Tác động của sự cố môi trường biển đến hiệu quả nuôi cá lồng tại Thừa Thiên Huế

Chuyên đề nghiên cứu Tác động của sự cố môi trường biển đến nuôi cá lồng ở Thừa Thiên Huế, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết

2017

75
4
1

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu đề tài

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2. PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1. Cơ sở lý luận về môi trường và sự cố môi trường

2.1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế

2.1.3. Các mô hình nuôi cá nước lợ

2.1.4. Cơ sở thực tiễn

2.1.5. Khái quát về các sự cố môi trường

2.1.6. Giải pháp khắc phục sự cố môi trường biển

2.1.7. Khái quát về tình hình nuôi cá lồng

2.2. CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT ĐỐI VỚI CÁC HỘ NUÔI CÁ LỒNG Ở THỊ TRẤN THUẬN AN, HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của thị trấn Thuận An

2.2.2. Đặc điểm tự nhiên

2.2.3. Đặc điểm kinh tế và xã hội

2.2.4. Tình hình nuôi cá lồng của các hộ gia đình ở thị trấn Thuận An

2.2.5. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở thị trấn Thuận An

2.2.6. Tình hình nuôi cá lồng ở thị trấn Thuận An

2.2.7. Tổng quan về sự cố môi trường biển tại thị trấn Thuận An

2.2.8. Tác động của sự cố môi trường biển đến việc nuôi cá lồng ở thị trấn Thuận An

2.2.9. Khái quát chung về các hộ điều tra

2.2.10. Thể tích, năng suất, sản lượng nuôi cá lồng của các hộ điều tra

2.2.11. Tác động của sự cố môi trường biển đến hiệu quả sản xuất nuôi cá lồng

2.3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC HẬU QUẢ, GIẢI PHÁP VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NUÔI CÁ LỒNG CHO NGƯỜI DÂN

2.3.1. Căn cứ để đề xuất các giải pháp

2.3.2. Một số giải pháp cụ thể

2.3.3. Các giải pháp cụ thể đối với hộ nuôi

2.3.4. Các biện pháp tổng hợp mang tính vĩ mô

3. PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Đối với nhà nước

3.2. Đối với chính quyền địa phương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tác động của sự cố môi trường biển đến nuôi cá lồng

Sự cố môi trường biển đã gây ra những tác động nghiêm trọng đến nuôi cá lồng tại Thừa Thiên Huế, đặc biệt là ở thị trấn Thuận An. Các hộ nuôi cá lồng đã phải đối mặt với tình trạng cá chết hàng loạt, làm giảm năng suất và hiệu quả sản xuất. Theo thống kê, số lượng cá chết bất thường đã khiến người dân hoang mang, dẫn đến việc giảm giá bán cá và khó khăn trong tiêu thụ. Nhiều hộ nuôi đã phải giảm bữa ăn cho cá để tiết kiệm chi phí, điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của cá mà còn làm giảm chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, tâm lý e ngại của người tiêu dùng cũng đã làm cho việc tiêu thụ cá lồng trở nên khó khăn hơn. Những hộ nuôi cá lồng không bị thiệt hại lớn vẫn phải chịu ảnh hưởng từ tâm lý thị trường, dẫn đến việc không thể bán được cá với giá hợp lý. Điều này đã tạo ra một vòng luẩn quẩn, khiến cho tình hình tài chính của người dân ngày càng khó khăn.

1.1. Tình hình nuôi cá lồng trước và sau sự cố

Trước sự cố môi trường biển, nuôi cá lồng ở thị trấn Thuận An đã phát triển mạnh mẽ với nhiều hộ gia đình tham gia. Tuy nhiên, sau sự cố, tình hình đã thay đổi đáng kể. Nhiều hộ nuôi cá lồng đã phải tạm dừng hoạt động do thiệt hại về kinh tế. Theo báo cáo, số lượng hộ nuôi cá lồng đã giảm, và những hộ còn lại cũng gặp khó khăn trong việc duy trì sản xuất. Việc giảm năng suất và sản lượng nuôi cá lồng đã ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân. Họ không chỉ mất đi nguồn thu nhập chính mà còn phải đối mặt với những khó khăn trong việc chi trả các khoản nợ và chi phí sinh hoạt hàng ngày. Điều này đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng và ảnh hưởng đến đời sống xã hội tại địa phương.

II. Giải pháp khắc phục hậu quả

Để khắc phục hậu quả từ sự cố môi trường biển, cần có những giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ các hộ nuôi cá lồng. Trước hết, chính quyền địa phương cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho những hộ bị thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại cần được thực hiện công bằng và kịp thời để giúp người dân ổn định cuộc sống. Bên cạnh đó, cần tổ chức các khóa đào tạo về kỹ thuật nuôi cá lồng an toàn và bền vững, giúp người dân nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. Các biện pháp bảo vệ môi trường cũng cần được thực hiện nghiêm túc để ngăn chặn các sự cố tương tự xảy ra trong tương lai. Hơn nữa, việc phát triển các mô hình nuôi cá lồng kết hợp với bảo vệ môi trường sẽ giúp tăng cường hiệu quả sản xuất và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

2.1. Đề xuất chính sách hỗ trợ

Chính quyền địa phương cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho các hộ nuôi cá lồng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển. Các chính sách này có thể bao gồm việc cấp phát vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp giống cá chất lượng cao. Ngoài ra, cần có các chương trình tập huấn về kỹ thuật nuôi cá lồng an toàn, giúp người dân nâng cao năng lực sản xuất. Việc này không chỉ giúp khôi phục sản xuất mà còn tạo ra một môi trường nuôi trồng thủy sản bền vững hơn. Hơn nữa, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và người dân trong việc giám sát và bảo vệ môi trường, nhằm ngăn chặn các sự cố tương tự xảy ra trong tương lai.

III. Kết luận và kiến nghị

Sự cố môi trường biển đã có những tác động tiêu cực đến nuôi cá lồng ở Thừa Thiên Huế, đặc biệt là tại thị trấn Thuận An. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự vào cuộc của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Việc hỗ trợ tài chính, đào tạo kỹ thuật và bảo vệ môi trường là những yếu tố quan trọng giúp người dân phục hồi sản xuất. Hơn nữa, cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động của sự cố môi trường đến các ngành kinh tế khác để có những giải pháp tổng thể hơn. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả nuôi cá lồng mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho địa phương.

3.1. Kiến nghị đối với chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương cần có những chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ các hộ nuôi cá lồng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển. Cần thiết lập các quỹ hỗ trợ khẩn cấp để giúp người dân khôi phục sản xuất. Bên cạnh đó, cần tổ chức các chương trình tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong nuôi trồng thủy sản. Việc này sẽ giúp nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp, từ đó góp phần giảm thiểu rủi ro từ các sự cố môi trường trong tương lai.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của sự cố môi trường biển đến hiệu quả sản xuất đối với các hộ nuôi cá lồng ở thị trấn thuận an huyện phú vang tỉnh thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luậ n về môi trư ờ ng và sự cố môi trư ờ ng 1. Khái niệm môi trường Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: - Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người.

Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động - thực vật, đất, nước. Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí và làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. - Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định.

ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. - Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ: Môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư và quy định. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Sự cố môi trường Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: "Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng".

Sự cố môi trường có thể xảy ra do: - Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác; - Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng; - Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác; - Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ. Tổng quan về sự cố môi trường trên thế giới và Việt Nam - Thảm họa dầu mỏ tại Kuwait năm 1991: Trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991, khi quân đội Iraq rút khỏi Kuwait, họ đã mở tất cả các van của giếng dầu và phá vỡ các đường ống dẫn dầu nhằm ngăn cản bước tiến của quân đội Mỹ. Kết quả là một lượng dầu lớn nhất trong lịch sử đã phủ lên Vịnh Ba Tư. Ước tính, số dầu loang tương đương 240 - 336 triệu gallonn dầu thô.

Diện tích dầu loang có kích thước tương đương đảo Hawaii. Theo Hội nghị hải dương học liên quốc gia, vụ tràn dầu lớn nhất thế giới đã gây ra những hậu quả vĩnh viễn lên hệ sinh thái của san hô và cá. Khảo sát cũng cho thấy, một nửa số dầu đã bay hơi, chỉ một phần tám được thu lại, còn một phần tư khác dạt vào đất liền. - Thảm họa tràn dầu Exxon Valdez: Exxon Valdez là một tàu chở dầu khổng lồ, trọng tải 214.862 tấn, của Công ty Exxon, Mỹ.

Ngày 24/3/1989, trên đường chở 148 triệu thùng dầu thô đến Long Beach, bang California, tàu Exxon Valdez va chạm đá ngầm ở khu vực Prince William Sound, bang Alaska, làm tràn dầu ra ngoài, gây thảm họa môi trường được xem là một trong những thảm họa lớn nhất trong lịch sử. Biển Alaska bị ô nhiễm 18. Dầu loang làm ô nhiễm 2.340 km bờ biển. Ngư trường khu vực Prince William Sound bị đóng cửa cho tới nay.

Thiệt hại ước tính 15 tỉ USD. Năm 1989, tại bang Alaska xảy ra vụ tràn dầu Exxon Valdez làm chấn động cả nước Mỹ. 21 năm sau, hãng tàu Exxon vẫn chưa trả hết tiền bồi thường.000 ngư dân đã chết trong khi chờ đợi nhận tiền bồi thường. 5 Luan van - Thảm họa sinh thái tại biển Aral: Biển Aral là một vùng bồn địa trũng gồm một vài hồ nước mặn nằm ở Trung Á mà trước kia liên kết thành một biển kín.

Aral có thể gọi là hồ vì nó không thông với biển khác, tuy vậy hồ duy trì được nồng độ muối khá cao, tương đương với nồng độ của đại dương. Từ năm 1918, chính quyền Liên Xô đã quyết định sẽ lấy nước từ hai con sông Amu Darya ở phía nam và Syr Darya ở phía đông bắc phục vụ tưới tiêu sa mạc trong vùng, biến vùng đất khô cằn quanh biển Aral thành những đồng lúa, dưa, ngũ cốc, và bông. Ngày nay Uzbekistan là một trong các quốc gia xuất khẩu bông hàng đầu thế giới. Cho đến năm 1960, một lượng nước từ 20 đến 50 tỷ mét khối nước hàng năm được dẫn đến các cánh đồng thay vì chảy vào biển Aral.

Mất một lượng nước bổ sung lớn, biển Aral bắt đầu co rút từ thập niên 1960. Từ năm 1961 đến năm 1970, mực nước biến Aral hạ thấp trung bình 20 cm mỗi năm. Đến những năm 1970, tốc độ tụt là 50 - 60 cm hàng năm, những năm 1980 là 80 - 90 cm. Việc sử dụng nước cho sản xuất, dù vậy, vẫn được ưu tiên, từ năm 1960 đến năm 1980, sản lượng bông tăng gần gấp đôi nhờ lượng nước đưa vào đồng tăng hai lần.

Ngày nay, Aral bị ô nhiễm nặng nề, chủ yếu là hậu quả các vụ thử vũ khí, các dự án công nghiệp và phân bón hóa học dư thừa từ trước và sau khi Liên Xô sụp đổ. Đến tháng 8 năm 2009, biển Aral hầu hết đã bị bốc hơi. Vấn đề sinh thái chủ yếu của biển Aral là nguồn nước tiếp cho nó bị sử dụng vào mục đích tưới tiêu. Từ 40 năm nay, biển Aral không ngừng co rút, từ một biển kín lớn thứ 4 thế giới, nó sẽ bốc hơi hoàn toàn trong vòng 10 năm.

Điều này gây ra thảm họa sinh thái và kinh tế cho khu vực và chính môi trường biển. - Dịch bệnh Minamata, Nhật Bản: Minamata nằm phía tây đảo Kyushu, cực nam Nhật Bản, là một điển hình thế giới về nhiều phương diện. Minamata từ một địa danh trở thành tên gọi của một chứng bệnh do nhiễm độc thủy ngân từ chất thải hóa học xả vào nguồn nước. Minamata là một thảm họa môi trường kéo dài hơn 30 năm (1932 – 1968), nhưng hệ quả bi đát của nó vẫn tồn tại đến tận ngày nay và là một trong bốn chứng bệnh lớn nhất tại Nhật do ô nhiễm chất thải hóa học gây ra.

Minamata cũng là một án lệ môi trường điển hình với nhiều vụ kiện kéo dài từ năm 1959 tới tận bây giờ. Năm 1956, bệnh nhân nhiễm Minamata đầu tiên được phát hiện với các triệu chứng co giật, nói líu nhíu, mất chức năng vận động và chuyển động chân tay. Ba năm sau, một cuộc điều tra kết luận rằng chứng bệnh này là kết quả của việc bị ngộ độc công nghiệp tại Vịnh Minamata do các hoạt động của Tập đoàn Chisso, tập đoàn mà đã từ lâu là một trong những đơn vị sử dụng lao động nhiều nhất tại thành phố cảng này. - Tại Việt Nam: Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường biển đến nguồn lợi thủy sản.

Tiêu biểu vụ ô nhiễm môi trường biển do nhà máy Fomosa gây ra khiến cho nhân dân miền trung đã nghèo, nay còn khó khăn hơn. Khi sự cố xảy ra nạn thất nghiệp tăng cao. Theo như khảo sát tình hình thực tiễn của cán bộ Bộ Lao động 6 Luan van Thương binh & Xã tại 4 tỉnh, thống kê được 39 nghìn lao động mất việc làm, trong đó 2 tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình số người mất việc chiếm tỷ lệ cao nhất. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp tại Huế tăng 1,6 lần, tại Quảng Trị tăng 2,8 lần, Quảng Bình tăng 7,9 lần và 15,5 lần là con số thất nghiệp gia tăng tại Hà Tĩnh.

Ngành nghề bị thiệt hại lớn nhất là khai thác, đánh bắt thủy sản, giảm 24 nghìn người, bán buôn bán lẻ thủy sản giảm 14 nghìn người. Theo các kết quả khảo sát gần đây của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, các khu dân cư sống ven biển đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng về môi trường. Nước giếng ở khu vực này bị nhiễm mặn và có độ cứng cao do thiếu oxi hòa tan. Còn tại vùng biển Phú Yên, tình trạng ô nhiễm biển cũng đang ở mức báo động.

Tháng 4/2004 đã xảy ra tình trạng tôm hùm chết. Cảng Vũng Rô hiện có khoảng 700 lồng nuôi thì lồng nào cũng có tôm chết, mỗi ngày người nuôi phải chịu mất 1,2 triệu đồng. Tại Nha Trang, phần lớn các gia đình sống ven biển không có hố xí tự hoại, rác thải cũng ném thẳng bừa ra biển. Các mực nước ven bờ của các khu đông dân cư thường có độ nhiễm bẩn rất cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo "Tác động của sự cố môi trường biển đến hiệu quả nuôi cá lồng tại Thừa Thiên Huế" phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của các sự cố môi trường đến hoạt động nuôi cá lồng trong khu vực này. Tác giả Lê Thị Cẩm Nhi, Trần Thị Diệu và Trần Thị Bích Huệ đã chỉ ra rằng sự ô nhiễm và biến đổi khí hậu không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, từ đó tác động đến thu nhập của người nuôi. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa môi trường và kinh tế trong ngành nuôi trồng thủy sản, giúp người đọc hiểu rõ hơn về những thách thức mà ngành này đang phải đối mặt.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến nuôi trồng thủy sản, bạn có thể tham khảo bài viết So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ, nơi phân tích hiệu quả của các mô hình nuôi trồng khác nhau. Ngoài ra, bài viết Phân Tích Thị Trường Tôm Sú Của Các Hộ Nông Dân Xã Vinh Hưng, Huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế cũng sẽ cung cấp cái nhìn về thị trường thủy sản tại Thừa Thiên Huế, giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh tế trong ngành này. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam sẽ giúp bạn nắm bắt được những thách thức lớn hơn mà ngành nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu.