Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tri thức lịch sử giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Tuy nhiên, hoạt động dạy học lịch sử tại trường phổ thông thời gian qua bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó việc chưa kích thích được hứng thú và tính tích cực, sáng tạo của học sinh là vấn đề nổi cộm. Phương pháp dạy học truyền thống mang tính "dạy chay", truyền thụ một chiều khiến giờ học trở nên khô khan, nặng nề về ghi nhớ máy móc.
Chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 29-NQ/TW của Đảng và định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo (thể hiện qua Công văn liên ngành số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013) yêu cầu chuyển dịch mạnh mẽ từ trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học. Trong quá trình đó, di sản văn hóa (DSVH) được xác định là nguồn sử liệu trực quan, sinh động và là môi trường giáo dục thực tiễn.
Thanh Hóa là địa bàn có mật độ di sản văn hóa phong phú, đa dạng, trải dài từ thời nguyên thủy đến thời kỳ cận - hiện đại. Mặc dù Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã tổ chức tập huấn từ tháng 11/2013, nhưng việc khai thác di sản văn hóa địa phương vào dạy học lịch sử của đa số giáo viên trung học phổ thông (THPT) tại Thanh Hóa vẫn còn lúng túng, thiếu hệ thống và chưa phát huy được giá trị giáo dục vốn có. Xuất phát từ thực trạng này, luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và xây dựng hệ thống hình thức, biện pháp sư phạm nhằm khai thác nguồn lực di sản địa phương phục vụ dạy học lịch sử.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của DSVH trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, tiến hành lựa chọn, xác định các nội dung DSVH tiêu biểu tại Thanh Hóa; từ đó đề xuất hệ thống hình thức và biện pháp sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 5 nội dung cụ thể:
- Tìm hiểu tài liệu giáo dục học, tâm lý học, giáo dục lịch sử và lịch sử văn hóa liên quan đến đề tài.
- Điều tra, đánh giá thực trạng việc sử dụng DSVH trong dạy học lịch sử ở trường THPT tỉnh Thanh Hóa.
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa (SGK) Lịch sử lớp 10 để xác định nội dung DSVH địa phương cần khai thác.
- Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng DSVH tại Thanh Hóa trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam (từ nguyên thủy đến giữa thế kỷ XIX) lớp 10 THPT.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khoa học, tính khả thi của các hình thức và biện pháp đã đề xuất.
Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên các trường THPT vận dụng một cách có hệ thống các hình thức và biện pháp sử dụng di sản văn hóa địa phương do luận án đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử, kích thích hứng thú học tập và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng DSVH tại địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ nguyên thủy đến giữa thế kỷ XIX), lớp 10, trường THPT tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi không gian: Các trường THPT tiêu biểu đại diện cho 3 vùng địa lý (miền núi, đồng bằng, miền biển) thuộc các địa bàn thành phố, thị xã và nông thôn tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi nội dung và thời gian lịch sử: Chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT (chương trình chuẩn), giai đoạn từ thời nguyên thủy đến giữa thế kỷ XIX; tập trung vào các bài nội khóa trên lớp, bài học nội khóa tại di sản và hoạt động ngoại khóa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan theo 4 nhóm chuyên đề chính:
| Nhóm công trình | Tác giả, công trình tiêu biểu | Nội dung và đóng góp chính |
|---|---|---|
| Lý luận giáo dục và tâm lý học quốc tế | B. Êxipôp (1971), Gôlan (1971), V. Onhisuc (1976), Anđrôp & Xcatkin (1980), Lữ Đạt - Chu Mãn Sinh (2010), Stronge (2013), Martin-Kniep (2013), Robert J. Marzano & Debra J. Pollock (2013). | Khẳng định tính trực quan là điểm xuất phát của quá trình nhận thức; vai trò của tham quan thực tế, hình ảnh trực quan trong việc cụ thể hóa cái trừu tượng và gắn lý thuyết với đời sống thực tiễn. |
| Lý luận và phương pháp dạy học lịch sử quốc tế | Xtơrajốp.I (1964), Vagin (1972), Đairi (1973), Lecne (1981), M. Studenikin (1999), Veerle De Troyer và nhóm tác giả Châu Âu (2005). | Xác định tài liệu di sản là nguồn nhận thức lịch sử; hướng dẫn kỹ thuật dạy học theo sơ đồ, hiện vật, văn học nghệ thuật; hướng dẫn thực hành giáo dục di sản qua dự án học tập. |
| Nghiên cứu giáo dục học và PPDHLS tại Việt Nam | Giáo trình ĐHSP Hà Nội II (1971), Đặng Vũ Hoạt (1997), Phạm Viết Vượng (2000), Thái Duy Tuyên (2001), Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường (2014); Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng (1976, 1980, 1992, 2002, 2006, 2008, 2014); Hoàng Thanh Hải, Nguyễn Thành Nhân, Nguyễn Thị Thành, Phạm Tú Linh, Nguyễn Thị Thanh Liễu, Nguyễn Đức Toàn. | Xây dựng hệ thống nguyên tắc trực quan, con đường hình thành biểu tượng lịch sử; phân loại tài liệu di sản thành hiện vật, tạo hình, quy ước; bước đầu đề xuất các hình thức bài học thực địa và hoạt động ngoại khóa. |
| Nghiên cứu về di sản văn hóa và DSVH Thanh Hóa | Hoàng Vinh (1997), Ngô Đức Thịnh (2010), Viện Harvard Yenching tài trợ (2011, 2014); Địa chí Thanh Hóa Tập II (2004), Ban Quản lý di tích & danh thắng Thanh Hóa (2000-2015, 2009), Lê Huy Trâm & Hoàng Anh Nhân (2001), Hoàng Khôi (2003), Nguyễn Văn Hảo & Lê Thị Vãn (2003), Ban NC&BS Lịch sử Thanh Hóa (2005), Hoàng Bá Tường (2007, 2016), Trần Thị Liên (2010), Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa (2016). | Cung cấp tri thức toàn diện về diện mạo, giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thống di tích, lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán và cổ vật tại Thanh Hóa (Núi Đọ, Con Moong, Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, đúc đồng Trà Đông...). |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tư liệu cho thấy:
- Các công trình giáo dục học và tâm lý học chủ yếu dừng lại ở việc khẳng định giá trị chung của phương tiện trực quan và môi trường thực tiễn, chưa xây dựng quy trình dạy học cụ thể gắn với từng loại hình di sản.
- Các công trình về lịch sử và văn hóa Thanh Hóa tuy phong phú nhưng phục vụ chủ yếu cho công tác bảo tồn, nghiên cứu chuyên ngành hoặc quản lý văn hóa, chưa được chuyển hóa thành nguồn học liệu sư phạm phục vụ dạy học bộ môn.
- Các nghiên cứu chuyên ngành phương pháp dạy học lịch sử trước đây phần lớn tập trung vào di sản văn hóa vật thể (di tích, bảo tàng), áp dụng cho cấp THCS hoặc các lớp 11, 12, hoặc nghiên cứu trên các địa bàn khác (Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Bắc Ninh, Đồng bằng sông Cửu Long).
Luận án đã lấp đầy khoảng trống này bằng cách: nghiên cứu toàn diện cả DSVH vật thể và phi vật thể tại Thanh Hóa; chọn lọc và tích hợp vào nội dung lịch sử Việt Nam lớp 10 giai đoạn từ nguyên thủy đến giữa thế kỷ XIX; xây dựng hệ thống hình thức, biện pháp sư phạm đồng bộ và tiến hành kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực (Nghị quyết 29-NQ/TW).
- Cơ sở pháp lý: Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/09/2010 của Chính phủ; Công văn liên ngành số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013 và các tài liệu hướng dẫn tập huấn dạy học theo định hướng phát triển năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2013, 2014.
- Khung lý thuyết tiếp cận:
- Lý luận nhận thức và con đường hình thành kiến thức lịch sử: Xuất phát từ tính chất đặc thù của khoa học lịch sử (tính quá khứ, tính không lặp lại), học sinh nhận thức lịch sử gián tiếp thông qua sự kiện, tạo biểu tượng cụ thể, hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử.
- Quan niệm về DSVH trong dạy học: DSVH đóng vai trò là nguồn sử liệu, là phương tiện trực quan và là môi trường học tập thực tiễn. Sử dụng DSVH phi vật thể đòi hỏi phải gắn liền với chủ thể cộng đồng và không gian văn hóa chứa đựng nó.
Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học môn Lịch sử, sử học, văn hóa học; nghiên cứu chương trình và SGK Lịch sử lớp 10 để xác định địa chỉ bài học cần sử dụng DSVH.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra bằng phiếu hỏi đối với giáo viên và học sinh các trường THPT.
- Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn.
- Dự giờ, quan sát hoạt động dạy học trên lớp và ngoài thực địa.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án và tổ chức thực nghiệm từng phần, toàn phần trên các dạng bài nội khóa trên lớp, bài nội khóa tại di sản và hoạt động ngoại khóa.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng các số liệu điều tra thực trạng và kết quả điểm số thực nghiệm sư phạm giữa các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật, công văn chỉ đạo chuyên môn của ngành giáo dục và văn hóa.
- Tài liệu địa chí, biên niên lịch sử, hồ sơ di tích, công trình nghiên cứu văn hóa dân gian và cổ vật Thanh Hóa (Địa chí Thanh Hóa, Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh, Văn vật xứ Thanh...).
- Dữ liệu khảo sát thực tế từ hệ thống trường THPT thuộc 3 vùng sinh thái của tỉnh Thanh Hóa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này tổng thuật toàn diện tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về việc sử dụng DSVH trong dạy học và nghiên cứu về DSVH Thanh Hóa:
- Nghiên cứu quốc tế: Các nhà giáo dục học và tâm lý học Liên Xô (Êxipôp, Onhisuc), Hoa Kỳ (Stronge, Martin-Kniep, Marzano), châu Âu (Dự án "Heritage in the classroom") và các nước châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc) đều khẳng định vai trò của việc tiếp cận di sản như một phương tiện trực quan và môi trường gắn kết nhà trường với đời sống xã hội.
- Nghiên cứu trong nước: Các công trình nghiên cứu lý luận phương pháp dạy học lịch sử của Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng đã khẳng định di sản văn hóa vật thể là đồ dùng trực quan hiện vật quý giá; các tài liệu tranh ảnh, sa bàn, phục dựng là đồ dùng trực quan tạo hình và quy ước.
- Tình hình nghiên cứu DSVH Thanh Hóa: Các công trình nghiên cứu đã làm rõ nguồn gốc, giá trị của hệ thống di tích khảo cổ (Núi Đọ, hang Con Moong), di tích lịch sử (Lam Kinh, Thành Nhà Hồ, Vạn Lại - Yên Trường), lễ hội và nghệ thuật trình diễn dân gian (Xuân Phả, Múa đèn Đông Anh, trò diễn Pôn Poông), làng nghề truyền thống (đúc đồng Trà Đông, mộc Đạt Tài, đá Nhồi). Tác giả rút ra kết luận: các công trình văn hóa địa phương chưa được khai thác đồng bộ vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đặt ra yêu cầu phải có công trình chuyên biệt giải quyết vấn đề này.
Chương 2: Sử dụng di sản văn hóa tại địa phương trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông - Lý luận và thực tiễn
Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng và đánh giá bức tranh thực tiễn:
- Cơ sở lý luận:
- Xác định khái niệm, đặc điểm của DSVH vật thể và phi vật thể theo quy định pháp lý và công ước quốc tế. Luận án nhấn mạnh DSVH phi vật thể là "di sản sống", gắn liền với cộng đồng và không gian văn hóa cụ thể.
- Phân tích con đường hình thành kiến thức lịch sử: cung cấp sự kiện $\rightarrow$ tạo biểu tượng $\rightarrow$ hình thành khái niệm $\rightarrow$ rút ra quy luật và bài học kinh nghiệm.
- Khẳng định 3 vai trò chính của DSVH địa phương: là nguồn sử liệu quý báu; là phương tiện trực quan giá trị; là môi trường bảo lưu truyền thống và phương tiện giáo dục sâu sắc.
- Phân tích ý nghĩa toàn diện trên các phương diện: làm sâu sắc kiến thức; rèn luyện kĩ năng bộ môn và kĩ năng sống (làm việc nhóm, thu thập và xử lý thông tin); bồi dưỡng xúc cảm lịch sử, đạo đức, nhân cách; phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên biệt.
- Hệ thống hóa nội dung DSVH Thanh Hóa cần sử dụng tương ứng với các bài học trong SGK Lịch sử 10 (từ Bài 13 đến Bài 21), tiêu biểu như: di chỉ Núi Đọ (Bài 13 - Việt Nam thời nguyên thủy); hoa văn trống đồng Đông Sơn, di tích đúc đồng Trà Đông (Bài 14 - Các quốc gia cổ đại); dân ca "Đi cấy" trong tổ khúc Múa đèn Đông Anh (Bài 15 - Thời Bắc thuộc và đấu tranh giành độc lập); đền thờ Bà Triệu, thành Nhà Hồ, khu di tích và lễ hội Lam Kinh (Bài 19, 20); kinh đô Vạn Lại - Yên Trường (Bài 21 - Những biến đổi của nhà nước phong kiến).
- Cơ sở thực tiễn:
- Đánh giá thực trạng dạy học môn Lịch sử và việc khai thác DSVH tại các trường THPT tỉnh Thanh Hóa trên cả 3 vùng miền: miền núi, đồng bằng, miền biển.
- Chỉ ra thực trạng: phần lớn giáo viên nhận thức được giá trị của DSVH nhưng còn lúng túng trong khâu lựa chọn tư liệu, thiết kế hoạt động và tổ chức dạy học tại thực địa; phương pháp truyền thống còn chiếm ưu thế, hiệu quả giáo dục di sản chưa tương xứng với tiềm năng.
Chương 3: Hình thức và biện pháp sử dụng di sản văn hóa tại Thanh Hóa trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguyên thuỷ đến giữa thế kỷ XIX) THPT ở địa phương
Chương 3 là phần trọng tâm về mặt giải pháp sư phạm của luận án:
- Yêu cầu cơ bản: Luận án xác định 5 nguyên tắc bắt buộc khi lựa chọn hình thức và biện pháp:
- Đảm bảo mục tiêu giáo dục bộ môn.
- Đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm.
- Đảm bảo tính trực quan sinh động.
- Tăng cường hoạt động trải nghiệm, tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
- Đa dạng hóa các hình thức và phương pháp dạy học.
- Hệ thống 4 hình thức sử dụng DSVH:
- Sử dụng tài liệu di sản văn hóa trong bài nội khóa trên lớp: Khai thác tranh ảnh, video clip, hiện vật phục chế, tài liệu thành văn về di sản để minh họa, giảng giải.
- Tổ chức dạy học bài lịch sử nội khóa tại di sản văn hóa: Xây dựng quy trình đưa học sinh đến học tập trực tiếp tại các di tích (hang Con Moong, thành Nhà Hồ, Lam Kinh...).
- Sử dụng di sản văn hóa trong tổ chức dạy học bài lịch sử địa phương Thanh Hóa: Kết hợp nội dung lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương theo phân phối chương trình.
- Sử dụng di sản văn hóa trong hoạt động ngoại khóa: Tổ chức câu lạc bộ, tham quan dã ngoại, chăm sóc di tích, sưu tầm tư liệu văn hóa dân gian.
- Hệ thống 5 biện pháp sư phạm cụ thể:
- Sử dụng DSVH để nêu vấn đề - kích thích hứng thú, xác định động cơ học tập của học sinh.
- Sử dụng DSVH để tạo biểu tượng lịch sử, hình thành kiến thức mới.
- Sử dụng DSVH để tổ chức đánh giá sự kiện lịch sử.
- Sử dụng DSVH trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
- Sử dụng DSVH để ra bài tập rèn luyện năng lực tự học và nghiên cứu.
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 trình bày quá trình tổ chức kiểm chứng thực nghiệm các đề xuất sư phạm:
- Mục đích thực nghiệm: Đánh giá tính khả thi, tính đúng đắn và hiệu quả của các hình thức, biện pháp sử dụng DSVH địa phương đã xây dựng.
- Đối tượng và địa bàn: Tiến hành tại các trường THPT đại diện cho các vùng miền của tỉnh Thanh Hóa, lựa chọn các cặp lớp tương đương về trình độ học lực để chia thành lớp Thực nghiệm (TN) và lớp Đối chứng (ĐC).
- Nội dung và phương pháp tiến hành:
- Đối với bài học nội khóa trên lớp: So sánh hiệu quả tiếp thu kiến thức và hứng thú học tập giữa lớp áp dụng tư liệu DSVH theo hướng tích cực với lớp dạy theo phương pháp truyền thống.
- Đối với bài học nội khóa tại di sản: Tổ chức giờ học trực tiếp tại khu di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh theo quy trình đã thiết kế.
- Đối với hoạt động ngoại khóa tại di sản: Đánh giá sự phát triển kĩ năng làm việc nhóm, năng lực tìm kiếm và xử lý thông tin, thái độ trân trọng di sản của học sinh qua các hoạt động trải nghiệm thực tế.
- Kết quả thực nghiệm: Xử lý số liệu kiểm tra bằng phương pháp thống kê toán học cho thấy kết quả học tập, mức độ hiểu sâu kiến thức và các chỉ số hứng thú, năng lực tự học của học sinh ở các lớp thực nghiệm đạt cao hơn rõ rệt so với các lớp đối chứng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về việc sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục định hướng phát triển phẩm chất, năng lực.
- Làm rõ bản chất của DSVH địa phương với tư cách là nguồn sử liệu, phương tiện trực quan và môi trường giáo dục; xác định cơ chế tác động của di sản đến việc hình thành biểu tượng lịch sử, phát triển tư duy và bồi dưỡng cảm xúc cho học sinh.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phác họa bức tranh toàn diện và khách quan về thực trạng sử dụng DSVH trong dạy học môn Lịch sử tại các trường THPT tỉnh Thanh Hóa.
- Tuyển chọn và xây dựng danh mục hệ thống các DSVH tiêu biểu của Thanh Hóa (cả vật thể và phi vật thể) tương ứng với từng nội dung cụ thể của chương trình Lịch sử Việt Nam (từ nguyên thủy đến giữa thế kỷ XIX) lớp 10 THPT.
- Đề xuất hệ thống 4 hình thức tổ chức dạy học và 5 biện pháp sư phạm có tính khả thi cao, kèm theo quy trình tổ chức giờ học trên lớp, giờ học tại thực địa và hoạt động ngoại khóa.
- Cung cấp kết quả thực nghiệm sư phạm cụ thể, khẳng định hiệu quả nâng cao chất lượng dạy học của hệ thống giải pháp đề xuất.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các cấp quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT, Ban Giám hiệu trường THPT): Cần tạo điều kiện về thời gian, kinh phí và cơ chế phối hợp liên ngành với ngành văn hóa để hỗ trợ giáo viên tổ chức các giờ học tại thực địa và hoạt động trải nghiệm di sản.
- Đối với tổ chuyên môn và giáo viên Lịch sử: Cần chủ động nghiên cứu, sưu tầm nguồn tư liệu di sản địa phương; đổi mới hình thức soạn giảng, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá gắn với di sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Luận án tập trung nghiên cứu trong phạm vi chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT (chương trình chuẩn), giai đoạn từ nguyên thủy đến giữa thế kỷ XIX, chưa bao quát toàn bộ tiến trình lịch sử ở các lớp 11 và 12.
- Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ giới hạn trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu việc khai thác DSVH địa phương vào các giai đoạn lịch sử khác (Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại ở lớp 11, 12).
- Nghiên cứu xây dựng quy trình tích hợp liên môn (Lịch sử - Địa lý - Giáo dục công dân - Ngữ văn) trong việc khai thác di sản văn hóa địa phương tại trường THPT.
- Ứng dụng mô hình nghiên cứu này vào việc khai thác di sản văn hóa tại các tỉnh, thành phố khác trên cả nước.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:
- Giáo viên Lịch sử trường THPT: Có thể khai thác trực tiếp danh mục di sản văn hóa Thanh Hóa đã được hệ thống hóa, các giáo án mẫu và quy trình 5 biện pháp sư phạm để áp dụng vào bài giảng trên lớp cũng như tổ chức học tập tại di tích.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Tham khảo cơ sở lý luận về phương tiện trực quan, con đường hình thành biểu tượng lịch sử và phương pháp luận thiết kế thực nghiệm sư phạm.
- Cán bộ quản lý giáo dục và quản lý văn hóa địa phương: Sử dụng làm căn cứ khoa học để xây dựng các chương trình phối hợp liên ngành giữa ngành Giáo dục và ngành Văn hóa - Thể thao - Du lịch nhằm khai thác, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong nhà trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn những loại hình di sản văn hóa nào tại Thanh Hóa để đưa vào chương trình dạy học Lịch sử 10?
Luận án lựa chọn cả hai loại hình di sản văn hóa:
- Di sản văn hóa vật thể: Di chỉ khảo cổ học thời đồ đá (Núi Đọ, hang Con Moong); di tích lịch sử - kiến trúc (thành Nhà Hồ, khu di tích Lam Kinh, kinh đô Vạn Lại - Yên Trường); di vật, bảo vật cổ (trống đồng Đông Sơn); các văn bia, đền thờ danh nhân (đền thờ Bà Triệu, đền thờ Trạng Quỳnh, Bảng Môn Đình).
- Di sản văn hóa phi vật thể: Các lễ hội truyền thống (lễ hội Lam Kinh, lễ hội đền Bà Triệu); nghệ thuật trình diễn và ngữ văn dân gian (dân ca "Đi cấy" trong tổ khúc Múa đèn Đông Anh, hệ thống trò diễn Xuân Phả, Pôn Poông); các làng nghề thủ công truyền thống (đúc đồng Trà Đông, mộc Đạt Tài, chạm khắc đá làng Nhồi / An Hoạch).
2. Tác giả đề xuất bao nhiêu hình thức tổ chức dạy học sử dụng di sản văn hóa địa phương?
Luận án đề xuất 4 hình thức tổ chức dạy học cụ thể:
- Sử dụng tài liệu di sản văn hóa trong bài nội khóa trên lớp.
- Tổ chức dạy học bài lịch sử nội khóa tại di sản văn hóa (học tập tại thực địa).
- Sử dụng di sản văn hóa trong tổ chức dạy học bài lịch sử địa phương Thanh Hóa.
- Sử dụng di sản văn hóa trong hoạt động ngoại khóa.
3. Hệ thống biện pháp sư phạm trong luận án gồm những nội dung nào?
Luận án xây dựng 5 biện pháp sư phạm gắn liền với tiến trình dạy học:
- Sử dụng DSVH để nêu vấn đề - kích thích hứng thú, xác định động cơ học tập.
- Sử dụng DSVH để tạo biểu tượng lịch sử, hình thành kiến thức mới.
- Sử dụng DSVH để tổ chức đánh giá sự kiện lịch sử.
- Sử dụng DSVH trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
- Sử dụng DSVH để ra bài tập rèn luyện năng lực tự học và nghiên cứu cho học sinh.
4. Quá trình thực nghiệm sư phạm được triển khai trên những nội dung nào và đánh giá bằng công cụ gì?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên 3 nội dung: bài học nội khóa trên lớp, bài học nội khóa trực tiếp tại di sản và hoạt động ngoại khóa tại di sản ở các trường THPT đại diện cho 3 vùng miền của tỉnh Thanh Hóa. Kết quả được thu thập thông qua bài kiểm tra đánh giá, phiếu quan sát và được xử lý, so sánh định lượng giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng bằng phương pháp thống kê toán học.
5. Cơ sở pháp lý và văn bản chỉ đạo trực tiếp nào làm căn cứ triển khai đề tài?
Luận án căn cứ trên Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi 2009); Nghị định 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ; Công văn liên ngành số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013 về việc hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông; và các tài liệu hướng dẫn tập huấn dạy học theo định hướng phát triển năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 10/2013 và tháng 5/2014.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Sử dụng di sản văn hóa tại địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguyên thuỷ đến giữa thế kỷ XIX) ở trường THPT tỉnh Thanh Hóa" đã giải quyết một cách có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn vấn đề khai thác nguồn học liệu di sản văn hóa xứ Thanh vào dạy học môn Lịch sử lớp 10. Bằng việc phân tích sâu sắc các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước kết hợp với khảo sát thực tiễn tại 3 vùng miền của tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đề xuất hệ thống 4 hình thức và 5 biện pháp sư phạm đồng bộ. Kết quả thực nghiệm sư phạm đã khẳng định tính khả thi của các giải pháp, góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực và nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho học sinh phổ thông.