Đồ án nghiên cứu chế biến nghêu Meretrix lyrata bằng phương pháp sấy thăng hoa

Nghiên cứu chế biến nghêu Meretrix lyrata bằng phương pháp sấy thăng hoa tại HCMUTE, mang lại hiệu quả và ứng dụng trong ngành thực phẩm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

121
11
2

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: Giới thiệu về nghêu

1.1. Đặc điểm và phân loại

1.2. Hình thái và cấu tạo của nghêu

1.3. Một số đặc điểm sinh học của nghêu

1.4. Một số đặc điểm môi trường sống của nghêu

1.5. Tỷ lệ các thành phần cơ thể nghêu

1.6. Giá trị của thịt nghêu

1.7. Tác dụng của thịt nghêu

1.8. Tình hình chế biến và xuất khẩu nghêu ở nước ta hiện nay

1.9. Một số sản phẩm từ nguyên liệu nghêu

1.10. Phương pháp sấy thăng hoa

1.11. Lịch sử phát triển công nghệ sấy thăng hoa

1.12. Mục đích của việc sấy thăng hoa thực phẩm

1.13. Ưu- nhược điểm của máy sấy thăng hoa

1.14. Cơ sở khoa học của công nghệ sấy thăng hoa

1.15. Các giai đoạn của quá trình sấy thăng hoa

1.16. Sấy thăng hoa nghêu

1.17. Tình hình sấy thăng hoa trên thế giới

1.18. Tình hình sấy thăng hoa ở Việt Nam

1.19. Tình hình nghiên cứu nghêu và nhuyễn thể trong và ngoài nước

1.20. Phân tích đối tượng công nghệ sấy thăng hoa nghêu

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu trong nghiên cứu

2.2. Thiết bị và máy móc sử dụng

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp làm sạch nghêu (xử lý cát sạn)

2.3.2. Phương pháp xác định thành phần khối lượng của nghêu

2.3.3. Phương pháp luộc nghêu

2.3.4. Phương pháp xác định thời gian và nhiệt độ hoàn nguyên của mẫu sau sấy

2.3.5. Phương pháp xác định khả năng hoàn nguyên trở lại

2.3.6. Phương pháp xác định độ ẩm trong con nghêu

2.3.7. Phương pháp xác định chi phí năng lượng

2.3.8. Phương pháp xác định hàm lượng khoáng

2.3.9. Phương pháp xác định protein

2.3.10. Phương pháp xác định lipid

2.3.11. Phương pháp phân tích acid amin

2.3.12. Phương pháp phân tích vi sinh

2.3.13. Phương pháp quy hoạch thực nghiệm và tối ưu (bố trí thí nghiệm)

2.3.14. Thiết lập bài toán tối ưu các hàm mục tiêu thành phần

2.3.15. Thiết lập bài toán tối ưu đa mục tiêu

2.3.16. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thành phần và tính chất dinh dưỡng của nghêu

3.2. Xác định thành phần khối lượng của nghêu

3.3. Xác định thành phần dinh dưỡng của thịt nghêu

3.4. Nghiên cứu quá trình xử lý làm sạch nghêu

3.5. Nghiên cứu thiết lập bài toán tối ưu cho quá trình sấy thăng hoa nghêu

3.5.1. Xác định cực tiểu hóa độ ẩm sản phẩm

3.5.2. Xác định cực tiểu hóa hàm lượng protein tổn thất

3.5.3. Xác định cực tiểu hóa chi phí năng lượng

3.5.4. Bài toán tối ưu một mục tiêu

3.5.5. Phương trình tính toán cho độ ẩm của sản phẩm

3.5.6. Phương trình tính toán cho tổn thất protein

3.5.7. Phương trình tính chi phí năng lượng cho quá trình sấy thăng hoa nghêu

3.5.8. Xây dựng và giải bài toán tối ưu đa mục tiêu

3.6. Xây dựng quy trình công nghệ

3.6.1. Sơ đồ quy trình công nghệ

3.6.2. Giải thích quy trình

3.7. Đánh giá chất lượng thịt nghêu

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghêu Meretrix lyrata

Nghêu Meretrix lyrata là một trong những loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ phổ biến tại vùng biển Nam Bộ Việt Nam. Chúng có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt là nguồn cung cấp protein dồi dào. Nghêu sống ở tầng đáy nước và được thu hoạch quanh năm, với thời điểm thu hoạch tốt nhất từ tháng 4 đến tháng 5. Sản phẩm nghêu ngày càng được ưa chuộng không chỉ trong nước mà còn trên thị trường quốc tế, đặc biệt là tại Mỹ và Nhật Bản. Việc nuôi nghêu không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn và đầu tư ít, mang lại giá trị kinh tế cao cho ngư dân. Nghêu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường đáy vùng triều ven biển.

1.1 Đặc điểm sinh học và môi trường sống

Nghêu thuộc họ Veneridae, có khoảng 500 loài, trong đó Meretrix lyrata là loài có mật độ cao nhất tại Bến Tre và Tiền Giang. Chúng có khả năng phát triển nhanh, đạt kích thước 5 cm trong vòng 2-3 năm. Nghêu sống trong môi trường nước lợ, thường ở các bãi triều và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện môi trường. Thịt nghêu có giá trị dinh dưỡng cao, chứa đầy đủ các acid amin thiết yếu, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sức khỏe con người.

II. Phương pháp chế biến nghêu bằng sấy thăng hoa

Phương pháp sấy thăng hoa là một trong những công nghệ tiên tiến nhất trong chế biến thực phẩm, đặc biệt là đối với thủy hải sản như nghêu. Quá trình này diễn ra ở nhiệt độ thấp và áp suất thấp, giúp bảo toàn các chất dinh dưỡng và đặc tính cảm quan của sản phẩm. Sấy thăng hoa không chỉ giữ lại màu sắc và mùi vị của nghêu mà còn giảm thiểu tổn thất các dưỡng chất dễ bị mất trong các phương pháp sấy truyền thống. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với chế độ sấy tối ưu, sản phẩm nghêu có thể bảo quản lâu dài mà không làm giảm chất lượng.

2.1 Quy trình sấy thăng hoa

Quy trình sấy thăng hoa bao gồm các bước làm sạch, luộc và sấy. Đầu tiên, nghêu được làm sạch để loại bỏ cát sạn, sau đó được luộc để tiêu diệt vi sinh vật. Cuối cùng, quá trình sấy thăng hoa diễn ra trong môi trường chân không, giúp nước trong nghêu chuyển từ thể rắn sang thể hơi mà không qua thể lỏng. Kết quả là sản phẩm nghêu sấy có độ ẩm thấp, giữ được hương vị và giá trị dinh dưỡng cao, có thể bảo quản từ 2-3 năm nếu được đóng gói cẩn thận.

III. Đánh giá chất lượng và giá trị dinh dưỡng của nghêu sấy thăng hoa

Sản phẩm nghêu sau khi sấy thăng hoa đạt được các tiêu chuẩn chất lượng cao. Độ ẩm của sản phẩm đạt khoảng 5,63%, tổn thất protein chỉ 4,46%, và chi phí năng lượng cho quá trình sấy là 6,73%. Các chỉ tiêu hóa lý như hàm lượng protein, lipid và khoáng chất đều đạt yêu cầu, cho thấy rằng phương pháp sấy thăng hoa không chỉ bảo quản tốt mà còn giữ lại giá trị dinh dưỡng của nghêu. Sản phẩm có màu sắc và mùi vị đặc trưng, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.

3.1 Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho ngành chế biến thực phẩm, đặc biệt là trong việc bảo quản và chế biến các loại thủy hải sản. Công nghệ sấy thăng hoa có thể được áp dụng rộng rãi cho nhiều loại thực phẩm khác, giúp nâng cao giá trị sản phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao. Việc phát triển công nghệ này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho ngư dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành thủy sản.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1.Giới thiệu về nghêu 1. Đặc điểm và phân loại Nghêu thuộc Họ Ngao Veneridae, Giống ngao Meretrix. Họ Ngao có khoảng trên 500 loài, phân bố rộng ở vùng bãi triều ven biển các nước ôn đới và nhiệt đới. Ở Việt Nam có khoảng 6 loài thuộc họ Veneridae trong đó có hai loài thuộc giống Meretrix và một loài thuộc giống Cyclina, hai loài thuộc giống Anomalocardia và một loài thuộc giống Ktelisia.

Các loại họ nghêu như ngao dầu (Meretrix meretrix Linne, 1758), nghêu Bến Tre (Meretrix Lyrata, 1851), ngao rimu (Katelysia rimularis), ngao bốn cạnh (Mactra quadragularis), ngao tai tượng (Tridacna squamosa) phân bố ở nhiều nơi như ngao dầu ở Quảng Ninh, ngao Rimu ở Bình Định, ngao bốn cạnh ở Quảng Ninh, Hải Phòng. Tuy nhiên chỉ có nghêu Meretrix Lyrata loại có mật độ cao nhất và phân bố chủ yếu ở hai khu vực là Bến Tre và Tiền Giang. [33] Nghêu có tên khoa học là Meretrix lyrata, tên thương mại là Lyrate asiatic hard clam. Là nhóm động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, thân mềm có thể phát triển đạt kích thước 5 cm trong thời gian 2 – 3 năm.

Nghêu sống ở tầng đáy nước và được thu hoạch hầu như quanh năm, nhưng thích hợp nhất là thu hoạch từ đầu tháng tư đến cuối tháng năm. Đây là loại hải sản có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta, là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Thịt nghêu ngon, lành tính được coi là đặc sản quý. Trước đây nghêu được tiêu dùng chủ yếu ở trong nước, nhưng những năm gần đây mặt hàng nghêu hấp đông lạnh, đóng hộp được chế biến xuất khẩu.

Thị trường tiêu thụ nghêu mạnh nhất là Mỹ và Nhật. Những nước này nhập khẩu nghêu hàng năm khoảng 120.000 tấn của các nước Đông Nam Á (trong đó gần đây có Việt Nam), đem lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho khu vực đang phát triển này (300 - 400 triệu USD mỗi năm) trên thế giới đang ngày càng tăng. Chính vì vậy nghêu đã trở thành đối tượng nuôi có hiệu quả kinh tế cao của ngư dân vùng ven biển Nam bộ. Kỹ thuật nuôi nghêu không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại có giá trị cao.

Nuôi nghêu còn là biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển nguồn lợi này, góp phần làm sạch môi trường đáy vùng triều ven biển. 1 do an Hình 1.Nghêu (Sowerby, 1851)  Phân loại nghêu về sinh vật học Theo Habe, Sadao (1966) và Nguyễn Chính (1996), phân loại nghêu như sau: Giới: Animalia Ngành thân mềm: Mollusca Lớp 2 mảnh vỏ: Bivalvia Bộ mang thật: Veneroida Bộ phụ: Schzodonta Họ: Veneridae Giống: Meretrix Loài: M.lyrata (Sowerby, 1851) Loài nghêu Bến Tre thuộc Meretrix lyrata (Sowerby, 1951) đã được Bộ Thủy sản Việt Nam xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Hình thái và cấu tạo của nghêu a. Hình dạng bên ngoài - Cấu tạo bên ngoài của nghêu được nghiên cứu một cách chi tiết bởi Michael M.

Cơ thể nghêu được bao bọc bởi 2 vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), cạnh trước ngắn hơn và bằng khoảng 2/3 của cạnh sau, chiều cao của vỏ bằng 85% chiều dài, chiều dày của vỏ bằng 55% chiều dài. Hai vỏ gắn vào nhau bằng một bản lề, ở mặt lưng có dây chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi dùng để mở vỏ. Bản lề lộ ra bên ngoài có dạng hình trụ nằm bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía sau cạnh một khoảng bằng ¼ chiều dài của cạnh sau. Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên mặt vỏ có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng, mỗi cá thể có từ 25 – 60 đường sinh trưởng, vỏ 2 do an càng lớn thì số đường sinh trưởng càng nhiều, các đường này càng gần đỉnh vỏ thì càng khó đếm.

Phía trước đỉnh vỏ là mặt nguyệt hình viên đạn nhỏ, màu trắng, xung quanh mép của mặt nguyệt có một viền màu nâu nhạt. Mặt thuẫn có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài hết cạnh sau của vỏ. Mặt bụng mép vỏ cung tròn.[36] - Bên trong vỏ, phía dưới vỏ và bản lề có mặt khớp. Mặt khớp có rang khớp lại với nhau rất khít, rang khớp của vỏ trái và vỏ phải khác nhau.

Mặt trong của vỏ có màu trắng ngà, nhẵn trơn có các vết in của cơ khép vỏ trước và cơ khép vỏ sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước. Từ vết in của cơ màng áo trở ra mép vỏ tầng xà cừ nhẵn bóng, óng ánh, từ vết in màng áo trở vào tầng xà cừ đực. Vết cơ khép vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khép vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau có dạng hình tròn. Cấu tạo bên trong của nghêu [32, 36] Hình 1.

Cấu tạo bên trong của nghêu (được vẽ lại từ J.Poutier) 3 do an Hình 1. Cấu tạo bên trong con nghêu thực tế [36] Cấu tạo bên trong của nghêu cũng giống như cấu tạo bên trong của các động vật hai mảnh vỏ khác. Cơ thể nghêu cũng chia ra thành nhiều hệ như: hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ vận động và hệ thần kinh. Nhưng nghêu là loài động vật bậc thấp nên các hệ cơ quan phát triển còn đơn giản như hệ thần kinh chưa phát triển thành não bộ mà chỉ là một số hạch thần kinh cảm giác.

Hệ hô hấp, tiêu hóa phát triển mạnh hệ thống tua miệng và kênh rảnh trên mang giúp cho việc lọc thức ăn và oxy hiệu quả. Ngoài ra nghêu cũng mang những đặc điểm riêng biệt của lớp 2 mảnh vỏ: - Màng áo: 2 tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nôi tạng của nghêu. Viền mép màng áo có nhiều mấu lồi cảm giác. Phía trước mép của màng áo phía gần bụng dính lại với nhau hình thành 2 ống dẫn nước: ống dẫn nước vào nằm ở phía bụng và ống dẫn nước ra nằm ở phía lưng, ống dẫn nước vào dài hơn ống dẫn nước ra.

Ngoài tự nhiên, nghêu vùi mình trong nền đáy, chỉ thò 2 ống dẫn nước lên trên bề mặt đất và thực hiện các hoạt động sống như hô hấp, bắt mồi, bài tiết. - Chân nghêu: có dạng hình lưỡi rìu, cong và nhọn về phía trước. Mép chân mỏng và trên bề mặt của chân có nhiều rảnh rất mịn hướng từ trong ra mép chân. Chân cấu tạo gồm nhiều sợi cơ thường từ trong chạy ra mép chân song song với các rãnh chân.

Các sợi cơ tập trung ở phần gốc tạo thành cơ kéo chân trước và sau, các cơ này bám vào vỏ ở vị trí sát cơ khép vỏ trước và sau về phía mặt lưng. - Hệ hô hấp: cơ quan hô hấp chính của nghêu là mang và hệ thống các mao mạch phân bố chằng chịt trong cơ thể dùng để cung cấp oxy đi nuôi cơ thể và thải khí CO2 ra ngoài môi trường. 4 do an - Hệ tiêu hóa: Miệng nghêu là một rảnh ngang nằm ở phía trước cơ thể, bên miệng có tấm môi ngoài, môi trong và có tiêm mao để vận chuyển thức ăn. Thực quản và dạ dày mỏng.

Xung quanh dạ dày có các nang tiêu hóa. Thức ăn từ mang lọc được vận chuyển đến miệng bằng một hệ thống tua miệng vận chuyển liên hoàn rồi vào thực quản, lúc này thức ăn đã được thấm một số men tiêu hóa tiết ra từ tuyến nước bọt và tiếp tục được vận chuyển vào dạ dày. Tại dạ dày thức ăn được chia làm 2 loại là thức ăn có thể hấp thu và thức ăn không thể hấp thu bởi một hệ thống lọc phức tạp trong dạ dày. Thức ăn có thể hấp thu được vận chuyển vào các nang tiêu hóa.

Thức ăn không thể hấp thu được vận chuyển xuống rãnh ruột rồi thoát ra ngoài môi trường qua lỗ hậu môn nằm ở phần gốc của ống thoát nước ra. - Hệ sinh dục: nghêu là động vật phân tính, con đực con cái riêng. Khi tuyến sinh dục thành thục ở con cái có màu vàng, con đực có màu trắng sữa phủ khắp nội tạng. - Hệ tuần hoàn: gồm có tim nằm ở mặt lưng, phía dưới đỉnh vỏ.

Tim gồm 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ được bao bọc bởi màng xoang bao tim. Màng xoang bao tim mỏng, trong suốt, có thể nhìn thấy tim bên trong. Máu của nghêu không màu. - Hệ bài tiết: gồm một đôi thận có màu vàng nhạt nằm đối xứng nhau ở 2 bên khối nội tạng phía dưới xoang bao tim.

Một số đặc điểm sinh học của nghêu c. Phân bố [6] Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) phân bố ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương, từ Đài Loan tới Việt Nam.Nghêu phân bố ở vùng trung triều đến độ sâu 1 – 2 m nước, chất đáy cát có pha bùn ở gần các cửa sông. Ở Việt nam, chúng chỉ phân bố ở khu vực miền Tây Nam Bộ như Cần Giờ (TP.HCM), Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Bạc Liêu, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Ngọc Hiển (Cà Mau). Vùng có sản lượng cao nhất là ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang và Bến Tre (Nguyễn Chính, 1996).

5 do an Hình 1. Vùng nuôi nghêu Bến Tre ở Thạnh Hóa [36] d. Tập tính sống [21] Tập tính sống của nghêu tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển của nghêu. Ở giai đoạn ấu trùng phù du (Trochphore) thì chúng sống trôi nổi trong nước, đến giai đoạn ấu trùng bám (Verliger) chúng chuyển sang sống ở đáy, phát triển chân và tuyến tơ (Bysssus) để bám, lúc này thích hợp với nền đáy bằng phẳng và cần vật bám như cát to, sỏi và khi ấu trùng đã bám thì tuyến tơ biến mất.

Đến giai đoạn trưởng thành, nghêu sống vùi mình trong đáy cát bùn hoặc bùn cát nhờ chân hoạt động. Lúc này chân nghêu phát triển đầy đủ có dạng lưỡi rìu, chân có thể co duỗi nhờ các cơ. Khi chân duỗi tiết diện ngang của chân rộng và khi tiết diện ngang có dạng hình mũi tên, nhờ vậy nghêu có thể chui xuống nền đáy để vùi mình. Đặc điểm dinh dưỡng [21] Nghêu là động vật ăn lọc không có khả năng chủ động tìm và chọn lọc thức ăn, do vậy lượng thức ăn trong nước giàu hay nghèo, đa dạng hay đơn giản quyết định thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của chúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu chế biến nghêu Meretrix lyrata bằng phương pháp sấy thăng hoa" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc chế biến nghêu Meretrix lyrata, một loại hải sản có giá trị dinh dưỡng cao, thông qua phương pháp sấy thăng hoa. Phương pháp này không chỉ giúp bảo quản sản phẩm lâu dài mà còn giữ nguyên hương vị và chất dinh dưỡng của nghêu. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình chế biến, lợi ích của việc sử dụng công nghệ sấy thăng hoa, cũng như tiềm năng ứng dụng trong ngành thực phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp chế biến thực phẩm và công nghệ liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm nâng cao hiệu suất trích ly dịch quả từ trái quách bằng phương pháp enzyme ứng dụng trong sản xuất thức uống limonia acidissima", nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về việc tối ưu hóa quy trình trích ly trong sản xuất thực phẩm.

Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm nghiên cứu thu nhận bột cellulose từ lá dứa ananas comosus" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về việc thu nhận các thành phần giá trị từ thực vật, mở rộng thêm kiến thức về công nghệ chế biến thực phẩm.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về việc xây dựng chương trình HACCP trong sản xuất thực phẩm qua bài viết "Luận văn nghiên cứu xây dựng chương trình haccp cho dây chuyền sản xuất heo viên tại nhà máy chế biến thịt cp việt nam", giúp bạn hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm trong ngành chế biến.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các công nghệ chế biến thực phẩm hiện đại.