CHƯƠNG 1 Di chỉ khảo cổ học Đại Trạch là di chỉ cư trú - mộ táng thuộc thời đại Kim khí ở Việt Nam, nằm tại thôn Đại Trạch, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Di chỉ phát hiện năm 1990, năm 1999 di tích được thám sát, năm 2001 là cuộc khai quật lần thứ nhất; năm 2013, di chỉ được khai quật lần thứ 2. Tổng diện tích thám sát và khai quật là 203m2. Qua các đợt đào thám sát và khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện một số lượng di tích, di vật rất phong phú và đã được công bố bước đầu trên các ấn phẩm chuyên ngành.
Qua quá trình khai quật và nghiên cứu, các nhà nghiên cứu nhận định đây là một di chỉ thuộc văn hóa Đồng Đậu điển hình có giai đoạn chuyển tiếp lên văn hóa Gò Mun và có sự hiện diện của khu mộ táng thuộc văn hóa Đông Sơn. 19 luan an Những di tích, di vật phát hiện ở di chỉ Đại Trạch đã góp phần làm sáng tỏ hơn không gian văn hóa của văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun và văn hóa Đông Sơn ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. 20 luan an CHƯƠNG 2: DI TÍCH VÀ DI VẬT Căn cứ vào kết quả các đợt đào thám sát và khai quật, về cơ bản chúng ta thấy thống nhất của các loại hình di tích và di vật. Tuy nhiên, kết quả các cuộc khảo sát và khai quật có sự khác nhau đôi chút về cấu tạo địa tầng, về số lượng di tích, di vật.
Cấu tạo tầng văn hóa 2. Cấu tạo địa tầng các hố thám sát, khai quật + Địa tầng hố thám sát năm 1999 - Lớp I: dày 34cm, có nơi chỉ dày 22cm, đất màu đen, mềm, ẩm. Trong tập trung nhiều mảnh gốm, đất nung, than tro, xương động vật. - Lớp II: dày 30cm - 36cm, đất màu vàng xám, mềm, ẩm hơn lớp trên.
Trong có nhiều mảnh gốm, đất nung, than tro, xương động vật. - Lớp III: đất màu nâu đốm vàng. Lớp này ngang với mặt nước ngầm nên rất ướt. Đây là lớp sát sinh thổ nên đất chuyển màu.
Hiện vật gốm và đất nung giảm nhiều. - Sinh thổ: đất sét màu vàng, quánh [66,tr.170-174] + Địa tầng hố khai quật lần thứ nhất năm 2001 (ảnh 5 - 6, bản vẽ 1 - 2) - Lớp mặt: dày 10cm - 20cm, đất màu nâu tối. Thực chất đây cũng là lớp đất của tầng văn hóa, trong lớp này cũng tìm được nhiều mảnh gốm. - Tầng văn hóa chia thành hai lớp theo màu sắc đất: * Lớp trên (LI): dày 40cm - 60cm, đất màu nâu tối, đất mềm.
* Lớp dưới (LII): đất màu đen hơi nâu, càng xuống gần sinh thổ đất càng đen. Trên mặt cắt vách Tây ô B5 có một dải đất mỏng, dày 1cm, màu nâu hơi vàng sẫm. - Sinh thổ: đất sét màu nâu đỏ tối [67]. + Địa tầng hố khai quật lần thứ hai năm 2013(ảnh 12, bản vẽ 3-4) - Lớp mặt: dày 10cm - 20cm, đất màu nâu tối.
- Tầng văn hóa: dày 40cm - 60cm, đất mềm màu đen, ken dày mảnh gốm, đồ đất nung, đồ đá, hiện vật đồng, sắt, xương răng động vật. 21 luan an - Sinh thổ: đất sét màu nâu đỏ sẫm, màu vàng xám [49, tr. Đặc điểm chung về địa tầng di tích Đại Trạch Theo tác giả luận văn, địa tầng ở di chỉ Đại Trạch có đặc điểm chung như sau: - Lớp mặt: dày 10cm - 20cm, đất màu nâu tối, lẫn mảnh gốm, đất nung, đồ đồng, đồ sắt, xương răng động vật, than tro. và di tích mộ táng thuộc giai đoạn Đông Sơn.
Sở dĩ có hiện tượng này vì cư dân trong quá trình canh tác, làm nhà. đã bóc mất lớp đất mặt. Do vậy, lớp này được coi là lớp trên của tầng văn hóa. - Tầng văn hóa: dày 30cm - 60cm, đất mềm màu đen, đen hơi nâu, vàng xám, vàng xanh ken dày mảnh gốm, đất nung, đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, xương răng động vật, than tro.
và di tích mộ táng giai đoạn Đồng Đậu, Đông Sơn. - Sinh thổ: đất sét màu nâu đỏ sẫm, màu vàng xám. Di tích động vật, thực vật 2.1 Di tích động vật Di cốt động vật là một trong những bằng chứng phản ánh nguồn dinh dưỡng, cũng như trình độ phát triển văn hóa - kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây. Cuộc khai quật năm 2013 phát hiện di cốt động vật phân bố ở cả 5 lớp đào.
Tuy nhiên, số lượng không nhiều, nhưng tỷ lệ những mảnh xương còn đặc điểm có thể giám định được loài chiếm tỷ lệ khá cao 35,5%. Xương cốt động vật phân bố theo số lượng cũng như thành phần loài tập trung ở các lớp giữa tầng văn hóa, số liệu này có thể phản ánh phần nào sự phát triển của khu vực trong mối tương quan với các giai đoạn văn hóa của di tích (Bảng 1). Sự thay đổi số lượng xương cốt động vật ở các giai đoạn văn hóa cho thấy nguồn dinh dưỡng cho cuộc sống hàng ngày của cư dân Đại Trạch cổ có sự thay đổi nhất định. Theo nhận định của các nhà nghiên cứu: “ Về thành phần loài động vật, các nhóm thú ăn cỏ như trâu,bò, hươu nai, lợn có tỷ lệ lớn.
Như vậy, có thể chúng đóng vai trò quan trọng trong nguồn thực phẩm của cư dân Đại Trạch cổ. Đây cũng là đặc điểm chung của cư dân văn hóa thời kỳ đồng thau là sự tập trung săn bắt/bắn các nhóm thú lớn - trung bình có khả năng cung cấp nhiều lượng thịt. Ngoài ra có thể đã có sự thuần hóa ban đầu?. Bên cạnh đó 22 luan an cư dân cổ Đại Trạch cũng khai thác nguồn lợi sinh vật từ môi trường sông hồ, đầm lầy quanh khu vực như cá, rùa.
So với các di chỉ thuộc văn hóa Đồng Đậu giai đoạn sớm, ở Đại Trạch không có nhiều công cụ xương. Chỉ có 3 mảnh ngà voi, các mảnh ngà voi này có thể là mảnh vòng vỡ. Những hiện vật này được cắt ngang thân ngà, dày từ 1,5cm - 3cm. Sự vắng mặt công cụ xương phần nào cho thấy trình độ phát triển sản xuất đồ đồng của cư dân cổ ở đây” [45, tr.
Bảng 1: Tổng hợp kết quả giám định và số lượng di cốt động vật.141 - 142] Lớp khai quật Tổng Phân loại Lớp thú - Mammalia 5 4 2 6 5 222 Họ người - Hominidae Người - Homo sapiens 10 Họ mèo - Felidae Mèo? - Felis sp. 1 Họ hươu - Cervidae Hươu - Cervus sp. 16 Nai - Rusa unicolor 1 Họ sừng gẫy - Bovidae Trâu/bò - Bovidae 23 Họ lợn - Suidae Lợn - Sus sp. 0 1 4 46 23 luan an Họ tê giác Rhinocerotidae Loài tê giác Rhinoceros sp.
Họ voi-Elephantidae Voi châu á - Elephas maximus 5 Lớp cá vây tia - Actinopterygii 3 Bộ Rùa - Testudinata 17 Tổng 2 6 12 5 0 345 2.2 Di tích thực vật Dựa theo kết quả phân tích tại phòng thí nghiệm Viện Địa Chất, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, tác giả Nguyễn Mai Hương cho rằng: “Dựa trên màu sắc và thành phần của trầm tích trong địa tầng là sét, sét bột, các hạt mịn có màu xám sẫm, xám đen có lẫn nhiều tàn tích thực vật và than bùn chúng tôi cho rằng đây là những trầm tích có tuổi thuộc địa tầng Hải Hưng QIv1-2(khoảng 4.000 - 6000 năm cách ngày nay). Duy chỉ có mẫu kí hiệu sinh thổ(8)ĐT có thành phần sét bột và cát biển màu vàng. Rất tiếc thành phần bào tử phấn hoa thu được ít không thể thành lập được sơ đồ phổ phấn. Đặc biệt, số lượng bào tử tìm được rất ít, có thể do môi trường đầm lấy nước mặn không phù hợp cho điều kiện sống của loài cây này.
Tuy vậy, các hạt phấn và bào tử thu được đều thuộc các loài thực vật nhiệt đới, ưa nóng ẩm. - Sự có mặt phong phú của các loài tảo nước lợ ở các mẫu có kí hiệu L1(3)ĐT trên, L1(3)ĐT dưới, L2(4)ĐT, L2(7)ĐT, tảo nước mặn và Foramifera (Trùng lỗ) ở mẫu có kí hiệu sinh thổ(8)ĐT chứng tỏ môi trường của khu vực là môi trường đầm lầy nước lợ ven biển (Nguyễn Mai Hương, 2003, kết quả phân tích bảo tử phấn hoa di tích Đại Trạch (Đình Tổ, Thuận Thành, Bắc Ninh)”. 24 luan an Bảng 2: Kết quả phân tích bảo tử phấn hoa di chỉ Đại Trạch (xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) [61: tr. Mẫu kí hiệu L1(2)(ĐT) Taxodium sp.
3 hạt Bụt mọc Poaceae gen indet. 3 hạt Hoà Thảo Chenopodiaceae gen indet. 2 hạt Rau Muối Quercus sp. 2 hạt Họ Dẻ Palmae gen indet.
1 hạt Họ Cau dừa Fabaceae gen indet. 1 hạt Họ Đậu 2. Mẫu kí hiệu L1(2)ĐT Taxus sp. 2 hạt Thông Đỏ Tadodium sp.
1 hạt Họ Bụt Mọc Poaceae gen indet. 1 hạt Họ Hoà Thảo Tảo nước lợ 3. Mẫu kí hiệu L1(3)ĐT dưới Palmae gen indet. 3 hạt Họ Cau Dừa Poaceae gen indet.
2 hạt Họ Hoà Thảo Chenopodium sp. 1 hạt Họ Rau Muối Tảo nước lợ 4. Mẫu kí hiệu L2(4)ĐT Polypodium sp. 1 hạt Họ Dương Xỉ Irix sp.
1 hạt Họ Lay ơn 25 luan an Cycas sp. 1 hạt Họ Thiên Tuế Taxus sp. 3 hạt Họ Thông Đỏ Taxodium sp. 4 hạt Họ Bụt Mọc Poaceae gen indet.
2 hạt Họ Hoà Thảo Tảo nước lợ 5. Mẫu kí hiệu L2(7)ĐT Polypodium sp. 2 hạt Họ Dương Xỉ Taxodium sp. 2 hạt Họ Bụt mọc Poaceae gen indet.
3 hạt Họ Hoà thảo Ericaceae gen indet. 1 hạt Họ Đỗ quyên Tảo nước lợ 6. Mẫu kí hiệu: Sinh thổ(8) ĐT Gleichenia sp. 2 hạt Họ Dương xỉ Polypodium sp.
1 hạt Họ Dương xỉ Foramifera (Trùng lỗ) Tảo nước mặn, nước lợ 2. Di tích mộ táng Cuộc khai quật năm 2001 phát hiện 4 di tích mộ táng thuộc hai giai đoạn văn hóa khác nhau đó là 1 mộ thuộc giai đoạn văn hóa Đồng Đậu và 3 mộ thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn: + Giai đoạn văn hóa Đồng Đậu: 1 mộ. 26 luan an - Mộ 4 (ký hiệu F12) nằm trong ô C5, D5. Huyệt mộ hình gần chữ nhật, một đầu rộng hơn, một đầu hẹp hơn, dài 210cm, rộng 60cm - 75cm, sâu so với mặt đất hiện tại 70cm.
Căn cứ vào mảnh xương sọ còn lại đầu di cốt hướng Đông Bắc, chân di cốt hướng Tây Nam. Mộ nằm ở độ sâu khoảng 40cm, đáy mộ sâu 90cm. Hiện vật trong mộ có 3 cụm gốm, một ở phần ngực, một ở khoảng tay phải và cụm còn lại ở khoảng chân. Tuy nhiên, do tất cả đều vỡ nát nên không phục nguyên được.
Đất trong mộ màu nâu hơi vàng, lẫn rất nhiều than tro. + Giai đoạn văn hóa Đông Sơn: 3 mộ. - Mộ 1 (ký hiệu F5) nằm trong ô C4, D4.