Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là vùng đất giàu truyền thống văn hóa - lịch sử, nằm ven sông Đa Độ uốn khúc với hệ thống sông ngòi tự nhiên đa dạng. Đây là nơi phát tích của vương triều Mạc trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Dù chỉ tồn tại và phát triển trong 65 năm trị vì tại Thăng Long (1527 - 1592), triều Mạc đã để lại hệ thống di sản kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật có giá trị, tập trung với mật độ cao tại trung tâm cố đô Dương Kinh xưa. Nhằm bảo tồn và tôn tạo các giá trị lịch sử - văn hóa của Dương Kinh, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã phê duyệt quy hoạch và triển khai dự án xây dựng Khu tưởng niệm vương triều nhà Mạc tại làng Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy. Công trình được xác định là điểm nhấn du lịch trọng điểm của địa phương, giữ vai trò hạt nhân để kết nối các tuyến điểm du lịch trong và ngoài thành phố.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu tiềm năng, thực trạng khai thác và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tại khu tưởng niệm. Các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  • Mục đích nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu khu tưởng niệm vương triều Mạc trong sự phát triển của du lịch Hải Phòng.
    2. Nhận diện các giá trị văn hóa, lịch sử của khu tưởng niệm, qua đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị nhân văn của di tích.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu quá trình hình thành của khu tưởng niệm vương triều nhà Mạc.
    2. Làm rõ thực trạng hoạt động du lịch tại khu tưởng niệm vương triều Mạc tại làng Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
    3. Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch tại khu tưởng niệm vương triều Mạc.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Các công trình kiến trúc và hoạt động du lịch tại khu tưởng niệm vương triều nhà Mạc.
    • Phạm vi không gian: Khu tưởng niệm vương triều nhà Mạc tại làng Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng cùng hệ thống di tích phụ cận trên địa bàn huyện Kiến Thụy.
    • Phạm vi thời gian: Khảo cứu tiến trình lịch sử di tích gắn với thời kỳ trị vì của nhà Mạc (từ năm 1527) đến thời kỳ xây dựng công trình hiện đại (2009 - 2016) và các số liệu thống kê du lịch - kinh tế xã hội giai đoạn 2012 - 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ địa văn hóa và địa lý du lịch. Tác giả vận dụng quan điểm của sử học mác-xít về đánh giá khách quan, khoa học đối với vương triều Mạc, căn cứ theo kết luận của Hội thảo khoa học về vương triều Mạc tại Hải Phòng tháng 7/1994 (do Giáo sư Phan Huy Lê chủ trì) và các công trình nghiên cứu sử học của Ngô Đăng Lợi, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Quang Ngọc, Đinh Khắc Thuần, Nguyễn Văn Sơn. Khung pháp lý và cơ sở quản lý nhà nước của đề tài dựa trên Nghị định số 145/CP của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính huyện Kiến Thụy, Quyết định số 188/QĐ-UBND và Quyết định số 860/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về phê duyệt quy hoạch và đầu tư xây dựng dự án Khu tưởng niệm vương triều Mạc.

Tác giả sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính để thu thập và xử lý thông tin:

  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tập hợp số liệu về điều kiện tự nhiên, dân số, cơ cấu kinh tế - lao động của huyện Kiến Thụy, lượng khách du lịch nội địa và quốc tế đến Hải Phòng và Kiến Thụy trong các năm 2012, 2013.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát thực địa tại các điểm di tích, ghi nhận thực tế hoạt động tham quan, công tác quản lý, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại khu tưởng niệm và các di tích thời Mạc.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: Đối chiếu các tài liệu thư tịch cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Hải Phòng phong vật chí, các văn bia thời Mạc) với dữ liệu quy hoạch hiện đại để đánh giá tiềm năng và xây dựng phương án tour du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về huyện Kiến Thụy và khu tưởng niệm vương triều nhà Mạc

Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về địa bàn huyện Kiến Thụy trên các phương diện địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội, đồng thời khảo cứu hệ thống di tích thời Mạc và quá trình hình thành công trình khu tưởng niệm.

  • Lịch sử hình thành và đặc điểm tự nhiên - xã hội: Thời Hùng Vương, Kiến Thụy thuộc bộ Dương Tuyền (Thang Tuyền); thời Bắc thuộc thuộc Tượng Quận, Giao Chỉ; thời Lý - Trần thuộc quận Lộ Hồng, sau đổi là Hải Đông; thời Minh thuộc phủ Tân An. Năm 1469, vua Lê Thánh Tông lập huyện Nghi Dương thuộc phủ Kinh Môn với 61 xã, 12 sở đồn điền. Năm 1837, vua Minh Mạng đặt phủ Kiến Thụy gồm các huyện Nghi Dương, An Dương, An Lão, Kim Thành. Đến năm 1909, phủ Kiến Thụy đổi thành huyện Kiến Thụy. Sau khi tách quận Dương Kinh và quận Đồ Sơn theo Nghị định 145/CP, huyện Kiến Thụy còn 17 xã và 1 thị trấn với diện tích 10.753 ha; dân số năm 2012 đạt gần 16 vạn người (chủ yếu là dân tộc Kinh, 30 dòng họ, phần lớn theo Phật giáo, một số theo Công giáo). Sông Văn Úc làm ranh giới tự nhiên dài 14,75 km; sông Đa Độ (Cửu Biều) uốn chín khúc dài 29 km chảy qua huyện. Về kinh tế, địa phương nổi tiếng với chính sách khoán sản phẩm và các làng nghề truyền thống: bánh đa Lạng Côn, rèn Đại Trà, dệt Đại Hợp, nghề mộc, nghề đan lát.
  • Hệ thống di tích thời Mạc trên địa bàn huyện:
    • Từ đường họ Mạc (xã Ngũ Đoan): Được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 2002, thờ Thái tổ Mạc Đăng Dung. Bố cục mặt bằng kiểu chữ "Nhất", gồm 3 gian, 4 vì làm bằng gỗ lim. Gian chính giữa thờ tượng vua Mạc Đăng Dung ngồi ngai vàng, phía trên có hoành phi "Thiên Hoàng Phái Diễn". Tấm bia đá "Tổ Tiên Bia Ký" dựng năm 1926 triều vua Bảo Đại ghi chép danh tính 14 vị tổ dòng họ Mạc từ Đệ Nhất Tổ Mạc Hiển Tích thời Lý đến vị tổ thứ 14 là vua Mạc Kính Vũ ở Cao Bằng.
    • Chùa Văn Hòa (xã Hữu Bằng): Tên chữ là Phả Chiếu tự, xây dựng từ thời Lê sơ, được trùng tu lớn dưới thời vua Mạc Mậu Hợp niên hiệu Diên Thành (1578 - 1585). Chùa có kiến trúc kiểu chữ "Đinh", lợp ngói mũi, lưu giữ chuông đồng đúc năm Minh Mạng (1820) mang vết đạn xuyên qua thân thời kháng chiến chống Pháp. Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích quốc gia năm 1996.
    • Chùa Trà Phương (xã Thụy Hương): Tên chữ là Bà Đanh tự (thời Lý) và Thiên Phúc tự (thời Mạc). Tấm bia đá "Tu tạo Bà Đanh tự" khắc năm 1562 ghi nhận Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn cùng 25 thân vương, công chúa, quận công nhà Mạc đóng góp công đức phục dựng chùa, do Thái giám Mạc Chúc Hiên đảm nhiệm việc xây cất. Chùa lưu giữ pho tượng đá Mạc Thái Tổ và pho tượng phù điêu Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn tạc năm 1551 (khắc chìm trên mặt bia đá cao 76 cm, tạc nổi cao 6 cm, có chữ "Động chủ").
  • Vương triều nhà Mạc và dự án xây dựng khu tưởng niệm: Mạc Đăng Dung (sinh năm 1384, cháu bảy đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi) lập ra triều Mạc năm 1527, chọn đất Hải Dương cũ làm Dương Kinh, xây dựng cung điện Phúc Huy, Hưng Quốc, điện Tường Quang tại Cổ Trai. Nhằm khôi phục các giá trị này, ngày 19/5/2009, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt quy hoạch khu tưởng niệm trên diện tích cố đô xưa. Dự án thực hiện qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1 rộng 2,5 ha (giải phóng mặt bằng, san lấp, xây nhà chính điện) theo Quyết định số 188/QĐ-UBND với tổng mức đầu tư 22,33 tỷ đồng; Giai đoạn 2 rộng 1,2 ha nội vi (Nghi môn, hồ sen, tả mạc, hữu mạc, hạ tầng kỹ thuật) theo Quyết định số 860/QĐ-UBND với tổng mức đầu tư 45 tỷ đồng.

Chương 2: Khu tưởng niệm vương triều Mạc với hoạt động du lịch

Chương này đi sâu phân tích hệ thống giá trị nội hàm của di tích và đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch thông qua quy mô kiến trúc, lượng khách và lực lượng lao động.

  • Các giá trị cơ bản của di tích:
    • Giá trị lịch sử: Là minh chứng vật chất cho trung tâm chính trị, văn hóa của nhà Mạc tại vùng duyên hải phía Đông thế kỷ XVI, phản ánh sự phục hưng của Phật giáo và sự tiến bộ về mặt kinh tế - xã hội thời kỳ này.
    • Giá trị nhân văn: Thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn", ghi nhận công lao của các vị vua nhà Mạc, là nơi kết nối cộng đồng và giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ.
    • Giá trị nghệ thuật: Bảo lưu phong cách kiến trúc gỗ thời Mạc với kết cấu chồng rường, đấu vuông thót đáy, hệ thống vì kèo giá chiêng đỡ mái, mái lợp ngói mũi hài hoa văn chữ Thọ, bờ nóc đắp tượng kìm đầu rồng. Điêu khắc đá nguyên khối với các đề tài Rồng, Nghê, Lân, Sấu mang phong cách tả thực dân gian, tạo tiền đề cho mỹ thuật thế kỷ XVII - XVIII.
  • Hạ tầng và thông số kỹ thuật các hạng mục công trình chính: Quần thể di tích được xây dựng trên tổng diện tích 10,5 ha, quay mặt về hướng Đông (nhìn ra biển, tựa núi Trà Phương, hướng về dãy Đồ Sơn).
Tên hạng mục công trình Diện tích / Kích thước kỹ thuật Đặc điểm kết cấu và vật liệu
Nghi môn ngoại Hai trụ chính cao 5,72 m; hai trụ phụ cao 4,88 m Kết cấu tứ trụ bằng đá; đầu trụ chạm hoa sen cách điệu, đỉnh trụ đắp tượng Lân, bốn mặt thân trụ chạm Tứ Quý.
Cầu đá và hồ sen Lan can cao 0,65 m; trụ đá kích thước 0,22 m x 0,22 m Chế tác từ đá hộc và đá khối nguyên khối do thợ đá tỉnh Ninh Bình thi công chạm khắc hoa văn.
Nghi môn nội Diện tích 122,27 m² Kết cấu 2 tầng 8 mái, 4 hàng chân cột; gồm Nghi môn (lối đi của vua xưa), Tả môn và Hữu môn. Bờ mái đắp con Kìm chạm vẽ hoa văn.
Nhà che văn bia Diện tích 25 m² Bố trí hai bên sân trình, kết cấu chồng diềm 2 tầng 8 mái; che bia Hưng công và bia Chiếu nhượng ngôi.
Nhà giải vũ Diện tích 141,79 m² (gồm 2 dãy) Nhà 7 gian 2 chái, tường hồi bít đốc, 4 hàng cột, ngói chiếu khắc chữ Thọ, cửa sổ chữ Thọ đầu hồi.
Nhà Chính điện Tổng diện tích 586,19 m² Kiến trúc chữ "Công", 4 mái, 7 gian 2 chái, 6 hàng chân cột gỗ lim. Cửa chính kiểu bức bàn thượng song hạ bản.
Tiền đường (Chính điện) Diện tích 37,36 m² Thờ linh vị các vua nhà Mạc sau năm 1592; đặt chuông đồng nặng 1.500 kg đúc ngày 15/3 âm lịch (22/9) bởi nghệ nhân Nguyễn Văn Sính.
Hậu cung (Chính điện) Diện tích 167,39 m² Tọa lạc trên nền điện Tường Quang xưa, thờ tượng các vua Mạc định đô ở Thăng Long (1527 - 1592).
Thanh Đại Long Đao Trọng lượng hiện tại: 25,6 kg; chiều dài: 2,55 m Nguyên bản nặng 32 kg. Cán đao dài 1,6 m; lưỡi đao dài 0,95 m. Khâu nối đao bằng đồng thau tạo hình đầu rồng có cá chốt chặt.
  • Thực trạng lượng khách và nguồn nhân lực phục vụ du lịch:
    • Khách du lịch: Năm 2013, lượng khách quốc tế đến Hải Phòng đạt 480.067 lượt (tăng 1,34% so với năm 2012). Tại huyện Kiến Thụy, lượt khách tham quan ghi nhận sự gia tăng: năm 2012 đạt gần 72.000 lượt khách; năm 2013 đạt gần 83.000 lượt khách (chủ yếu là khách nội địa vãn cảnh, lễ hội; một bộ phận khách quốc tế bắt đầu tham quan di tích Dương Kinh và đình Kim Sơn).
    • Đội ngũ lao động: Năm 2012, toàn huyện có 64.557 người làm nông nghiệp (chiếm 50,4% lực lượng lao động) và 63.491 người làm việc ở lĩnh vực phi nông nghiệp (chiếm 49,6%). Lao động phục vụ du lịch còn thiếu về số lượng, trình độ ngoại ngữ và kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn chưa đồng đều; huyện chưa có đội ngũ thuyết minh viên tại hầu hết các điểm di tích (ngoại trừ một số cán bộ kiêm nhiệm tại khu tưởng niệm Dương Kinh).

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tại khu tưởng niệm vương triều nhà Mạc

Chương 3 trình bày định hướng phát triển du lịch sinh thái kết hợp du lịch văn hóa - lịch sử của huyện Kiến Thụy, đồng thời đề xuất ba nhóm giải pháp và các phương án tổ chức tour du lịch cụ thể.

  • Định hướng phát triển: Phát triển du lịch gắn với bốn trụ cột: hiệu quả kinh tế (tăng tỷ trọng dịch vụ trong GDP của huyện), bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên, giữ gìn bản sắc văn hóa nhân văn và củng cố an ninh quốc phòng, trật tự xã hội.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    • Bảo tồn, tôn tạo và quy hồi hiện vật: Toàn huyện Kiến Thụy có 10 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 13 di tích cấp thành phố. Tác giả kiến nghị ngăn chặn tình trạng "bê tông hóa" làm biến dạng di tích khi tu bổ; tăng cường kinh phí phục chế; phối hợp điều tra, khai quật khảo cổ dấu tích Dương Kinh dưới lòng đất; tổ chức quy hồi hiện vật thời Mạc từ cộng đồng dân cư và các dòng họ gốc Mạc (như họ Phạm gốc Mạc ở Nam Định).
    • Đào tạo nguồn nhân lực: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn, thuyết minh viên tại điểm; nâng cao kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ; phối hợp với các cơ sở đào tạo du lịch tại Hải Phòng để tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp; có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho cán bộ trông coi di tích.
    • Tuyên truyền, quảng bá du lịch: Sản xuất phim ảnh, xuất bản ấn phẩm giới thiệu về di tích Mạc; lồng ghép quy tắc nếp sống văn minh vào Hương ước thôn làng; nghiêm cấm các hoạt động mê tín dị đoan và tệ nạn đốt vàng mã gây nguy cơ hỏa hoạn cho các công trình gỗ.
  • Thiết kế các chương trình tour du lịch thử nghiệm:
    • Tour 1 ngày "Thăm lại Dương Kinh xưa": Đơn vị tổ chức giả định là Công ty du lịch Đại Việt (229 Lê Chân - Hải Phòng), di chuyển bằng ô tô. Lộ trình: 21 Ngô Quyền - Làng Cổ Trai - Khu tưởng niệm vương triều Mạc - Giếng Bò (nơi ở của thân phụ Mạc Đăng Dung) - Bến Cổ Trai (quán nước của thân mẫu Mạc Đăng Dung) - Nhà hàng Hoàng Lan (xã Ngũ Đoan) - Phế tích Gò Gạo (điện Tường Quang) - Từ đường họ Mạc.
    • Tuyến du lịch theo không gian địa lý (Du khảo đồng quê): Kết nối cụm di tích Ngũ Đoan với đình chùa Đại Trà, chùa Lạng Côn (xã Đông Phương), khu ven biển Tiên Lãng, thị trấn Núi Đối, sông Đa Độ, rừng ngập mặn và bãi ngao Đại Hợp trên đường ra khu du lịch Đồ Sơn.
    • Tour 6 ngày 5 đêm "Tìm về dấu tích nhà Mạc": Đơn vị tổ chức: Công ty du lịch Viet Travel. Lộ trình liên tỉnh kết nối các di tích thành trì nhà Mạc: Hà Nội - Hải Phòng (Kiến Thụy, Đồ Sơn) - Lạng Sơn (thành nhà Mạc Tam Thanh) - Cao Bằng (thành Bản Phủ) - Bắc Kạn (hồ Ba Bể) - Tuyên Quang (cổng thành nhà Mạc).
    • Tour 4 ngày 3 đêm "Vui hè trên vùng Đông Bắc": Đơn vị tổ chức: Công ty Du lịch Hồn Việt. Lộ trình: Hà Nội - Lạng Sơn (thành nhà Mạc, động Tam Thanh) - Cao Bằng (Pác Bó, Bản Giốc) - Bắc Kạn (vườn quốc gia Ba Bể) - Hà Nội.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn bộ cứ liệu lịch sử và thông số kỹ thuật của quần thể Khu tưởng niệm vương triều Mạc và hệ thống di tích thời Mạc tại huyện Kiến Thụy (chùa Trà Phương, chùa Văn Hòa, Từ đường họ Mạc). Nghiên cứu cung cấp số liệu thực tế về quy mô đầu tư dự án (Giai đoạn 1: 22,33 tỷ đồng; Giai đoạn 2: 45 tỷ đồng), diện tích các công trình phụ trợ, đặc tính kỹ thuật của bảo vật Đại Long Đao (nặng 25,6 kg, dài 2,55 m) và chuông đồng nặng 1.500 kg. Đồng thời, tác giả phản ánh chính xác lượng khách tham quan giai đoạn 2012 - 2013 (từ gần 72.000 lên gần 83.000 lượt) và phân tích bức tranh cơ cấu lao động địa phương (50,4% lao động nông nghiệp).
  • Hệ thống giải pháp ứng dụng: Tác giả đã xây dựng được 3 nhóm giải pháp quản trị di tích đồng bộ và thiết kế chi tiết 4 khung chương trình tour du lịch (từ nội huyện 1 ngày đến liên tỉnh 6 ngày) nhằm đưa khu tưởng niệm trở thành điểm đến thực tế trong các hành trình du lịch văn hóa.
  • Đóng góp của khóa luận: Khóa luận là tài liệu nghiên cứu chuyên đề, hỗ trợ nghiệp vụ trực tiếp cho công việc hướng dẫn viên du lịch của tác giả sau khi tốt nghiệp. Về mặt thực tiễn, công trình đóng góp nguồn tư liệu địa chí phục vụ công tác quy hoạch, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của huyện Kiến Thụy và thành phố Hải Phòng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các báo cáo thống kê vĩ mô của địa phương và quan sát thực địa, chưa tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi chuyên sâu trên quy mô mẫu khách du lịch lớn. Các tour du lịch liên tỉnh mới dừng lại ở mức độ xây dựng khung hành trình và dự thảo dịch vụ, chưa có điều kiện khảo sát thực nghiệm chi phí và mức độ hài lòng của du khách.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu khảo sát định lượng nhu cầu của các phân khúc khách du lịch văn hóa - lịch sử; nghiên cứu liên kết tour gắn với các kết quả khai quật khảo cổ học Dương Kinh dưới lòng đất; hoàn thiện các mô hình liên kết chuỗi sản phẩm du lịch nông nghiệp - làng nghề truyền thống - di sản văn hóa tại địa bàn ven đô Hải Phòng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Văn hóa học, Lịch sử, Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học khi tìm hiểu về di sản thời Mạc và du lịch văn hóa Hải Phòng. Nội dung miêu tả chi tiết về thông số kiến trúc, hiện vật điêu khắc (tượng Mạc Thái Tổ, tượng Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, thanh Đại Long Đao) và lịch trình các tour du lịch mẫu là tài liệu tham khảo giá trị cho các doanh nghiệp lữ hành, ban quản lý di tích và hướng dẫn viên du lịch tuyến Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu tưởng niệm vương triều nhà Mạc được xây dựng với quy mô diện tích và vốn đầu tư bao nhiêu? Theo các quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, dự án được quy hoạch trên tổng diện tích 10,5 ha. Giai đoạn 1 có quy mô vùng lõi 2,5 ha với tổng mức đầu tư 22,33 tỷ đồng (theo Quyết định số 188/QĐ-UBND). Giai đoạn 2 thực hiện các hạng mục trong khu nội vi rộng 1,2 ha với mức đầu tư 45 tỷ đồng (theo Quyết định số 860/QĐ-UBND).

2. Thanh Đại Long Đao lưu giữ tại chính điện khu tưởng niệm có thông số kích thước và trọng lượng như thế nào? Thanh Đại Long Đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung nguyên bản có trọng lượng 32 kg, qua thời gian bị hao mòn hiện còn nặng 25,6 kg. Tổng chiều dài đao là 2,55 m, bao gồm phần cán đao dài 1,6 m và lưỡi đao dài 0,95 m. Phần tiếp giáp giữa cán và lưỡi đao được bọc bằng đồng thau tạo hình đầu rồng có cá chốt chặt.

3. Chùa Trà Phương lưu giữ những bảo vật nghệ thuật điêu khắc thời Mạc nào? Chùa Trà Phương lưu giữ hai pho tượng đá thời Mạc thế kỷ XVI tiêu biểu: pho tượng Mạc Thái Tổ dáng ngồi xếp bằng, đầu đội mũ cao thành chạm hình chim; và pho tượng phù điêu Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn tạc năm 1551 (cao 76 cm, phần nổi cao 6 cm, có khắc chữ "Động chủ"). Ngoài ra, chùa còn bảo lưu đôi sấu đá và hệ thống hoa văn rồng chạm trong ô hình lá đề thế kỷ XVI.

4. Số lượng khách du lịch đến huyện Kiến Thụy giai đoạn 2012 - 2013 được ghi nhận ra sao? Theo số liệu thống kê trong khóa luận, lượng khách du lịch đến Kiến Thụy năm 2012 đạt gần 72.000 lượt khách và năm 2013 đạt gần 83.000 lượt khách. Phần lớn du khách là khách nội địa tham quan vãn cảnh, lễ hội, bên cạnh một lượng nhỏ khách quốc tế đến nghiên cứu di tích lịch sử và cảnh quan sông nước.

5. Tác giả đề xuất những tour du lịch cụ thể nào để kết nối khu tưởng niệm với các điểm đến khác? Tác giả đã xây dựng 4 chương trình: tour 1 ngày "Thăm lại Dương Kinh xưa" (khám phá các di tích Mạc tại Kiến Thụy); tuyến du khảo đồng quê (kết nối di tích Ngũ Đoan với làng nghề Đông Phương, rừng ngập mặn Đại Hợp và Đồ Sơn); tour 6 ngày 5 đêm "Tìm về dấu tích nhà Mạc" (Hà Nội - Hải Phòng - Lạng Sơn - Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang); và tour 4 ngày 3 đêm "Vui hè trên vùng Đông Bắc" (Hà Nội - Lạng Sơn - Cao Bằng - Bắc Kạn).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Văn Thức đã phục dựng bức tranh toàn diện về lịch sử, kiến trúc và giá trị văn hóa của Khu tưởng niệm vương triều Mạc trên nền đất cố đô Dương Kinh xưa tại huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Thông qua việc phân tích thực trạng lượng khách, hạ tầng kỹ thuật và cơ cấu lao động địa phương giai đoạn 2012 - 2013, nghiên cứu đã chỉ ra những khoảng trống về nghiệp vụ thuyết minh và tính liên kết vùng của du lịch địa phương. Hệ thống giải pháp bảo tồn, đào tạo nhân lực và các phương án tour du lịch cụ thể được đề xuất mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn di sản và định hướng phát triển ngành du lịch huyện Kiến Thụy trong tổng thể du lịch Hải Phòng.