã thôn thời Nguyễn (đạt 71,21%).
- Có sự chênh lệch số liệu giữa diện tích tổng kê ở đầu văn bản địa bạ với tổng số diện tích cộng chi tiết theo từng chủ sở hữu do sai sót trong quá trình lập sổ hoặc sao chép thư tịch cổ thời Nguyễn.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục tìm kiếm, bổ sung các tập địa bạ còn khuyết của các xã thôn thuộc huyện Chân Lộc.
- Khai thác sâu hơn các nguồn tư liệu dân gian, gia phả, hương ước cổ và mở rộng đối chiếu với các huyện đồng bằng ven biển lân cận như Diễn Châu, Quỳnh Lưu (Nghệ An) hoặc Nghi Xuân, Thạch Hà (Hà Tĩnh).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam: Tham khảo phương pháp tiếp cận định lượng trong xử lý địa bạ Hán Nôm và cấu trúc phân tích kinh tế - xã hội cấp huyện.
- Các nhà nghiên cứu địa chí, văn hóa Nghệ An: Khai thác hệ thống dữ liệu diên cách hành chính, danh nhân, dòng họ, địa danh và thiết chế làng xã thời Nguyễn.
- Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách: Tham khảo các tư liệu về điều kiện tự nhiên, đặc điểm thổ nhưỡng, mạng lưới giao thông thủy - bộ và kinh nghiệm khai thác kinh tế biển tại địa phương.
- Phần nội dung giá trị nhất: Hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết trong Chương 3 (phân loại ruộng đất, cơ cấu mùa vụ, quy mô chủ sở hữu, phụ canh, chủ sở hữu nữ) và các khảo cứu về địa lý, giao thông trong Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu tập địa bạ của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn?
Tác giả đã thu thập và xử lý 47 tập địa bạ lập dưới các triều Gia Long, Minh Mệnh và Tự Đức, phân bố đều ở cả 4 tổng (Đặng Xá, Kim Nguyên, Ngô Trường, Thượng Xá), chiếm tỷ lệ 71,21% tổng số 66 xã thôn của huyện Nghi Lộc đầu thế kỷ XIX.
2. Tỷ lệ phân chia giữa ruộng đất công và ruộng đất tư tại Nghi Lộc được ghi nhận như thế nào?
Số liệu từ 47 địa bạ cho thấy sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối với 80,3% tổng diện tích (28.591 mẫu), trong khi sở hữu công (công điền, công thổ, đất phù sa, bạch sa) chỉ chiếm 19,7% (khoảng 7.012 mẫu).
3. Hiện tượng phụ canh (xâm canh) tại huyện Nghi Lộc thời Nguyễn diễn ra ở mức độ nào?
Hiện tượng phụ canh diễn ra rất phổ biến: có 2.318 trường hợp phụ canh (chiếm 45,26% tổng số chủ sở hữu), nắm giữ 30,65% diện tích tư điền có thể tính sở hữu; 42/50 xã thôn có ruộng đất phụ canh, trong đó có những làng xã tỷ lệ chủ phụ canh lên tới 94% - 100% (như xã Đặng An 100%, thôn Bảo An 96,04%, xã Thịnh Hoa 94,59%).
4. Vì sao tỷ lệ ruộng đất bỏ hoang tại Nghi Lộc lại chiếm tới 74,7%?
Tỷ lệ hoang hóa cao bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên: phía Đông và Đông Bắc có nhiều cồn cát bạc màu nhiễm mặn, mùa hè nóng khô; phía Nam và Đông Nam nằm ở hạ nguồn sông Lam, sông Cấm thường xuyên chịu ngập úng vào mùa mưa bão; đồng thời phần lớn đất đai là ruộng hạng 3 kém màu mỡ (chiếm 97,09% công điền và 89,02% tư điền).
5. Luận án có bố cục gồm những chương nào và dung lượng bao nhiêu?
Luận án gồm 169 trang, phần nội dung chính gồm 151 trang chia làm 4 chương: Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề (12 trang); Chương 2 - Vài nét về địa bàn huyện Nghi Lộc (19 trang); Chương 3 - Kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (53 trang); Chương 4 - Xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (57 trang).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884)" là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, dựng lại bức tranh toàn diện về diện mạo kinh tế và đời sống xã hội của một huyện đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ. Bằng việc xử lý nguồn tư liệu địa bạ Hán Nôm và thư tịch cổ phong phú, tác giả đã làm sáng tỏ cấu trúc sở hữu ruộng đất mang tính tư hữu hóa cao, đặc điểm phân hóa sở hữu nhỏ và hiện tượng phụ canh phổ biến. Công trình cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử có giá trị thực tiễn cho công tác giáo dục lịch sử địa phương và hoạch định chính sách phát triển tại tỉnh Nghệ An.