Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây sầu riêng 1.1 Nguồn gốc và phân bố Cây sầu riêng là một loại cây ăn trái nhiệt đới có nguồn gốc từ bán đảo Borneo, giữa ba nước Brunei, Malaysia và Indonesia. Loại cây nhiệt đới nay phát triển tốt nhất trong khoảng nhiệt độ từ 27 - 30°C, với độ am từ 75 - 80%. Sầu riêng được trồng thương mại phổ biến trong phạm vi 12 Vi độ Bắc đến 12 Vĩ độ Nam (Subhadrabandhu và Ketsa, 2001). Có tên khoa là Durio zibethinus, thuộc chi Durio là loài quan trong nhất, có giá trị kinh tế cao và được trồng rộng rãi ở các nước Đông Nam A và các nước khác.
Một số loài khác như Durio oxleyanus, D. testudinarum cũng cho quả ăn được nhưng cơm mỏng, phẩm chất kém nên không được trồng phô biến. Là loại cây có xuất xứ từ vùng đất nhiệt đới Đông Nam Á, sầu riêng còn được trồng nhiều ở Philippin, Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia. Ngoài ra còn được trồng ở các nước nhiệt đới Trung Nam Mỹ, một số nước Châu Phi, Châu Đại Dương như Australia.
Theo Lê Thanh Phong và ctv (1994), sầu riêng có rất nhiều giống, được du nhập vào Việt Nam cách đây khoảng hơn 100 năm từ Thái Lan và được trồng đầu tiên tại vùng Tân Quy - Biên Hòa, sau đó được trồng rộng rãi các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.2 Tình hình sản xuất sầu riêng 1.1 Tình hình sản xuất trên thế giới Theo FAO năm 2017 sản lượng ước tính lần lượt của Thái Lan và Indonesia đạt 840.000 tan, tong cộng chiếm xấp xi 70% tong sản lượng sau riêng thê giới, còn lại thuộc vê Malaysia và Việt Nam với sản lượng sâu riêng ước 3 đạt lần lượt 390. Sau riêng là nông sản có giá trị đặc biệt cao và đang là một trong những loại quả có sản lượng cao tại Đông Nam Á, thị trường sầu riêng đang trải qua tăng trưởng mạnh. Sự ưa chuộng ngày càng tăng đối với sầu riêng không phải chỉ đến từ cái mùi cực mạnh, mà còn từ hương vị đặc biệt của loại quả này. Thương mại sầu riêng toàn cầu ước đạt 609.000 tan trong năm 2017, tăng 18% so với năm 2016.
Thái Lan là nước xuất khâu sau riêng lớn nhất thé giới và chiếm thị phần áp đảo trung bình 82% trong giai đoạn 2015 - 2017. Trung Quốc là nước nhập khẩu sầu riêng lớn nhất thế giới, với kim ngạch nhập khâu hàng năm đạt trung bình khoảng 300.000 tấn trong giai đoạn 2015 - 2017. Sự ưa thích ngày càng tăng đối với sầu riêng đã vượt ra khỏi biên giới châu Á khi giá trị xuất khẩu sầu riêng tươi Thái Lan sang Mỹ đã tăng 68% trong năm 2017 lên xấp xỉ 5,1 triệu USD.2 Tình hình sản xuất ở Việt Nam Theo tổng cục Thống kê (2021) diện tích, năng suất và sản lượng sau riêng Việt Nam trong những năm qua đều tăng mạnh và đạt khoảng 6,2% tông diện tích trồng cây ăn quả trên cả nước. Năm 2010, tổng điện tích sầu riêng trên cả nước khoảng 17.600 ha và sản lượng dat 107.
Năm 2015, tổng diện tích sầu riêng khoảng 31.900 ha và 6 sản lượng đạt 366. Năm 2020, tổng diện tích trồng sầu riêng khoảng 70.000 ha và tông sản lượng sầu riêng đạt 559. Trong đó, diện tích trồng sầu riêng lớn nhất tại các tinh Tây Nguyên (27.838,9 ha), Đồng bang sông Cửu Long (24.913,6 ha), Đông Nam Bộ (13. Năng suất bình quân trong năm 2020 đạt cao nhất ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long dat 21,1 tắn/ha, Tây Nguyên 13,6 tan/ha, Đông Nam Bộ 9,4 tan/ha.
Thời gian thu hoạch sau riêng hàng năm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ vào khoảng tháng 5 - 7. Tại Tây Nguyên có lợi thế hơn thu hoạch muộn hơn so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và các vùng sản xuất sầu riêng trọng điểm tại Thái Lan và Malaysia (thời gian thu hoạch vào tháng 7 - 10), nêu tác động các biện pháp kỹ thuật nhằm thu hoạch muộn có thể kéo dài vụ thu hoạch đến tận cuối tháng 11. Do vậy, giá bán sầu riêng tươi tại Tây Nguyên thường cao hơn so với các vùng trồng khác trong cả nước (Hoàng Mạnh Cường và ctv, 2018) 4 1.3 Bệnh nứt thân xì mủ trên sầu riêng 1.1 Téng quan về bệnh nứt thân xì mủ trên sầu riêng Cây nhiễm bệnh, bộ lá không còn bóng mượt và chuyên màu vàng, sau đó rụng theo từng cành hay một phía của cây. Trên thân có dấu hiệu chảy nhựa trên bề mặt vỏ cây, vết bệnh ướt và nhựa có màu nâu, nấm thường tấn công xung quanh gốc và các cành của cây sầu riêng.
Vết bệnh phát triển theo thời gian có thể từ năm này sang năm khác, tùy theo thời gian nhiễm bệnh mà kích thước vết bệnh có khác nhau, chạy dọc theo thân gây thối vỏ xì mủ thân. Theo Mai Văn Trị và ctv (2005), do quy mô diện tích trồng ngày càng phát triển và mức độ tập trung cao vì thé dịch hại tan công ngày càng nghiêm trọng. Nam Phytophthora là một trong những ki sinh gây hại cây trồng, nó được xác định là trở ngại lớn nhất trong việc phát triển sản xuất sầu riêng bền vững ở Australia (Zappala, 2002). Các loài Phytophthora nicotiana, Phytophthora botyrosa và Phytophthora spp.
đã được xác định gây hại trên cây sau riêng (Erwin va Ribeiro, 1996). Bên cạnh các loài khác, nam Phytophthora palmivora được xem là một dich hại quan trọng trên cây sầu riêng, tấn công trên nhiều bộ phận của cây (Navaratnam 1966; Pongpisutta và Changchote, 1994; Lim, 1990). Tại Việt Nam, Phytophthora palmivora được xem là kí sinh gây hại quan trọng nhất trên cây sầu riêng ( Mai Văn Trị và ctv, 1997). Có khoảng 80 loài nam Phytophthora, tat cả gây hại cho cây trồng.
Một trong những loài nhiệt đới phổ biến nhất là Phytophthora palmivora, với hon 150 ký chủ thực vật, sầu riêng (Durio zibethinus) là một trong danh sách ký chu của chúng. Phytophthora palmivora có bôn loại bào tử có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây nhiễm trùng. Túi bào tử được sản xuất trên quả, lá, thân, rễ bị nhiễm bệnh. Chúng có thể nảy mầm trực tiếp trên bề mặt cây trồng hoặc trong đất.
Họ cũng có thể nảy mầm để tạo ra các bào tử động vật nhỏ, bơi lội. Động bào tử bơi trong nước đất hoặc trên bề mặt thực vật âm ướt cho đến khi chúng xâm nhập vào cây. Bảo tử và bao tử động vật lây lan bởi mua tat, mưa gid thối, đất và nước. Nam Phytophthora palmivora mặc du là kí sinh lan truyền chủ yếu trong đất nhưng chúng cũng thích ứng cho việc tấn công và gây hại ở nhiều bộ phận khác của 5 cây cách xa rễ thông qua mưa và gió.
Phát triển bệnh gây ra các triêu chứng như nứt thân xì mu, thối quả, thối rễ, cháy lá, chết ngon. Do đó bệnh được gọi chung là bệnh Phytophthora trên sầu riêng. Từ bốn tỉnh trồng sau riêng tại Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre và Cần Tho, nhóm nghiên cứu đã xác định được 29 chủng nam gây bệnh chảy nhựa gốc và cảnh, cháy lá và thối trái là các chủng thuộc nam Phytophthora palmivora (Drenth và Sendall, 2001; Drenth và Guest, 2004). Ở Đông Nam Bộ theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Đồng Nai (2001) điện tích nhiễm bệnh trong tỉnh đến 1.758 ha trong tổng diện tích 2.014 ha, phổ biến nhất là bệnh nứt thân xì mủ và thối quả (Mai Văn Trị và Nguyễn Thị Thúy Bình, 2003).
Bệnh gia tăng nghiêm trọng ở đồng bằng sông Cửu Long những năm 1999 - 2000, khoảng 15 - 20% số cây bị bệnh, cá biệt có vườn thiệt hại trên 70% do cây chết và khoảng 15% quả bị thối (Huỳnh Văn Thành và ctv, 2001). Năm 2001, tại các tỉnh miền Trung bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng.138 cây bị chết do bệnh trong tổng số 3.075 cây sầu riêng tai xã Qué Trung (Quang Nam), ước lượng mức thiệt hai khoảng 15 tỷ đồng (Huynh Van Thanh và ctv, 2004). Bệnh do nam Phytophthora gây hại trên cây sầu riêng tại Việt Nam ước tính khoảng 20 - 25% với giá trị khoảng 74,25 triệu USD (Drenth và Sandal, 2004). Chi tiết về thiệt hại do nam gây bệnh nam Phytophthora trên sầu riêng của năm quốc gia khác nhau ở Đông NamÁ trình bày trong bảng 1.1 Thiét hại kinh tế do nam Phytophthora gây bệnh cây sầu riêng của năm quốc gia Đông Nam Á 2004 Đô la Mỹ (USD) Nước Tổng giá Thiệthại Thiệt hại Thiệt hại Giá trị trị (%) thâp nhât cao nhât thiệt hại trung bình Indonesia 780.2 Biện pháp phòng trừ Biện pháp canh tác: Không để vườn cây bị ngập úng, nước tràn qua hoặc bị đọng nước.
Nên có hệ thống mương thoát - líp/luống trồng trong vườn dé cải thiện điều kiện thoát nước trong vườn. Ở vùng đất bằng hay ít đốc, hàng cây được bố trí trên luống (hay mô trồng tạm thời ban đầu) có mái dốc kết hợp với mương giữa hai hàng cây để thoát nước. Không trồng xen với cây là ký chủ của bệnh. Tránh vườn cây quá quá dày, kém thông thoáng.
Tỉa cành tạo tán kết hợp với quản lý cỏ đại, thích hop dé cải thiện sự thông thoáng trong vườn. Tránh gây vết thương cho cây trong quá trình chăm sóc hoặc vết thương được xử lý thích hợp. Bon bổ sung vôi dé cải thiện pH đất ở khoảng 5,8 đến 6,5. Bon nhiều phân hữu cơ (phân gà hoai 5 - 12 tan hoặc phân bò hoai 8 - 15 tắn/ha/năm.
Quét vôi hoặc dung dich bordeaux quanh gốc và thân 1 - 3 lần, cao đến 1,5 - 4 m từ mặt đất. Biện pháp sinh học: Sử dụng vi sinh vật đối kháng như Trichoderma. Sử dụng lặp lại khi cần. Biện pháp hóa học: Được áp dung để phòng hoặc phòng trị bệnh.
Có thé áp dụng qua phun tán, tưới đất, bôi thuốc, tiêm than và kết hợp hai hay vài biện pháp trong năm. Phun tán hay tưới gốc: Có thé áp dụng 4 - 7 lần hàng năm với Bordeaux 1% hoặc các loại thuốc gốc đồng sử dụng luân phiên với một số hoạt chất được khuyến cáo sử dụng như: Dimethomorph, Metalaxyl, Fosetyl - aluminium hoặc Potassium phosphite (còn gọi là phosphonate). Bôi thuốc: Khi vết bệnh còn nhỏ, dùng dao bén cạo sơ phần mô chết, bôi lên mặt cắt và xung quanh vết bệnh bằng dung dịch 1% của Fosetyl - aluminium hoặc Potassium phosphite. Tiêm thân: Có thé tiêm thân với dung dich Potassium phosphite 20% hoạt chất sử dụng ống tiêm Chemjet 20 ml.
Mỗi cây trưởng thành (từ 4 - 5 tuổi trở lên) tiêm 3 - 8 ống tiêm. Lượng thuốc tiêm (mũi tiêm) phụ thuộc vào đường kính thân, đường kinh 31 tán và sức khỏe cây.