mở đầu quá trình xâm lược nước ta. Cùng với quá trình đánh chiếm Nam Kỳ, thực dân Pháp đã cho xuất bản báo chí nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc xâm lược của chúng. Ban đầu báo chí ra đời chỉ với tư cách là các tập tin, tập kỷ yếu để thông báo các hoạt động, thông tin của chính phủ Pháp. Do vậy số lượng phát hành rất hạn chế.
Tờ báo đầu tiên dưới dạng này xuất hiện ở Việt Nam là tờ Le Bulletin officiel de I’ expedigion de la Cochinchine (Ky yếu công vu cuộc viễn chính xứ Nam Ky) viết bang chữ Pháp, phat hành tại Sài Gòn, số 1 ra ngày 29. Tờ báo này do Bonard (Bô-na), Thống đốc Nam Kỳ đầu tiên lập ra chủ yếu để đăng các quyết định, nghị định và những thông báo của giới chỉ huy quân đội Pháp cùng tin tức về hoạt động của chúng. Đến năm 1865 nó đổi tên thành Bulletin ơficiel de la Cochinchine Francaise (KỶ yếu công vụ xứ Nam Kỳ thuộc Pháp). Năm 1899 đổi thành Bulletin oficiel de l’Indochine Francaise (Kỷ yếu công vụ xứ Đông Dương thuộc Pháp) và năm 1902 một lần nữa nó được đổi tên thành Bulletin Administntif phat hanh trén toàn xứ Đông Duong.
10 Những năm tiếp theo nhiều báo khác lần lượt ra đời. Năm 1863, thực dân Pháp cho ra đời tờ Le Bulletin des Communes (Kỷ yếu làng xã) in bằng chữ Hán - Việt, được lưu hành chủ yếu trong giới quan lại làm tay sai cho Pháp. Năm 1864, tờ Le Courrier de Saigon (Tin tức Sài Gòn) ra đời. Khác với các tờ báo trước, báo này mang dáng dấp của một tờ báo thông tin, được xuất bản nhiều số hơn và nội dung phong phú hơn.
Ngoài việc đăng tải những tin tức của chính quyền thực dân nó còn đề cập tới các vấn đề kinh tế - xã hội đương thời. Đặc biệt sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, thực dân Pháp cho ra đời tờ Gia Dinh báo - tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Việt Nam. Gia Định báo ra số đầu tiên ngày 15.1865, mỗi tháng một số, mỗi số 4 trang, khổ 25x32 cm. Lúc này báo do một người Pháp là Éc-néc Pô-tô (Ernest Potteau) chịu trách nhiệm xuất bản, đến năm 1869 được giao cho Trương Vĩnh Ký làm Giám đốc và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Nội dung ngoài phần công vụ đăng các nghị định, thông tin, các hoạt động của chính phủ Pháp và tay sai, Gia Dinh báo còn có khuynh hướng tố cáo hành động xâm lược của thực dân Pháp, hành động đầu hàng bán nước của bộ phận phong kiến bản xứ. Gia Dinh báo tôn tại đến 1.1910 thì đóng cửa. Ngoài các tờ báo mang tính chất công báo, thực dân Pháp còn cho ra đời loại báo chuyên đăng những bài nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình kinh tế Việt Nam, về các nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam để phục vụ cho mục đích khai thác và bóc lột thuộc địa. Tiêu biểu là tờ Le Bulletin de Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine (Kỷ yếu của Uy ban canh I1 nông và kỹ nghệ xứ Nam Kỳ) xuất bản năm 1869.
Ở Bắc Kỳ sau khi hiệp ước Héc măng được ký kết, Bắc Kỳ và Trung Kỳ nằm dưới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp, chúng cũng cho lập nha in và xuất bản báo. Tờ báo đầu tiên được xuất ban ở Bắc Kỳ là tờ Bulletin officiel đe Protectorat de I’ Annam et du Tonkin (Ky yếu công vụ của nền bảo hộ xứ Bắc và Trung Kỳ). Tiếp đó là các báo L’ Avenir dụ Tonkin (Tương lai của Bắc Kỳ), L’ Indépendance Tonkinoise (Bắc Kỳ độc lập) xuất ban năm 1884. Năm 1888 sau khi chiếm được Bắc Kỳ, thực dân Pháp đã cho xuất bản tờ báo tiếng Việt đầu tiên là tờ Bao hộ Nam dân, trụ sở đặt tại Hải Phòng ( số 1 ra ngày 8.
Tôn chỉ mục đích của báo được trình bày trong số đầu như sau: “. phục vụ quyền lợi của nước Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, dạy cho dân An Nam biết kính trọng và phục tùng chính phủ Cộng hoà Pháp và các đại diện của họ, làm an lòng và giảm bớt sự thù hằn của người dân”. Bảo hộ Nam dân chỉ ra được vài số thì bị đình ban. Sau gần ba mươi năm kể từ khi tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời, đến năm 1893 thực dân Pháp mới xuất bản được tờ báo đầu tiên tại Hà Nội, tờ Đại Nam đồng văn nhật báo, do một nhà tư bản Pháp là Sơ ne đơ (Francois Henri Schneider) sáng lập.
Lúc dau báo được xuất bản bang chữ Hán-Việt. Đối tượng chủ yếu là các quan lại, các trí thức Nho học. Báo nhằm đăng tải các chính sách của bọn cầm quyền Pháp, ngoài ra còn đăng những bài dạy chữ quốc ngữ và giải thích bang chữ Hán-Việt. Dai Nam đồng văn nhật báo tồn tại trong 14 năm, đến năm 1907 đổi tên thành Đăng cổ tùng báo và được in bang hai thứ chữ quốc ngữ và Hán-Việt.
Ở Nam Kỳ sau Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt thứ hai ra đời là Phan 12 Yên báo - năm 1898 (Phan Yên là tên cũ của thành Gia Định). Phan Yên báo ra báo hàng tuần nhưng chỉ được 7,8 số thì bị đình bản bởi một loạt bài mang xu hướng yêu nước rõ rét. Như vậy, cùng với quá trình xâm lược và bình định Việt Nam của thực dân Pháp, báo chí cũng đã lần lượt xuất hiện ở cả ba miền, ca báo tiếng Pháp và báo tiếng Việt. Cho xuất bản báo chí ở Việt Nam thực dân Pháp nhằm mục đích dùng báo chí làm phương tiện để tuyên truyền cho chính sách cai trị và đặc biệt thông qua việc phát hành báo chí cũng đã đem lại cho chúng nguồn thu đáng kể.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đó việc xuất bản báo chí cũng đã đem đến cho thực dân Pháp những hậu quả khó lường. Đó là lần đầu tiên người dân Việt Nam được tiếp cận với một hình thức thông tin mới là báo chí; đặc biệt báo tiếng Việt ra đời khiến cho chữ quốc ngữ được phổ biến ngày càng rộng rãi. Mặt khác thông qua báo chí người Việt Nam càng hiểu rõ hơn tình hình trong nước và thế giới, về những âm mưu và chính sách của thực dân Pháp, từ đó sử dụng báo chí như một thứ vũ khí để chống lại chúng một cách có hiệu quả hơn. Qua hai cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai, đến cuối những năm ba mươi của thế kỷ XX báo chí ở Việt Nam đã phát triển hết sức nhanh chóng, đặc biệt là sự tăng nhanh về số lượng(sáu tháng đầu năm 1939 có 114 tờ báo và 160 tap chí, tập san tiếng Việt và tiếng Pháp, đến cuối năm 1939 tăng lên 120 tờ báo và 182 tạp chí và tập san.
Về sau này bên cạnh báo chí công khai hợp pháp đã xuất hiện dòng báo chí cách mạng (tờ Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6 năm 1925 ở Trung Quốc được coi là tờ báo cách mạng đầu tiên). Báo chí đã thực sự trở thành phương tiện cực kỳ quan trọng trong việc truyền bá văn hoá. Báo chí cũng đã được những người yêu nước, những người cộng sản Việt Nam, bằng cả hai con đường 13 công khai và không công khai, hợp pháp và bất hợp pháp để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước và cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cộng sản, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. SỰ RA ĐỜI CỦA TRI TÂN, TẠP CHÍ VĂN HOÁ VÀ KHẢO CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI.
Vài nét về tình hình báo chí Việt Nam thời kỳ 1939 - 1945. Năm 1939 chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương chính quyền thực dân Pháp tăng cường bộ máy đàn áp, xoá bỏ mọi thành quả đấu tranh mà nhân dân ta đã giành được trong những năm thời kỳ Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp. Giữa năm 1940 phát xít Đức tấn công nước Pháp, chính phủ Pê-tanh nhanh chóng đầu hàng.1940 phát xít Nhật tràn vào Đông Dương, Pháp - Nhật cấu kết với nhau bóc lột, đàn áp nhân dân ta.
Tuy nhiên đây cũng là thời kỳ cách mạng Việt Nam chuyển sang một bước ngoặt mới. Trước diễn biến mới của tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 6 (1939) đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Tư tưởng này được tiếp tục thể hiện qua Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (1940) và hoàn chỉnh tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (1941) dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Mặt trận Việt Minh ra đời đoàn kết mọi tầng lớp yêu nước dưới cùng một ngọn cờ giải phóng dân tộc.
Cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, công cuộc chuẩn bị lực lượng, cả về chính trị, cả về vũ trang diễn ra sôi nổi trên khấp toàn quốc.1945 Nhật dao chính Pháp. Bắt đầu một cao trào kháng Nhật cứu nước rầm rộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh dẫn đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám. 14 Chiến tranh đã làm cho nền kinh tế Đông Dương thời kỳ này lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Thực dân Pháp và phát xít Nhật cấu kết với nhau tăng cường vơ vét bóc lột nhân dân ta, kể cả sức người, sức của để cung ứng cho chiến tranh.
Nhân dân Đông Dương, trong đó có Việt Nam, rên xiết trong cảnh “một cổ hai tròng” nô lệ. Đặc biệt sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.1945) với chính sách quân sự hóa kinh tế, tăng thuế, bắt nông dân nhổ lúa trồng đay là nguyên nhân trực tiếp gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm 2 triệu đồng bào ta chết đói. Kinh tế suy thoái làm cho hàng hoá khan hiếm. Vật liệu cho ngành in như mực, giấy trở hết sức đắt đỏ đã ảnh hưởng trực tiếp đến nghề xuất bản, trong đó có nghề báo.
Nhiều tờ báo trong thời kỳ này phải đóng cửa hoặc giảm trang, In trên giấy xấu là vì thế. Tuy nhiên báo chí phát hành trong thời kỳ này vẫn được duy trì với một số lượng khá lớn. Một trong những nguyên nhân là do nhu cầu tìm hiểu tình hình trong nước và quốc tế tăng lên, đối tượng người đọc cũng mở rộng. Mặt khác cũng phải kể đến sự trưởng thành chung của nghề làm báo, công nghệ in ấn và xuất bản Tình hình báo chí những năm 1941 - 1945 có những diễn biến phức tạp.