Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG YÊN 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Quảng Yên là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam (nay là tỉnh Quảng Ninh), nơi có bề dày lịch sử - văn hóa gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước cùng với vị trí chiến lược quan trọng “Đất nhân, thế núi làm thành, dựa chỗ cao mà giữ hiểm, có núi để tựa, có biển vòng quanh, địa thế xa lánh mà hiểm yếu, trong thì giữ vững cương vực, ngoài thì khống chế đất Thanh” [36; Tr. Theo “Đại Nam nhất thống chí” biên chép, tỉnh Quảng Yên: “Từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 151 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 82 dặm.
Phía Đông đến cửa Suốt 143 dặm; Phía Tây đến sông huyện Thủy Đường tỉnh Hải Dương tám dặm; phía Nam đến cửa Bạch Đằng 25 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Yên Bác tỉnh Lạng Sơn 57 dặm; phía Đông Nam đến bể 137 dặm; phía Tây Nam đến sông hai huyện Nghi Dương và An Dương tỉnh Hải Dương 16 dặm; phía Đông Bắc đến địa giới Khâm Châu, thuộc tỉnh Quảng Đông nước Đại Thanh (Trung Quốc) 225 dặm; phía Tây Bắc đến giáp sông huyện Thủy Đường tỉnh Hải Dương 10 dặm. Từ tỉnh lỵ đi theo hướng Nam tới kinh đô 254 dặm [39; tr. Khu vực Quảng Yên trước năm 1945 bao gồm hai phủ: Sơn Định, Hải Ninh; ba huyện: Hoành Bồ, Yên Hưng, Nghiêu Phong thuộc phủ Sơn Định; hai châu: Vạn Ninh, Tiên Yên thuộc phủ Hải Ninh. Đại Nam nhất thống chí” biên chép về vị trí địa lý của các phủ, huyện, châu ở Quảng Yên như sau: Phủ Sơn Định ở phía Đông tỉnh thành 33 dặm.
Từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 142 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 74 dặm. Phía Đông đến cửa Đồi 105 dặm; phía Tây đến sông Bạch Đằng giáp địa giới huyện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Thủy Đường 37 dặm; phía Nam đến bể chín dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Yên Bác thuộc Lạng Sơn 65 dặm phủ “lãnh 3 huyện”: Hoành Bồ, Yên Hưng và Nghiêu Phong [39; tr. Huyện Hoành Bồ từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 90 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 74 dặm. Phía Đông đến địa giới châu Tiên Yên 65 dặm; phía Tây đến địa giới huyện Yên Hưng 25 dặm; phía Nam đến bể 9 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Yên Bác tỉnh Lạng Sơn 65 dặm [39; tr.
Huyện Yên Hưng ở phía Tây phủ Sơn Định 32 dặm. Từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 29 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 32 dặm. Phía Đông đến địa giới huyện Hoành Bồ 21 dặm, phía Tây đến địa giới huyện Thủy Đường tỉnh Hải Dương tám dặm; phía Nam đến địa giới huyện Nghiêu Phong tám dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Đông Triều (thuộc tỉnh Hải Dương, tức tỉnh Đông) 34 dặm [39; tr. Huyện Nghiêu Phong ở phía Tây Nam phủ Sơn Định 35 dặm.
Từ phía Đông sang phía Tây cách nhau 129 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 12 dặm. Phía Đông ra bể, đến vùng biển Vạn Ninh bảy dặm; phía Tây đến vùng biển hai huyện Nghi Dương và An Dương thuộc tỉnh Đông bảy dặm; phía Nam đến bể ba dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Yên Hưng chín dặm [39; tr. Phủ Hải Ninh ở phía Đông tỉnh thành 244 dặm. Từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 233 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 21 dặm.
Phía Đông đến núi Bạch Long Vĩ, giáp địa giới Khâm Châu nước Đại Thanh 70 dặm; phía Tây đến sông huyện Hoành Bồ thuộc phủ sơn Định 163 dặm; phía Tây đến cửa Tán 18 dặm; phía Bắc đến địa giới châu Thượng Tư nước Đại Thanh ba dặm, phủ Hải Ninh “quản lãnh 2 châu”: Vạn Ninh và Tiên Yên [39; tr. Châu Vạn Ninh: Từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 196 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 21 dặm. Phía Đông đến núi Bạch Long Vĩ, giáp địa giới Khâm Châu nước Đại Thanh 70 dặm; phía Tây đến địa giới châu Tiên Yên 79 dặm; phía Nam đến bể 18 dặm; phía Bắc đến châu Thượng Tư (thuộc nước Đại Thanh) ba dặm [39; tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Châu Tiên Yên ở phía Tây phủ 114 dặm.
Từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 84 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 120 dặm. Phía Đông đến địa giới châu Vạn Ninh 25 dặm; phía Tây đến địa giới huyện Hoành Bồ thuộc phủ Sơn Định 56 dặm; phía Nam đến bể 19 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Yên Bác, Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn và địa giới động Tự Lãng thuộc châu Thượng Tư nước Đại Thanh 81 dặm [39; tr. Như vậy, về mặt vị trí địa lý, tỉnh Quảng Yên có điều kiện hết sức thuận lợi trong quan hệ giao thương, tiếp xúc văn hóa với các vùng miền, địa phương trong nước như: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định,… và cả với Trung Quốc. Điều kiện tự nhiên Địa hình Quảng Yên không bằng phẳng, đại bộ phận ở độ cao từ 5.000m và thấp dần ra phía biển.
Đất cao trên 25m thường bị chia cắt bởi đồi núi, do đó diện tích bằng phẳng rất ít, phần lớn là đất sườn đồi, thung lũng, khe suối, có độ dốc lớn. Đất dưới 25m tập trung ở những chân núi, ven biển, phần lớn là đồng bằng trước núi và thềm phù sa cổ. Ngoài ra, tỉnh còn có thêm một số diện tích đất ở ven sông Kinh Thầy và vùng đất ngoài đê ven biển. Quảng Yên là tỉnh biên giới, miền núi, hải đảo, với hơn 80% đất đai là đồi núi, trong đó có nhiều ngọn núi đã được ghi vào sử sách: Núi Lôi Âm ở phía Đông huyện Yên Hưng 25 dặm, liền với địa giới huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương.
Thế núi thanh kì chót vót, cao hơn cả mọi núi khác. Trên đỉnh núi có chỗ bằng phẳng vuông vắn vào khoảng năm, sáu trượng, cây cỏ không mọc được. Tục truyền đó là bàn cờ tiên, cũng có người gọi là chợ trời. Ở lưng chừng núi có ngôi chùa.
Sau chùa có giếng, nước trong vắt. Bên tả có suối giải oan, nước suối từ trên đỉnh chảy xuống, vòng phía trước chùa, theo hướng Tây Nam đổ ra biển, núi non chầu về, thật là danh thắng nổi tiếng. Năm Tự Đức thứ ba (1850), liệt vào hàng danh sơn, chép vào tự điển [39; tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Núi Truyền Đằng ở cách huyện Hoành Bồ 18 dặm về phía Nam, gần cửa Lục.
Phía Đông có núi Vĩ Sơn và núi Trà Sơn, phía Nam có núi Uyển Sơn, phía Bắc có núi Liêm Sơn và núi Xã Sơn. Núi Cát Nương ở xã Chân Châu về phía Đông Nam huyện Nghiêu Phong, gần đấy về phía Đông có các núi Khánh Vàng, Tòng Thu, Lôi Mai, Lỗ Cảnh, phía Nam có núi Cát Sơn, phía Bắc có miếu cổ [36; tr. Núi Bàn Độ ở cách huyện Tiên Yên 29 dặm về phía Đông Nam, phía Đông còn có núi La Lôi, phía Đông Nam có núi Đài, núi Đôi, núi Yên Vĩ, núi Lão Vọng, núi Chàng Ngọ, về phía Bắc gần có núi Trà Án. Núi Tả Hàn ở cách châu Vạn Ninh 7 dặm về phía Nam, đối diện với hữu hàn ở bên kia sông [36; tr.
Ngoài ra, ở Quảng Yên còn các núi Lục Hồn, Núi Bụt, Bằng Na, Cổ Bồng, Tiên Sơn, Võ Tướng, Hinh Điền, Nga Sơn, Thủy Cung, Mã Yên,… Là một tỉnh ven biển, Quảng Yên có số lượng sông suối khá lớn, mật độ trung bình biến đổi từ 1 đến 1.9 km/km 2, có nơi có tới 2. Phần nhiều các con sông đều nhỏ, ngắn, dốc và chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, vuông góc với bờ biển [53]. Sông Cửa Than ở cách huyện Hoành Bồ 25 dặm về phía Đông, có hai nguồn: một nguồn từ xã Tứ Kì chảy về phía Nam 20 dặm, một nguồn từ phía Tây Nam xã Vũ Oai chảy 13 dặm, rồi hợp nhau mà chảy về phía Tây 18 dặm, hợp với sông Xích Thổ, lại chảy 12 dặm, qua núi Phượng Các, đổ ra Cửa Lục [36; tr. Sông Bài ở cách huyện Nghiêu Phong 4 dặm về phía Đông Nam, có tên nữa là sông Cát Nương Kì Vĩ (Nàng Cát Đuôi Cờ) nguồn từ sông Bồi ra sông Tranh thuộc huyện Yên Hưng, chảy về phía Nam hợp với nhau, chảy 2 dặm đến xã Phù Long, có một chi khác từ phía Tây Nam chảy đến đổ vào, lại chảy 11 dặm về phía Đông đến cửa biển Nghiêu Phong.
Sông này có hạt trai [36; tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Xét Đại Thanh nhất thống chí: Trong biển Vân Đồn châu Tĩnh Yên có hạt châu; khách buôn bán nói năm nào đêm trung thu có trăng, thì năm ấy có hạt chân châu [36; tr. Sông Tam Ngập ở cách châu Tiên Yên 7 dặm về phía Đông Bắc, có hai nguồn: một nguồn từ xã Phất Mê chảy về phía Nam 70 dặm, hợp với sông Hài Lãng chảy về phía nam 12 dặm, hợp với sông xã Phất Mê, rồi chảy về phía Đông Nam 11 dặm, chia làm 3 chẽ, một chẽ chảy về phía Đông Nam 24 dặm đổ ra cửa Đông Chú; một chẽ chảy về phía Đông 22 dặm, lại chia làm 2 chẽ khác: một chẽ chảy về phía Nam 9 dặm cũng đổ ra cửa Đông Chú, một chẽ chảy về phía Đông 14 dặm đổ ra cửa Mạc [36; tr. Sông Ninh Dương ở cách châu Vạn Ninh 1 dặm về phía Tây, nguồn từ các xã Thượng Lai và Mông Sơn, tổng Bát Trang, chảy về phía Đông 37 dặm làm sông Bắc Nham, lại chảy về phía Đông ven theo địa giới nước Thanh 19 dặm, đến xã Xuân Thụ tổng Hải Ninh, chia làm hai chi: một chi chảy ven theo địa giới nước Thanh rồi chảy chuyển sang phía Đông 7 dặm, đổ ra cửa Lạch, một chi chảy về phía Nam 5 dặm đến xã Ninh Dương, lại chia làm hai chi: một chi chảy về phía Đông làm sông Trà Cổ, một chi chảy về phía Tây Nam 1 dặm đến phía Đông Nam núi Tả Bàn Hữu Bàn chảy 5 dặm đổ ra cửa Tán, một chi từ phía Tây nam núi Hữu Hàn chảy 10 dặm đổ ra cửa Đại [36; tr.