CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở HUYỆN VĂN GIANG (HƯNG YÊN) 1999 – 2008.1 Một số vấn đề về chủ trương dồn điền đổi thửa 1.1 Quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai ở Việt Nam trước khi có chủ trương DĐĐT Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai. Trước năm 1945, đất nông nghiệp Việt Nam được chia làm hai loại chính: đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu. Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất bằng một loạt những chính sách của chính quyền mới. Trải qua các giai đoạn của hai cuộc kháng chiến ở cả hai miền Nam, Bắc, hình thức sở hữu, sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam đã có nhiều thay đổi.
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kì kế hoạch hoá tập trung và thời kì kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Cùng thời điểm này dân số lại tăng rất nhanh, điều đó dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng nghèo và đói. Nền kinh tế Việt Nam tụt hậu nhanh chóng và đứng trước nguy cơ sụp đổ. Cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam bắt đầu từ Chỉ thị 100CT của Ban Bí thư TƯ Đảng (ngày 13/1/1981) - Khoán 100, với nội dung chính là các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động.
Mặc dù còn có giới hạn, nhưng Khoán 100 đã là bước đột phá trong quá trình chuyển đổi từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể, tích cực đến sản xuất nông 14 z nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo. Tuy nhiên sau một thời gian, nông dân vẫn tiếp tục thiếu đói. Ở Miền Nam, các mâu thuẫn vẫn tiếp tục gia tăng ở khu vực nông thôn, đặc biệt trong mối quan hệ đất đai bởi sự cào bằng và phân chia đất.
Khoán 100 từng được coi là cứu cánh cho hộ nông dân, thì nay trở thành một gánh nặng. Một số hộ trả lại bớt ruộng cho HTX để tập trung thâm canh, hy vọng đạt năng suất cao hơn để thu nhập vượt khoán. Động lực sản xuất nhờ vượt khoán mất tác dụng. Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đã được thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4- 1988) – Khoán 10 về “Đổi mới quản lí kinh tế nông nghiệp”.
Với sự ra đời của Nghị quyết 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10 đến 15 năm, và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Từ nay hộ trở thành chủ thể độc lập, được hưởng quyền quản lí và sử dụng đất đai và tư liệu sản xuất chính, được phân phối sản phẩm trực tiếp từ kết quả sản xuất, tự quyết định về sản xuất. Từ khi thực hiện Nghị quyết 10, tỉ lệ sản phẩm làm ra mà nông dân được hưởng đã tăng từ 10 đến 20% năm 1987 lên hơn 40 đến 50% trong những năm 90 của thế kỷ XX [31, tr 53]. Đây là động lực để nông dân đầu tư tiền của, sức lao động nhiều hơn vào đồng ruộng.
Trong suốt thời kì đổi mới, một loạt các chính sách, văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến việc sử dụng và sở hữu đất đai đã ra đời. Sau Nghị quyết 10, Luật đất đai năm 1993 đã giao đất cho hộ nông dân với 5 quyền cơ bản: chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, cho thuê quyền sử dụng đất, và thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất trong thời hạn nhất định. Sau đó là Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001, Luật đất đai mới năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định trong 15 z phân bổ đất rừng và đất nông nghiệp. Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn.
Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7% năm (1994-1999) và khoảng 4,6% năm (2000-2003) [31, tr 72]. An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng, nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi. Tuy nhiên, rất nhiều thách thức mới cũng được đặt ra đối với nông nghiệp Việt Nam. Một trong những thách thức lớn là tình trạng manh mún và quy mô nhỏ lẻ về ruộng đất.
Tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam: nguyên nhân, thực trạng và hệ quả. Manh mún đất đai nghĩa là một hộ nông dân canh tác từ 2 thửa ruộng riêng lẻ trở lên [22, Tr 69]. Đây là một trong những vấn đề của nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Bắc. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường, đến năm 2000, cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có 6 đến 7 thửa ruộng, hộ ít nhất 3 thửa, hộ nhiều từ 10 đến 20 thửa, cá biệt có hộ 30 đến 50 thửa [37, Tr 216].1: Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc ĐBSH Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân/ thửa (m2) Tỉnh Ít nhất Nhiều Trung Nhỏ nhất Lớn nhất Trung nhất bình bình Hà Tây 9.8 Hải Phòng 5 18 6 20 Hải Dương 9 17 11 10 Vĩnh Phúc 7 47 9 10 5868 228 Nam Định 3.3 24 8 5 4224 [Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, năm 2002] Quy mô diện tích đất sản xuất của các nông hộ sau khi được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rất nhỏ, nhất là đối với các 16 z tỉnh Miền Bắc.
Bình quân 1 hộ là 5747m2, đối với ĐBSH chỉ có 1993m2/hộ[37, Tr 217]. Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạnh manh mún đất đai trong nông nghiệp là: Khi chia đất theo Nghị định số 64/CP ngày 27-9-1993 của Chính phủ đã thực hiện với phương châm chủ yếu dựa vào hiện trạng đất nông nghiệp mà các hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng khi thực hiện Chỉ thị 100/CT- TƯ theo nguyên tắc cơ bản là: mỗi hộ được nhận ruộng có tốt, có xấu, có gần, có xa. Nói cách khác, nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng, thông thường là chia bình quân theo định xuất. Để duy trì sự công bằng, mỗi hộ thường được giao nhiều mảnh ruộng với nhiều hạng đất khác nhau, ở nhiều cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau.
Ngoài ra có thể từ những nguyên nhân khác như: Công cụ lao động của người nông dân còn thủ công, sản xuất dựa vào sức kéo trâu bò, quy mô hộ nhỏ và sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu, không cho phép thực hiện mùa vụ đồng thời trên một diện tích lớn, tập trung. Do đặc điểm điều kiện địa hình, đặc biệt là những nơi có nhiều đồi núi hoặc ruộng bậc thang. Sự chênh lệch về độ cao buộc người nông dân phải đắp bờ để giữ nước, mà diện tích tạo nên sự chênh lệch lại quá nhỏ. Các nguyên nhân về lịch sử và địa hình rất khó giải quyết và đòi hỏi nhiều thời gian mới tập trung được loại đất này.
Manh mún cũng có thể được giải thích từ áp lực bởi tăng trưởng dân số, từ sự thừa kế đất đai, khi các gia đình nông dân cần phải phân chia ruộng đất một cách công bằng cho các thế hệ sau. Kết quả là, từ những mảnh ruộng to lại trở thành những mảnh nhỏ thuộc sở hữu của nhiều hộ gia đình cá thể. Nhất là đối với những vùng nông dân không có việc làm phi nông nghiệp. 17 z Ở Việt Nam nói riêng, ngoài nguyên nhân chủ yếu là do quá trình giao đất, sự manh mún còn có khả năng do sự trục trặc của thị trường đất đai, quy định của nhà nước về mức hạn điền trong sở hữu, sử dụng và trao đổi đất.
Thị trường trao đổi quyền sử dụng đất ở Việt Nam rất phức tạp. Nông dân nếu muốn sử dụng đất của họ để thế chấp vay ngân hàng cần có sự chấp nhận của chính quyền địa phương. Những nông dân có điều kiện tích tụ ruộng đất lớn thì lại vấp phải chính sách hạn điền của Nhà nước. Thậm chí manh mún ruộng đất có thể do chính người nông dân muốn duy trì khi họ cho rằng manh mún có thể có lợi ích nào đó.
Với những mảnh ruộng ở những vùng khác nhau, nông dân có thể giảm thời điểm căng thẳng bằng cách đa dạng hoá cây trồng. Hệ quả của sự manh mún về ruộng đất có thể nhìn thấy rõ rệt là sự cản trở việc cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ và đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và lao động hơn cho các hoạt động bởi khoảng cách quá xa giữa các mảnh ruộng, tăng chi phí, giảm diện tích sử dụng do ảnh hưởng của các bờ vùng bờ thửa, tăng các tác động xấu. Quá nhiều hộ sản xuất với quy mô các thửa đất quá nhỏ đã tạo ra cản trở lớn đến việc tổ chức sản xuất theo hướng hàng hoá và hiệu quả, không huy động được tiềm năng về vốn và lao động tại chỗ có thể đầu tư vào cải tạo đồng ruộng vì người sử dụng đất sợ rủi ro. Sự manh mún có thể còn gây khó khăn cho việc quy hoạch đồng ruộng, chi phí sản xuất lớn, giá thành tăng cao trong khi chất lượng sản phẩm thấp, dẫn đến thiếu khả năng cạnh tranh.
Nhưng ở một góc độ khác, manh mún có ảnh hưởng rất lớn đến đa dạng cây trồng. Nếu mức độ manh mún càng cao thì mức độ đa dạng hoá cây trồng cũng càng cao. Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp vẫn còn mang nhiều tính tự cung tự cấp thì điều này dẫn đến mức độ an toàn không những về lương thực mà còn về thu nhập cho hộ nông dân. Điều đó lí giải 18 z tại sao ở một số tỉnh nông dân vẫn muốn duy trì manh mún ở một mức độ nào đó.
Như vậy sự cân bằng giữa mức độ đa dạng cây trồng và manh mún đất đai cũng như phát triển sản xuất hàng hoá là vấn đề cần được chú ý và nghiên cứu.