Tìm hiểu giá trị văn học của Đại Việt sử ký toàn thư

Luận văn thạc sĩ văn học nghiên cứu tìm hiểu giá trị văn học của đại việt sử kí toàn thư, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2008

123
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Tổng quan Giá trị Văn học

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là bộ quốc sử đồ sộ, tập đại thành của nhiều bộ sử do các nhà sử học Việt Nam biên soạn qua nhiều triều đại. Tác phẩm được xem là một di sản văn hóa dân tộc vô giá. Ngoài giá trị lịch sử to lớn, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn ẩn chứa những giá trị văn học sâu sắc. Các sử gia đã thành công trong việc xây dựng chân dung nhân vật lịch sử, tái hiện bối cảnh không gian, thời gian một cách sống động. Nguồn sử liệu phong phú trong tác phẩm là kho tư liệu quý giá cho nghiên cứu và sáng tác văn học. Luận văn này tập trung tìm hiểu những giá trị văn học độc đáo của bộ sử nổi tiếng này, góp phần làm sáng tỏ tính nguyên hợp văn - sử bất phân.

1.1. Bối Cảnh Ra Đời và Quá Trình Hình Thành Đại Việt Sử Ký

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ra đời trong bối cảnh tư duy nguyên hợp còn chi phối mạnh mẽ đến việc trước tác. Ở giai đoạn đầu tiên, giữa văn học và các bộ môn khoa học khác chưa có danh giới rõ ràng. Văn học chưa tách ra thành một bộ môn nghệ thuật độc lập. Thời cổ, văn học có thể là thơ ca mà cũng có thể là sử ký. Việc viết sử còn được coi là hình thức sáng tác văn học cao quý nhất. Tác phẩm bao gồm quyển thủ và 24 quyển, ghi chép lịch sử từ thời Hồng Bàng đến năm 1675.

1.2. Các Nhà Sử Học Tiêu Biểu và Đóng Góp của Họ

Ngô Sĩ Liên là người có đóng góp lớn nhất trong việc biên soạn. Ông đã tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và đỗ tiến sĩ. Dưới triều Lê, ông giữ chức Đông các đại học sĩ. Năm 1479, Lê Thánh Tông sai Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Bên cạnh Ngô Sĩ Liên, các nhà sử học khác như Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, Lê Hy cũng có những đóng góp không nhỏ. Lê Văn Hưu biên soạn bộ Đại Việt Sử Ký chép từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Phan Phu Tiên viết tiếp từ Trần Thái Tông đến khi quân Minh bị đánh đuổi.

II. Vấn đề đặt ra Thiếu Nghiên Cứu Chuyên Sâu Giá trị Văn Học

Mặc dù Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, văn học… nhưng chưa có tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống các giá trị văn học của nó. Các công trình nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào giá trị sử học, phương pháp viết sử, hoặc chỉ đề cập đến giá trị văn học một cách khái quát. Luận văn này sẽ tiếp thu, kế thừa những ý kiến gợi ý của các nhà nghiên cứu, trong phạm vi một luận văn thạc sĩ, chỉ ra những biểu hiện cụ thể về giá trị văn học của bộ sử ký này. Đây là một thiếu sót cần được khắc phục để có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm.

2.1. Đánh Giá Các Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Liên Quan

Nhiều công trình nghiên cứu lịch sử đã khai thác Đại Việt Sử Ký Toàn Thư như một nguồn sử liệu quan trọng. Tuy nhiên, ít công trình tập trung phân tích khía cạnh văn học của tác phẩm. Nguyễn Thi chỉ ra công lao của Ngô Sĩ Liên so với bộ Đại Việt Sử Ký. Nguyễn Phương phê phán cách chép sử của các nhà Nho. Các nghiên cứu này chủ yếu đứng trên quan điểm của người hiện đại để phê phán các nhà chép sử thời xưa, chưa quan tâm tìm hiểu giá trị văn học của tác phẩm.

2.2. Sự Thiếu Hụt trong Nghiên Cứu Chuyên Biệt Về Văn Học

Bùi Duy Tân chỉ ra Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không những có giá trị lịch sử mà còn có giá trị văn học. Đoàn Thu Vân nhấn mạnh giá trị nhiều mặt, kể cả giá trị văn học của bộ sử. Hoàng Văn Lâu ghi nhận Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có rất nhiều "truyện". Tuy nhiên, chưa có ai đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống các giá trị văn học của nó.

III. Tìm hiểu Quan niệm Lịch sử Mục đích Chép Sử của Ngô Sĩ Liên

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là tập đại thành của nhiều bộ sử do nhiều nhà sử học các đời biên soạn. Từ Lê Văn Hưu đời Trần qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê Sơ, đến Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê Trung Hưng. Tác phẩm ghi chép lịch sử dân tộc ta từ họ Hồng Bàng đến năm 1675. Trong các nhà chép sử trên thì Ngô Sĩ Liên là người có đóng góp nhiều nhất. Cũng như Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên hoạt động trong hai cơ quan chuyên trách về văn hóa và giáo dục, là Quốc Tử Giám và Quốc Sử Viện.

3.1. Ảnh Hưởng của Quan Điểm Nho Giáo Đến Cách Chép Sử

Quan điểm Nho giáo về lịch sử ảnh hưởng sâu sắc đến cách chép sử của Ngô Sĩ Liên. Ông coi trọng việc ghi chép công đức của các bậc vua chúa, đồng thời phê phán những hành vi sai trái. Mục đích chép sử không chỉ là ghi lại sự kiện mà còn là để giáo huấn đạo đức, răn dạy hậu thế. Ngô Sĩ Liên thể hiện quan điểm trung thành với triều đình, đề cao vai trò của nhà vua. Ông sử dụng lịch sử như một công cụ để củng cố trật tự xã hội phong kiến.

3.2. Sự Kết Hợp Giữa Biên Niên và Kỷ Truyện trong Tác Phẩm

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư kết hợp hai phương thức biên niên và kỷ truyện. Biên niên ghi chép sự kiện theo trình tự thời gian. Kỷ truyện tập trung vào cuộc đời và sự nghiệp của các nhân vật lịch sử. Sự kết hợp này giúp tác phẩm vừa có tính hệ thống, vừa có tính sinh động. Biên niên cung cấp khung thời gian cho các sự kiện. Kỷ truyện đi sâu vào phân tích tính cách và hành động của nhân vật. Phương pháp này giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử và con người Việt Nam.

IV. Phân Tích Tính Văn Chương trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không chỉ là một bộ sử mà còn là một tác phẩm văn học. Tác phẩm thể hiện tư duy và bút pháp văn học thông qua nhiều phương diện khác nhau. Các sử gia đã sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế, miêu tả sự kiện một cách sinh động, và xây dựng nhân vật một cách chân thực. Tác phẩm không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam. Đây là điểm đặc biệt làm nên giá trị văn học của bộ sử.

4.1. Khả Năng Xây Dựng Chân Dung Nhân Vật Lịch Sử Sống Động

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư xây dựng thành công nhiều chân dung nhân vật lịch sử. Các nhân vật được miêu tả với những đặc điểm riêng biệt về tính cách, hành động, và số phận. Các sử gia không chỉ ghi lại những hành động của nhân vật mà còn phân tích động cơ và hậu quả của hành động đó. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về con người và lịch sử Việt Nam. Ví dụ, chân dung của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi được xây dựng một cách chi tiết và ấn tượng.

4.2. Sử Dụng Ngôn Ngữ và Bút Pháp Miêu Tả Tinh Tế Hấp Dẫn

Các sử gia đã sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế, miêu tả sự kiện một cách sinh động, và xây dựng nhân vật một cách chân thực. Tác phẩm không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam. Bút pháp miêu tả được sử dụng linh hoạt, kết hợp giữa tả cảnh và tả người. Các sử gia cũng sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa để tăng tính biểu cảm cho tác phẩm. Ngôn ngữ được sử dụng trang trọng, phù hợp với tính chất của một bộ sử.

4.3. Thể Hiện Tinh Thần Yêu Nước và Tự Hào Dân Tộc

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thể hiện tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc sâu sắc. Tác phẩm ca ngợi những chiến công hiển hách của dân tộc trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Các sử gia cũng phê phán những hành vi bán nước, cầu vinh. Tác phẩm góp phần củng cố tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh của dân tộc. Tinh thần yêu nước được thể hiện qua việc ca ngợi những vị anh hùng dân tộc và những chiến thắng lịch sử.

V. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Nguồn Tư Liệu Quý Giá cho Văn Học

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không chỉ là một bộ sử mà còn là một nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu và sáng tác văn học. Tác phẩm cung cấp những thông tin chi tiết về hiện thực xã hội, con người, và đời sống văn học trong thời kỳ lịch sử được phản ánh. Các nhà văn, nhà thơ có thể tìm thấy trong tác phẩm những cảm hứng sáng tạo, những hình mẫu nhân vật, và những bối cảnh lịch sử để xây dựng nên những tác phẩm văn học giá trị. Bộ sử này còn có giá trị bổ trợ cho người hiện đại để hiểu biết về hiện thực xã hội, con người liên quan đến văn học và đời sống văn học trong thời kỳ lịch sử được phản ánh.

5.1. Cung Cấp Thông Tin Về Ngữ Cảnh Sáng Tác Văn Học Cổ

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cung cấp những thông tin chi tiết về ngữ cảnh sáng tác văn học từ thế kỷ XV trở về trước. Các nhà nghiên cứu có thể tìm thấy trong tác phẩm những thông tin về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và đời sống của con người trong thời kỳ đó. Những thông tin này giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh ra đời của các tác phẩm văn học cổ, từ đó có thể đánh giá chính xác hơn giá trị của chúng. Tác phẩm còn cung cấp những thông tin về phong tục tập quán, tín ngưỡng, và các hoạt động văn hóa của người Việt Nam.

5.2. Giá Trị Tư Liệu Cho Sáng Tác Văn Học Hiện Đại và Tương Lai

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có giá trị tư liệu to lớn cho sáng tác văn học đời sau. Những câu chuyện lịch sử, những nhân vật lịch sử, và những bối cảnh lịch sử trong tác phẩm có thể trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn, nhà thơ. Các nhà văn, nhà thơ có thể khai thác những khía cạnh khác nhau của lịch sử để xây dựng nên những tác phẩm văn học độc đáo và sâu sắc. Tác phẩm góp phần làm giàu thêm kho tàng văn học Việt Nam.

VI. Kết luận Triển vọng Phát huy Giá trị Văn học Đại Việt Sử

Tóm lại, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không chỉ là một bộ sử mà còn là một tác phẩm văn học có giá trị. Tác phẩm thể hiện tư duy và bút pháp văn học thông qua nhiều phương diện khác nhau. Các sử gia đã sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế, miêu tả sự kiện một cách sinh động, và xây dựng nhân vật một cách chân thực. Tác phẩm không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam. Việc nghiên cứu giá trị văn học của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

6.1. Tổng Kết Giá Trị Văn Học Đa Dạng của Đại Việt Sử Ký

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có giá trị văn học đa dạng, thể hiện qua khả năng xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ, bút pháp miêu tả, và thể hiện tinh thần yêu nước. Tác phẩm là một minh chứng cho sự kết hợp giữa lịch sử và văn học trong văn hóa Việt Nam. Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác những giá trị văn học tiềm ẩn trong tác phẩm để có cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

6.2. Định Hướng Nghiên Cứu và Ứng Dụng Trong Giáo Dục

Cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về giá trị văn học của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Các nghiên cứu này có thể tập trung vào phân tích ngôn ngữ, bút pháp, nhân vật, và các yếu tố khác của tác phẩm. Đồng thời, cần đưa những đoạn trích tiêu biểu từ tác phẩm vào chương trình giáo dục để giúp học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Việc ứng dụng kiến thức từ tác phẩm vào giảng dạy sẽ giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, khả năng phân tích, và lòng tự hào dân tộc.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ tìm hiểu giá trị văn học của đại việt sử kí toàn thư

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu bài biểu dâng sách, Ngô Sĩ Liên đã trực tiếp trình bày lối viết sử của mình “ theo Mã Sử biên niên nhưng thẹn vì chắp vá còn thô, học Lân kinh so việc đâu dám mong cẩn nghiêm sánh kịp”(1,T102). Kinh Xuân Thu ( Lân kinh) của Khổng Tử ra đời vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên với những từ ngữ nghiêm khắc khô khan. Sử ký do Tư Mã Thiên biên soạn vào thế kỷ I trước công nguyên thấm đẫm chất văn chương. Nghĩa là Ngô Sĩ Liên đã vận dụng tổng hợp cả hai phương pháp viết sử truyền thống của người Trung Quốc: lối viết biên niên theo bộ Xuân Thu và lối viết kỷ truyện theo Sử ký của Tư Mã Thiên.

Đồng thời Ngô Sĩ Liên đã nhắc đến Mã sử và khẳng định theo Mã sử có nghĩa là ông đã ảnh hưởng của Mã sử nhiều. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên đã rất nhiều lần nhắc đến những nhân vật lịch sử quan trọng được Tư Mã Thiên ghi chép trong sử ký. Trong phần Bản kỷ hai lần tác giả nhắc đến Lưu Bang Hán Cao Tổ. Lần thứ nhất khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh trong bài chiếu có viết “ Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người có văn chất đủ vẻ, thực thể các quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được”(1, T339,340) 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thu Lần thứ hai là trường hợp thượng hoàng Nghệ Tông được tin thắng trận giết chết Chế Bồng Nga, Nghệ Tông nói “cầm cự nhau lâu ngày mới được gặp nhau, có khác gì Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ”(2,T180) Ở kỷ nhà Trần, Ngô Sĩ Liên còn so sánh Trần Hưng Đạo như Quách Tử Nghi nhà Đường.

Ông có công lao cùng các vua Trần thế kỷ XIII chung sức vượt qua khó khăn khiến cho thiên hạ đã tan mà lại hợp, xã tắc đã nguy mà lại yên, suốt đời Trần không còn nạn ngoại xâm nhà Hồ nữa. Công lao ấy là lớn lắm. Đôi khi ông còn so sánh vua Đại Việt còn hơn cả vua Trung Hoa “ Việc dấy quân nhân nghĩa của vua Lê Thái Tổ có thể rực rỡ hơn cả Thang Vũ”… Như vậy việc nhắc đến tên tuổi của các nhân vật lịch sử nổi tiếng Trung Hoa trong sử ký là một minh chứng khẳng định sự ảnh hưởng của Bắc sử đối với những trí thức Đại Việt là rất lớn. Theo PGS_TS Hoàng Văn Lâu thì do ảnh hưởng của lối viết kỷ truyện trong sử ký của Tư Mã Thiên nên “Trong Đại Việt sử ký toàn thư có rất nhiều “truyện” về các nhân vật lịch sử từ các bậc đế vương, các bà thái hậu hoàng phi, các hoàng tử, công chúa, các văn thần võ tướng, các văn nhân mặc khách cho tới các nhân vật không có địa vị to tát gì trong xã hội”(7, T207).

Nét nổi bật trong bút pháp “truyện”(bút pháp tự sự ) trong Đại Việt sử ký toàn thư là khắc hoạ chân dung nhân vật qua những chi tiết ngoại hình, chi tiết về nguồn gốc xuất thân có tính li kỳ, miêu tả hành động, ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật và còn đặt nhân vật vào những mối mâu thuẫn, những tình huống truyện …Thậm chí các nhà sử học còn biết chọn lọc sắp xếp các chi tiết thành một sâu chuỗi các sự việc. Các sự việc này được sắp xếp theo trật tự trước sau để lột tả tính cách nhân vật. Như đoạn kể sau đây về hoàng đế Thái Tông thuộc kỷ nhà Trần: “Xưa Thượng hoàng còn hàn vi, lấy người con gái thôn Bà Liệt (thuộc huyện Tây Chân ). Người đó có mang thì bị thượng hoàng ruồng bỏ.

Đến khi Bà Liệt ra đời, thượng hoàng không nhận con. Lớn lên, Bà Liệt khôi ngô giỏi võ nghệ, xin xung vào đội 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thu đánh vật. Một hôm, Bà Liệt đánh cầu với người trong đội, người kia vật ngã Bà Liệt, bóp cổ suýt tắc thở. Thượng hoàng thét lên “con ta đấy”.

Người ấy sợ hãi lạy tạ”(2,T13). Như vậy sự kiên gan của nhà vua làm sao chiến thắng được tình phụ tử. Đến lúc nguy nan nhất liên quan đến tính mạng của con trai mình thượng hoàng buộc phải lên tiếng. Câu chuyện không chỉ là một sâu chuỗi sự việc lối tiếp nhau mà còn đầy kịch tính làm cho người đọc phải hồi hộp theo dõi.

Nhiều khi các nhà sử học còn dừng lại ở những sự việc khác thường, những tình huống có vấn đề hay những thói quen kỳ quặc để phác hoạ tính cách. Như đoạn viết về viên độc bạ Trần Cụ “Bấy giờ có viên độc bạ Trần Cụ tính khoan hậu, cẩn thận thật thà, giỏi nghề đánh cá, bắn nỏ và chơi cầu. Vua sai dạy thái tử các nghề ấy”. Mỗi hành động của cụ đều tỉ mỉ, cầu kỳ “mỗi khi sắp đánh đàn thì cắt đầu dây buộc lại cho chặt rồi mới gảy.

Có người hỏi cớ làm sao, cụ trả lời “Nếu khúc đàn chưa hết mà dây đứt thì làm thế nào ?”. Cụ làm cầu thì cân nhắc các múi da, cho mười hai múi cân nhau, duy ba múi ở miệng cầu là chỗ cái bong bóng lợn vào thì hơi mỏng và nhẹ để cân đối với sức nặng ở đầu bong bóng …Nhà ông ta ở và thuyền có hai cửa đối nhau, xếp đặt bày biện các thứ phải cân đối ngay ngắn”. Đặc biệt cụ có những nguyên tắc bất di bất dịch không bao giờ thay đổi “Cụ người Cứu Liên vốn có mối hận với người Cứu Liên, thề rằng không bao giờ đặt chân lên đất ấy nữa. Sau này về trở về Cứu Liên thì đi thuyền, đến khi lên bộ thì đi kiệu cho tới khi đến giường mới xuống kiệu, thức ngủ, ăn uống đều ở trên giường.

Khi nào chơi xem vườn ao thì lại sai khiêng giường đến chỗ đó hết hứng lại trở về, lại ngồi kiệu lên thuyền…cứ như thế cho đến lúc hết đời chưa hề dẫm một bước lên đất Cứu Liên”(2,T89-90). Như vậy ở đây các nhà sử học có cách khắc hoạ nhân vật rất sinh động, chú ý đến những chi tiết thể hiện tính cách kỳ quặc. Dấu ấn của lối viết kỷ truyện trong Đại Việt sử ký toàn thư còn được thể hiện ở những tình huống gay cấn mà các nhà sử học lựa chọn để đưa vào trong chính sử. Như đoạn viết về Thái sư Trần Thủ Độ “ Thủ Độ có lần duyệt định số hộ khẩu, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thu Quốc Mẫu xin riêng cho một người làm câu đương.

Thủ Độ gật đầu, biên lấy họ tên và quê quán người đó. Khi duyệt đến xã nọ, hỏi rằng : tên mỗ ở đâu. Người ấy mừng rỡ chạy đến. Thủ Độ bảo hắn : Ngươi vì có công chúa xin cho làm chức câu đương không ví như người câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác”.

Người đó kêu van xin thôi mãi mới tha cho, từ ấy trở đi không ai dám đến nhà thăm vì việc riêng nữa”(2, T34). Qua đây ta thấy Trần Thủ Độ là người làm việc rất công minh không vì tình riêng mà trao giao chức vụ cho ai cả. Cách chọn sự việc của các sử gia trong tình huống này rất nghệ thuật với chi tiết chặt ngón chân gây ấn tượng mạnh. Sở dĩ có cách chép sử giàu dấu ấn của lối viết kỷ truyện như trên là do mục đích chép sử của các nhà nho.

Họ muốn nêu gương dăn dạy và giáo dục cho đời sau bằng những câu truyện lịch sử. Bài học lịch sử là những luân lý của Nho giáo, là đạo đức làm người. Nhìn chung lối viết kỷ truyện trong Đại Việt sử ký toàn thư đã tạo màu sắc tự sự cho tác phẩm. Viết Đại Việt sử ký toàn thư các bậc thần sử không chỉ ảnh hưởng của lối viết kỷ truyện trong sử ký của Tư Mã Thiên mà còn ảnh hưởng lối viết biên niên theo Kinh Xuân Thu của Khổng Tử.

Lối viết biên niên ghi sự việc xẩy ra từng ngày, từng tháng, năm nọ tiếp năm kia, các sự kiện trong ngoài nước cùng đời đều nghi chép đầy đủ cả. Lối viết biên niên trong Kinh Xuân Thu cũng là lối viết “bao biếm” “một chữ được khen thì vinh hơn hoa cổn bị chê một câu thì nặng hơn rìu búa”. Ảnh hưởng của lối viết biên niên được thể hiện ngay qua những lời bình sử. Các nhà sử học thường lấy ngay phép tắc trong Kinh Xuân Thu làm chuẩn mực để đánh giá các nhân vật lịch sử.

Sở dĩ có điều này bởi bản thân Kinh Xuân Thu là một bộ sử được viết theo lối biên niên nhưng đồng thời cũng là một bộ kinh điển của Nho gia Ngô Sĩ Liên đứng trên lập trường tư tưởng của nho gia để phê phán Lê Đại Hành, tác giả khẳng định “Tam cương là đạo thường của muôn đời không thể một 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thu ngày rối loạn, khi Lê Đại Hành giữ chức nhiếp chính, Vệ Vương còn nhỏ nhưng vẫn là vua, thế mà Đại Hành lại xưng làm phó vương, rắp tâm làm điều bất lợi. Đạo làm tôi không được làm điều rắp tâm, rắp tâm ắt phải giết. Đó là phép của sách Xuân Thu người người đều nêu lên để thi hành”(1, T221). Ông còn cho rằng “Làm vua mà không biết Xuân Thu tất phải chịu cái tiếng cầm đầu tội ác, làm tôi mà không biết nghĩa Xuân Thu tất mắc vào tội cướp ngôi giết vua, tức là Minh Vương, Ai Vương là Lữ Gia vậy”(2, T152).

Nhìn chung tư tưởng nho gia đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của các bậc sử gia và đã trở thành kim chỉ nam để biên soạn lịch sử. Họ đã đứng trên đạo đức của nho giáo như : tam tòng tứ đức, tam cương ngũ thường… để nhìn nhận, đánh giá các nhận các nhân vật lịch sử. Ngô Sĩ Liên phê phán Lê Đại Hành thông dâm với vợ của vua rồi nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu thì không còn gì hổ thẹn hơn nữa. Việc Đinh Tiên Hoàng lập 5 hoàng hậu cùng một lúc làm rối loạn nhân luân, tác giả viết: “ Từ xưa chỉ lập hoàng hậu một người để chủ việc nội trị mà thôi, chưa từng nghe nói lập đến năm người.

Tiên hoàng không kê cứu khảo cổ học mà bề tôi đương thời lại không có ai biết sửa cho đúng đến nỗi chìm đắm trong tình riêng…Sau đến hai triều Lê, Lý cũng phần nhiều bắt trước làm theo. Ấy là do Tiên Hoàng khởi xướng sự rối loạn thứ bậc vậy”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giá trị văn học của Đại Việt sử ký toàn thư" khám phá những giá trị văn học sâu sắc của tác phẩm lịch sử nổi tiếng này. Nó không chỉ ghi lại các sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam mà còn phản ánh tư tưởng, văn hóa và tâm hồn của dân tộc qua từng trang viết. Độc giả sẽ tìm thấy những phân tích sắc sảo về ngôn ngữ, phong cách và cấu trúc của tác phẩm, từ đó hiểu rõ hơn về vai trò của nó trong việc hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nơi phân tích ngôn ngữ trong thơ ca thời kỳ kháng chiến. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ việt nam ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn bính sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp nghệ thuật trong thơ ca hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại việt nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa văn hóa trong văn học cổ điển.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra những góc nhìn mới mẻ về văn học và ngôn ngữ Việt Nam, giúp bạn khám phá sâu hơn về di sản văn hóa phong phú của đất nước.