CHƯƠNG 1.Giới thiệu về nghêu 1. Đặc điểm và phân loại Nghêu thuộc Họ Ngao Veneridae, Giống ngao Meretrix. Họ Ngao có khoảng trên 500 loài, phân bố rộng ở vùng bãi triều ven biển các nước ôn đới và nhiệt đới. Ở Việt Nam có khoảng 6 loài thuộc họ Veneridae trong đó có hai loài thuộc giống Meretrix và một loài thuộc giống Cyclina, hai loài thuộc giống Anomalocardia và một loài thuộc giống Ktelisia.
Các loại họ nghêu như ngao dầu (Meretrix meretrix Linne, 1758), nghêu Bến Tre (Meretrix Lyrata, 1851), ngao rimu (Katelysia rimularis), ngao bốn cạnh (Mactra quadragularis), ngao tai tượng (Tridacna squamosa) phân bố ở nhiều nơi như ngao dầu ở Quảng Ninh, ngao Rimu ở Bình Định, ngao bốn cạnh ở Quảng Ninh, Hải Phòng. Tuy nhiên chỉ có nghêu Meretrix Lyrata loại có mật độ cao nhất và phân bố chủ yếu ở hai khu vực là Bến Tre và Tiền Giang. [33] Nghêu có tên khoa học là Meretrix lyrata, tên thương mại là Lyrate asiatic hard clam. Là nhóm động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, thân mềm có thể phát triển đạt kích thước 5 cm trong thời gian 2 – 3 năm.
Nghêu sống ở tầng đáy nước và được thu hoạch hầu như quanh năm, nhưng thích hợp nhất là thu hoạch từ đầu tháng tư đến cuối tháng năm. Đây là loại hải sản có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta, là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Thịt nghêu ngon, lành tính được coi là đặc sản quý. Trước đây nghêu được tiêu dùng chủ yếu ở trong nước, nhưng những năm gần đây mặt hàng nghêu hấp đông lạnh, đóng hộp được chế biến xuất khẩu.
Thị trường tiêu thụ nghêu mạnh nhất là Mỹ và Nhật. Những nước này nhập khẩu nghêu hàng năm khoảng 120.000 tấn của các nước Đông Nam Á (trong đó gần đây có Việt Nam), đem lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho khu vực đang phát triển này (300 - 400 triệu USD mỗi năm) trên thế giới đang ngày càng tăng. Chính vì vậy nghêu đã trở thành đối tượng nuôi có hiệu quả kinh tế cao của ngư dân vùng ven biển Nam bộ. Kỹ thuật nuôi nghêu không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại có giá trị cao.
Nuôi nghêu còn là biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển nguồn lợi này, góp phần làm sạch môi trường đáy vùng triều ven biển. 1 do an Hình 1.Nghêu (Sowerby, 1851) Phân loại nghêu về sinh vật học Theo Habe, Sadao (1966) và Nguyễn Chính (1996), phân loại nghêu như sau: Giới: Animalia Ngành thân mềm: Mollusca Lớp 2 mảnh vỏ: Bivalvia Bộ mang thật: Veneroida Bộ phụ: Schzodonta Họ: Veneridae Giống: Meretrix Loài: M.lyrata (Sowerby, 1851) Loài nghêu Bến Tre thuộc Meretrix lyrata (Sowerby, 1951) đã được Bộ Thủy sản Việt Nam xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Hình thái và cấu tạo của nghêu a. Hình dạng bên ngoài - Cấu tạo bên ngoài của nghêu được nghiên cứu một cách chi tiết bởi Michael M.
Cơ thể nghêu được bao bọc bởi 2 vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), cạnh trước ngắn hơn và bằng khoảng 2/3 của cạnh sau, chiều cao của vỏ bằng 85% chiều dài, chiều dày của vỏ bằng 55% chiều dài. Hai vỏ gắn vào nhau bằng một bản lề, ở mặt lưng có dây chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi dùng để mở vỏ. Bản lề lộ ra bên ngoài có dạng hình trụ nằm bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía sau cạnh một khoảng bằng ¼ chiều dài của cạnh sau. Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên mặt vỏ có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng, mỗi cá thể có từ 25 – 60 đường sinh trưởng, vỏ 2 do an càng lớn thì số đường sinh trưởng càng nhiều, các đường này càng gần đỉnh vỏ thì càng khó đếm.
Phía trước đỉnh vỏ là mặt nguyệt hình viên đạn nhỏ, màu trắng, xung quanh mép của mặt nguyệt có một viền màu nâu nhạt. Mặt thuẫn có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài hết cạnh sau của vỏ. Mặt bụng mép vỏ cung tròn.[36] - Bên trong vỏ, phía dưới vỏ và bản lề có mặt khớp. Mặt khớp có rang khớp lại với nhau rất khít, rang khớp của vỏ trái và vỏ phải khác nhau.
Mặt trong của vỏ có màu trắng ngà, nhẵn trơn có các vết in của cơ khép vỏ trước và cơ khép vỏ sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước. Từ vết in của cơ màng áo trở ra mép vỏ tầng xà cừ nhẵn bóng, óng ánh, từ vết in màng áo trở vào tầng xà cừ đực. Vết cơ khép vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khép vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau có dạng hình tròn. Cấu tạo bên trong của nghêu [32, 36] Hình 1.
Cấu tạo bên trong của nghêu (được vẽ lại từ J.Poutier) 3 do an Hình 1. Cấu tạo bên trong con nghêu thực tế [36] Cấu tạo bên trong của nghêu cũng giống như cấu tạo bên trong của các động vật hai mảnh vỏ khác. Cơ thể nghêu cũng chia ra thành nhiều hệ như: hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ vận động và hệ thần kinh. Nhưng nghêu là loài động vật bậc thấp nên các hệ cơ quan phát triển còn đơn giản như hệ thần kinh chưa phát triển thành não bộ mà chỉ là một số hạch thần kinh cảm giác.
Hệ hô hấp, tiêu hóa phát triển mạnh hệ thống tua miệng và kênh rảnh trên mang giúp cho việc lọc thức ăn và oxy hiệu quả. Ngoài ra nghêu cũng mang những đặc điểm riêng biệt của lớp 2 mảnh vỏ: - Màng áo: 2 tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nôi tạng của nghêu. Viền mép màng áo có nhiều mấu lồi cảm giác. Phía trước mép của màng áo phía gần bụng dính lại với nhau hình thành 2 ống dẫn nước: ống dẫn nước vào nằm ở phía bụng và ống dẫn nước ra nằm ở phía lưng, ống dẫn nước vào dài hơn ống dẫn nước ra.
Ngoài tự nhiên, nghêu vùi mình trong nền đáy, chỉ thò 2 ống dẫn nước lên trên bề mặt đất và thực hiện các hoạt động sống như hô hấp, bắt mồi, bài tiết. - Chân nghêu: có dạng hình lưỡi rìu, cong và nhọn về phía trước. Mép chân mỏng và trên bề mặt của chân có nhiều rảnh rất mịn hướng từ trong ra mép chân. Chân cấu tạo gồm nhiều sợi cơ thường từ trong chạy ra mép chân song song với các rãnh chân.
Các sợi cơ tập trung ở phần gốc tạo thành cơ kéo chân trước và sau, các cơ này bám vào vỏ ở vị trí sát cơ khép vỏ trước và sau về phía mặt lưng. - Hệ hô hấp: cơ quan hô hấp chính của nghêu là mang và hệ thống các mao mạch phân bố chằng chịt trong cơ thể dùng để cung cấp oxy đi nuôi cơ thể và thải khí CO2 ra ngoài môi trường. 4 do an - Hệ tiêu hóa: Miệng nghêu là một rảnh ngang nằm ở phía trước cơ thể, bên miệng có tấm môi ngoài, môi trong và có tiêm mao để vận chuyển thức ăn. Thực quản và dạ dày mỏng.
Xung quanh dạ dày có các nang tiêu hóa. Thức ăn từ mang lọc được vận chuyển đến miệng bằng một hệ thống tua miệng vận chuyển liên hoàn rồi vào thực quản, lúc này thức ăn đã được thấm một số men tiêu hóa tiết ra từ tuyến nước bọt và tiếp tục được vận chuyển vào dạ dày. Tại dạ dày thức ăn được chia làm 2 loại là thức ăn có thể hấp thu và thức ăn không thể hấp thu bởi một hệ thống lọc phức tạp trong dạ dày. Thức ăn có thể hấp thu được vận chuyển vào các nang tiêu hóa.
Thức ăn không thể hấp thu được vận chuyển xuống rãnh ruột rồi thoát ra ngoài môi trường qua lỗ hậu môn nằm ở phần gốc của ống thoát nước ra. - Hệ sinh dục: nghêu là động vật phân tính, con đực con cái riêng. Khi tuyến sinh dục thành thục ở con cái có màu vàng, con đực có màu trắng sữa phủ khắp nội tạng. - Hệ tuần hoàn: gồm có tim nằm ở mặt lưng, phía dưới đỉnh vỏ.
Tim gồm 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ được bao bọc bởi màng xoang bao tim. Màng xoang bao tim mỏng, trong suốt, có thể nhìn thấy tim bên trong. Máu của nghêu không màu. - Hệ bài tiết: gồm một đôi thận có màu vàng nhạt nằm đối xứng nhau ở 2 bên khối nội tạng phía dưới xoang bao tim.
Một số đặc điểm sinh học của nghêu c. Phân bố [6] Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) phân bố ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương, từ Đài Loan tới Việt Nam.Nghêu phân bố ở vùng trung triều đến độ sâu 1 – 2 m nước, chất đáy cát có pha bùn ở gần các cửa sông. Ở Việt nam, chúng chỉ phân bố ở khu vực miền Tây Nam Bộ như Cần Giờ (TP.HCM), Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Bạc Liêu, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Ngọc Hiển (Cà Mau). Vùng có sản lượng cao nhất là ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang và Bến Tre (Nguyễn Chính, 1996).
5 do an Hình 1. Vùng nuôi nghêu Bến Tre ở Thạnh Hóa [36] d. Tập tính sống [21] Tập tính sống của nghêu tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển của nghêu. Ở giai đoạn ấu trùng phù du (Trochphore) thì chúng sống trôi nổi trong nước, đến giai đoạn ấu trùng bám (Verliger) chúng chuyển sang sống ở đáy, phát triển chân và tuyến tơ (Bysssus) để bám, lúc này thích hợp với nền đáy bằng phẳng và cần vật bám như cát to, sỏi và khi ấu trùng đã bám thì tuyến tơ biến mất.
Đến giai đoạn trưởng thành, nghêu sống vùi mình trong đáy cát bùn hoặc bùn cát nhờ chân hoạt động. Lúc này chân nghêu phát triển đầy đủ có dạng lưỡi rìu, chân có thể co duỗi nhờ các cơ. Khi chân duỗi tiết diện ngang của chân rộng và khi tiết diện ngang có dạng hình mũi tên, nhờ vậy nghêu có thể chui xuống nền đáy để vùi mình. Đặc điểm dinh dưỡng [21] Nghêu là động vật ăn lọc không có khả năng chủ động tìm và chọn lọc thức ăn, do vậy lượng thức ăn trong nước giàu hay nghèo, đa dạng hay đơn giản quyết định thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của chúng.