Chương 1: ĐIỀU KIỆNTỰ NHIÊN, CỔ MÔI TRƢỜNG VÀ TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1. Vài nét về tự nhiên, cổ môi trƣờng khu vực Bắc Trung Bộ gồm gồm 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Thanh Hóa là một trong những điểm khởi đầu của một khu vực địa lý khá khác biệt so với khu vực đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc. Thanh Hóa cũng giống như các tỉnh Bắc Trung Bộ về mặt cảnh quan đó là địa hình hẹp ngang và kéo dài theo phương Tây Bắc-Đông Nam, mỗi tỉnh đều có một bờ biển ở phía Đông, một mặt phía Tây là biên giới quốc gia, với địa hình núi thấp và trung bình.
Nhiều nơi, núi ăn lan ra đến bờ biển hoặc xuống biển đã chia miền thành nhiều lưu vực nhỏ, độc lập với nhau, bao lấy các đồng bằng nhỏ hẹp, với đất đai kém màu mỡ, nếu so với đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long [1, tr. Trên bản đồ vùng kiến tạo Bắc Việt Nam cho thấy, khu vực Bắc Trung Bộ nằm trong 2 đơn vị kiến tạo lớn đó là: hệ uốn nếp Tây Bắc và hệ uốn nếp Trường Sơn. Trong các hệ uốn nếp đó lại được chia thành các Đới uốn nếp khác nhau, bao gồm đới phức nếp lồi sông Mã, vòng chồng Sầm Nưa, đới phức nếp lồi Phu Hoạt, đới phức nếp lồi sông Cả, đới uốn nếp Trường Sơn. Đới sông Mã là phức nếp lồi lớn thuộc vùng núi trung bình bị xâm thực và bóc mòn mạnh.
Đới kéo dài theo phương Tây Bắc-Đông Nam, từ cao nguyên Sìn Hồ ở phía Tây Bắc đến bờ biển Thanh Hóa ở phía Đông Nam với chiều dài trên 400km, chiều rộng trung bình là 35km-40km, độ cao địa hình cũng giảm từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Phạm vi tỉnh Thanh Hóa thuộc phần Đông Nam của đới. Cấu tạo nên phức hệ nếp lồi này trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa bắt gặp các thành hệ đá biến chất của tuổi Proterozoi muộn - Paleorozoi sớm. Phủ không chỉnh hợp trên chúng là các thành hệ nguồn lục địa - cacbonat thuộc Devon và Paleozoi thượng Bắc Sơn, Núi Đọ, phía Bắc Bái Thượng [46, tr.
Thanh Hóa hiện tại gồm có 1 thành phố Thanh Hóa, 02 thị xã là Bỉm Sơn, Sầm Sơn và 24 huyện thị. Thanh Hóa tiếp giáp Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình về Bắc, phía Nam 18 Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. giáp Nghệ An, phía Đông giáp Biển Đông, với chiều dài 102km đường bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn, Lào [Bản đồ 1].
Hà Trung là một huyện nằm ở điểm đầu của Thanh Hóa theo trục từ Bắc - Nam. Về mặt vị trí địa lý, huyện Hà Trung nằm từ 20003‟20‟‟ tới 20005‟56‟‟ vĩ độ Bắc từ 105051‟20‟‟ tới 105085‟06‟‟ độ kinh Đông. Đây là một dạng địa hình chuyển tiếp từ miền núi ra ven biển, là phần rìa Đông của phức nếp lồi sông Mã tiếp nối với dải núi, đồi thấp tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa ở phía Tây, Tây Bắc. Địa hình, địa mạo Thanh Hóa thuộc dải đất hẹp ven biển miền Trung nước ta, nằm kẹp giữa dãy núi Trường Sơn và biển Đông, là một dải đất được thành tạo trong kỷ Đệ Tứ cách đây 1 triệu năm.
Thực chất, dải đất ven biển hai miền Nam - Bắc liền thông được với nhau là sau pha biển tiến Holocene giữa (QIV2) khi mà các đồng bằng được xác lập do lấy trầm tích các vũng vịnh biển (cách đây 4000BP). Trước đó, dải đất miền Trung vẫn ở trong khung cảnh biến động liên tục do các pha biển tiến và biển thoái xảy ra xen kẽ nhau, phụ thuộc vào các yếu tố gồm các chu kỳ băng hà và gian băng, các chuyển động nâng hạ mang tính địa phương của đới giáp nối giữa biển và lục địa cùng với sự thay đổi có chu kỳ của khí hậu [49, tr. Thềm của đồng bằng Thanh Hóa cơ bản là nền thành tạo trầm tích Pleistocene sớm (QI) nguồn gốc sông, chúng chứa vật liệu gồm sạn, cát, cuội chưa gắn kết. Loại này phổ biến ở huyện Nghi Lộc và Hoằng Hóa.
Trầm tích Pleistocene giữa-muộn (QII-III) có nguồn gốc sông-lũ nằm lót đáy phần trung tâm đồng bằng Thanh Hóa, Vinh và Huế. Mà biểu hiện rõ nhất là, chúng lộ ra ở phần rìa các đồng bằng dưới các dạng thềm sông bậc II. Trầm tích Pleistocene muộn ở đồng bằng ven biển Thanh Hóa, các trầm tích có nguồn gốc biển (mQIII) có thành phần mịn hơn gồm sét, bột sét loang lổ. Đến giai đoạn Holocene sớm-giữa (QIV1-2) phát triển rộng rãi và có nguồn gốc đa dạng, phân bố chủ yếu ở dải đồng bằng ven biển.
Dạng trầm tích nguồn gốc sông-biển (amQIV1-2) chiếm phần lớn các đồng bằng Thanh Hóa, Diễn Châu, Quảng Bình, Quảng Trị, phân bố trên độ cao 4m-5m, thành phần thạch học gồm cát, sét bột màu xám vàng đến đen. Trầm tích gốc biển (mQIV1-2) ở Thanh Hóa-Vinh là các cồn sò, điệp cao 4m-5m có tuổi tuyệt đối 4440BP. Trầm tích gốc biển-đầm lầy (mbQIV1-2) phát triển hạn chế ở ven biển 19 Footer Page 21 of 107. Header Page 22 of 107.
Thanh Hóa, thành phần gồm sét, bột, cát màu nâu đen, có lẫn than bùn. Trầm tích Holocene muộn (QIV3) có nguồn gốc sông, sông-biển và biển-gió phân bố dọc ven biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế [46, tr. Đồng bằng Thanh Hóa và cả khu vực Ninh Bình hiện nay chủ yếu được phát triển trong thế Holocene. Và chính thành tạo trầm tích Holocene trung đã đóng vai trò san lấp địa hình phân cắt thời Pleistocene để tạo ra diện mạo tương đối bằng phẳng, hơi thoải về phía Đông cho miền đồng bằng hiện nay [49, tr.
Cũng giống như đồng bằng cao, kiểu địa hình này cũng rất phổ biến những diện tích manh mún hơn, chủ yếu tập trung tại các khu vực cửa sông với bề rộng vài km, đôi chỗ tới 10km-20km. Độ cao tuyệt đối của đồng bằng thấp hơn 10m, chúng là tập hợp của các dạng địa hình bãi bồi thấp và cao, thềm bậc I của biển, biển-đầm lầy tuổi Holocene. Kiểu địa hình này thường xuyên bị ngập khi có lũ. Tuy nhiên, đây là kiểu địa hình tuận lợi cho canh tác nông nghiệp và phát triển nuôi trồng thủy sản.
Ngoài ra, các điểm cư dân, đô thị cũng tập trung chủ yếu trên kiểu địa hình này [46, tr. Ở rìa phía tây bắc là dải đất cao cấu tạo bởi phù sa cổ, cao trung bình 15m-20m. Về phía Đông Nam, bề mặt địa hình giảm còn 1m-2m và dọc ven biển gặp nhiều dải cồn cát cao 2m-4m được hình thành do hoạt động của sóng biển. Ngoài ra, trong đồng bằng châu thổ còn gặp nhiều núi sót cao trung bình 200m - 300m được cấu tạo bởi nhiều loại đất khác nhau từ đá phun trào, đá vôi đến cát kết, đá phiến [46, tr.
Khí hậu, thủy văn Về cơ bản, vị trí địa lý của Thanh Hóa và Hà Trung thuộc về miền khí hậu của miền Bắc Trung Bộ. Vấn đề xác định phạm vi đâu là Bắc Trung Bộ cũng chưa thống nhất và khái niệm khí hậu Bắc Trung Bộ không đồng nhất với Bắc Trung Bộ thường dùng trong các văn bản hành chính. Theo Trần Đình Lý, khái niệm khí hậu Bắc Trung Bộ chỉ những nét đặc trưng về khí hậu thời tiết của 3 tỉnh gồm Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh [46, tr. Do vị trí địa lý mà khí hậu nơi đây mang tính chuyển tiếp của khí hậu miền Bắc và khí hậu Đông Trường Sơn [46, tr.
Đặc trưng khí hậu được thể hiện ở những yếu tố như 20 Footer Page 22 of 107. Header Page 23 of 107. chế độ nhiệt, chế độ mưa, sương mù, nắng, độ ẩm. Yếu tố thủy văn biểu hiện ở hệ thống sông, suối và các nguồn nước bề mặt, nước ngầm.
Chế độ nhiệt với nhiệt độ trung bình năm là 230C-240C ở đồng bằng và vùng gò, đồi, lên cao về phía Tây và Tây Bắc nhiệt độ trung bình giảm dần xuống 200C hoặc thấp hơn. Tổng nhiệt cả năm của vùng là 8.7000C ở đồng bằng và đồi gò, xuống 8.0000C là ở vùng núi phía tây. Số tháng có nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 200C giảm dần từ Bắc xuống Nam. Tháng lạnh nhất là tháng 1 có nhiệt độ trung bình là 170C-180C.
Trong các tháng mùa hè, nhiệt độ trung bình là 270C-280C và tối cao trung bình là 330C. Đặc biệt, trong các thung lũng khuất ở miền núi phía tây nhiệt độ tối cao trung bình lên đến 340C-350C. Nhiệt độ tối cao có thể đạt cực đoan 420C ở đồng bằng và ở các thung lũng khuất gió là 430C. Biên độ dao động nhiệt ngày và đêm không lớn, trung bình năm là 70C-60C ở đồng bằng và 70C-80C ở vùng đồi nhưng có thể đạt 90C-100C trong các thung lũng sâu.
Chế độ mưa tuy có lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu từ tháng 8 đến tháng 10, chiếm tổng số 50% lượng mưa toàn năm. Lượng mưa cao nhất là tháng 9, đạt 400mm đến 500mm. Mùa mưa kéo dài 5 tới 6 tháng, bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, lượng mưa chỉ chiếm 15% toàn năm. Tháng 1 và 2 là những tháng có lượng mưa thấp nhất, chỉ dao động từ 10mm tới 20mm [46, tr.
Số giờ nắng trung bình năm là 1650h. Mùa đông độ ẩm cao mặt trời lại thấp nên đó là mùa ít bức xạ nhất. Mùa hè gió Tây thịnh hành, là những tháng có lượng bức xạ lớn nhất. Tháng 5 và 7 là hai tháng có giờ nắng đạt trên 200h/tháng, các tháng khác còn lại thấp hơn 200h/tháng.
Độ ẩm trung bình ở đồng bằng và trung du là 85% và 90% ở vùng cao. Thời kỳ ẩm trung bình cao nhất là tháng 3 (88%-90%). Tháng khô nhất, nóng nhất là tháng 7, lúc này gió Tây thịnh hành, có nghĩa là độ ẩm trung bình cũng thấp nhất (70%). Mưa phùn cũng như ở Bắc Bộ, chủ yếu trong tháng 2 và 3 với tổng số ngày trung bình là 15 ngày [46, tr.
Sương mù có số ngày trong năm từ 22 đến 26 ngày, thường xuất hiện tập trung vào các tháng 10, 11, 12 làm tăng độ ẩm không khí và đất. Những năm rét nhiều, sương muối xuất hiện vào tháng 1, tháng 2 gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống [90]. 21 Footer Page 23 of 107. Header Page 24 of 107.
Về mặt thủy văn, Hà Trung là một khu vực có hệ thống sông, nước bề mặt khá phong phú, gồm có sông Lèn, sông Hoạt, sông Tống Giang, sông Chiếu Bạch, sông Báo Văn, sông Bồng Khê [90, tr.