Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Võ Duy Nghĩa thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Minh, thuộc ngành Nhân học (mã số: 9 31 03 02).
Về tính cấp thiết, người Hoa định cư tại Việt Nam qua nhiều làn sóng di cư lịch sử. Khi đến vùng đất mới như đô thị thương cảng Hội An, việc thiết lập chỗ dựa tâm linh thông qua việc bảo lưu và thực hành các tín ngưỡng truyền thống là nhu cầu thiết yếu nhằm cố kết cộng đồng và thích ứng với môi trường sống mới. Trải qua tiến trình lịch sử và đặc biệt là từ sau mốc Đổi mới năm 1986 đến nay, bối cảnh kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa và sự phát triển du lịch tại Hội An đã tạo ra những tác động nhiều chiều đến đời sống văn hóa của cư dân. Trong khi đó, việc nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại địa bàn này vẫn còn những khoảng trống nhất định. Do đó, luận án được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nhận diện các hình thức sinh hoạt và giá trị tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; làm rõ sự giao thoa văn hóa Việt - Hoa biểu hiện qua tín ngưỡng, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng trong bối cảnh hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 3 nội dung:
- Khảo sát, tìm hiểu có hệ thống về những đặc điểm của tín ngưỡng người Hoa ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay thông qua: sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng và trong gia đình.
- Phân tích những giá trị, làm rõ thực trạng biến đổi, những vấn đề đặt ra của tín ngưỡng người Hoa ở Hội An trong bối cảnh giao lưu và hội nhập hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam trong điều kiện hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu là tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay, bao gồm: tín ngưỡng thờ thần, thờ cúng tổ tiên, thực hành nghi lễ, lễ hội dân gian ở phạm vi gia đình và cộng đồng.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Về nội dung: Hiện trạng tín ngưỡng, các giá trị cơ bản, sự biến đổi và những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng người Hoa tại Hội An ở cấp độ cộng đồng và gia đình (có kết hợp tín ngưỡng dòng họ).
- Về không gian: Địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (tập trung khảo sát sâu tại các phường trung tâm như phường Minh An).
- Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu là thời điểm hiện tại, lấy mốc thời gian từ năm 1986 đến năm 2021 để so sánh sự biến đổi, đồng thời kết hợp xem xét các tiến trình lịch sử liên quan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại nguồn tài liệu nghiên cứu liên quan đến người Hoa và tín ngưỡng người Hoa theo các nhóm công trình trong và ngoài nước:
Về các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
- Các nghiên cứu giai đoạn trước năm 1975 khảo sát về người Hoa tại Việt Nam gồm: J.de Kermadec (1955) với Cholon ville chinoise mô tả tang ma và kiêng kỵ của người Hoa Chợ Lớn; công trình của Bộ quân lực Hoa Kỳ (1966) Minority groups in the Republic of Viet Nam (chương 22 khảo sát dân số, chính sách và sinh hoạt kinh doanh của người Hoa); Fujiwara Ruchiro (1974) nghiên cứu chính sách đối với dân Trung Hoa di cư; Tsai Mau Kuay (1968) với Người Hoa ở miền Nam Việt Nam; Chen Ching Ho (1960) với Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích tại Hội An.
- Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Đông Á và Đại học Harvard (1971) Some aspects of the Chinese community in Việt Nam 1650-1850; Nguyễn Ngọc Kim Khôi (1994) phân tích định nghĩa về người Hoa tại Việt Nam giai đoạn 1975-1979; Đào Trinh Nhất (1924) trong Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ.
- Các công trình nghiên cứu về người Hoa khu vực Đông Nam Á: Zhuang Wubin (2011) về người Hoa Hồi giáo; Fock Siew Tong (2009) về kinh tế gia đình người Hoa; Leo Suryadinata (2007) về người gốc Hoa ở Đông Nam Á; Chee Kiong Tong (2010) với Identity and ethnic relation in Southeast Asia - Racializing Chineseness; Ramses Amer (1998) nghiên cứu các khuynh hướng và chính sách đối với người Hoa ở Việt Nam.
Về các công trình nghiên cứu ở trong nước:
- Nghiên cứu tổng quát về dân tộc Hoa: Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mạc Đường (1959); Mạc Đường (1987, 1994) với chuyên khảo Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 (tiềm năng và phát triển); Phan Xuân Biên, Phan An (1989); Ngô Văn Lệ và Nguyễn Duy Bính (2005) trong Người Hoa ở Nam Bộ; Nguyễn Võ Hinh khái quát về dân số, phong tục người Hoa; Vũ Lê (2004) về văn hóa người Hoa tại TP. Hồ Chí Minh; Ngô Thu Hường về văn hóa tín ngưỡng người Hoa ở Bắc Giang; Lê Thị Nhuấn và Nguyễn Thị Hà Giang nghiên cứu người Hoa ở Lâm Đồng; Nguyễn Văn Đăng khảo cứu cộng đồng người Hoa ở Quảng Ngãi.
- Nghiên cứu chuyên biệt về tín ngưỡng và giao lưu văn hóa: Châu Thị Hải (1998) nghiên cứu tiếp xúc văn hóa Việt - Hoa; Trần Hồng Liên (2005, 2011) nghiên cứu tín ngưỡng và tôn giáo của người Hoa Nam Bộ; Nguyễn Ngọc Thơ (2018) với chuyên khảo Người Hoa Người Minh Hương với văn hóa Hội An và các bài viết về tín ngưỡng Thiên Hậu ở Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; Vũ Văn Chung phân tích sự dung hợp Phật giáo và tín ngưỡng Thiên Hậu; Phạm Ngọc Hường (2021) nghiên cứu ảnh hưởng của Tam giáo trong tín ngưỡng Thiên Hậu; Nguyễn Xuân Hương (2009) khảo cứu tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng; Nguyễn Hữu Thông (2011) về tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung; Ngô Đức Thịnh (2001), Trần Ngọc Thêm (1999, 2001) về cơ sở văn hóa và tín ngưỡng dân gian.
- Các nghiên cứu trực tiếp tại địa bàn Hội An: Nguyễn Chí Trung (chủ biên, 2010) với công trình Cư dân Faifo - Hội An trong lịch sử; nhóm tác giả đề tài Nghiên cứu vai trò của xã Minh Hương ở thương cảng Hội An thế kỷ XVII - XIX (1999); Võ Thị Ánh Tuyết (2011) nghiên cứu hội quán người Hoa ở Hội An; Lê Thu Huyền (2019) với luận án tiến sĩ về đời sống tín ngưỡng của người Việt ở Hội An; Bùi Thị Thu Linh (2011) nghiên cứu giao thoa văn hóa tại Miếu Quan Công; Vũ Văn Hoàng và Nguyễn Thái Hòa (2017) khảo cứu tín ngưỡng thờ Môn thần; Vũ Hoài An (2017) nghiên cứu Hải thần tại Hội An; Nguyễn Văn Bằng khảo sát đối tượng thờ cúng trong hội quán; Trần Văn An (2005) về di sản văn nghệ dân gian Hội An; Lê Duy Anh (2009) về lễ hội văn hóa dân gian xứ Quảng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Mặc dù các công trình đi trước đã cung cấp nhiều tư liệu giá trị, nhưng đa số mới tiếp cận ở diện khái quát, khảo sát một khía cạnh kiến trúc, một cơ sở thờ tự hoặc một đối tượng thờ cúng riêng lẻ. Luận án định vị là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống từ góc độ Nhân học về các hình thức, thực hành tín ngưỡng của người Hoa ở Hội An trong cả hai không gian cộng đồng và gia đình, phân tích quá trình biến đổi từ năm 1986 đến năm 2021 nhằm đưa ra các giải pháp bảo tồn thực tiễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khái niệm:
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét tín ngưỡng như một hiện tượng xã hội vận động trong mối liên hệ với các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa địa phương; vận dụng lý luận Dân tộc học và Nhân học văn hóa - xã hội; quán triệt các quan điểm, nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị quyết Trung ương V khóa VIII, Văn kiện Đại hội XII và Đại hội XIII).
- Hệ thống khái niệm: Luận án phân tích khái niệm "Tín ngưỡng" qua các góc nhìn lý thuyết của E. Tylor (mối quan hệ giữa tín ngưỡng và thuyết vật linh nguyên thủy), Ngô Đức Thịnh (niềm tin vào cái thiêng), Nguyễn Đăng Duy, Trần Ngọc Thêm, Đào Duy Anh, Lý Tùng Hiếu, Đặng Nghiêm Vạn và các định nghĩa trong từ điển chuyên ngành.
Về phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa vùng: Đặt đối tượng nghiên cứu vào không gian lịch sử - văn hóa cụ thể của đô thị thương cảng Hội An để nhận diện sự tác động của môi trường sinh thái, lịch sử và xã hội đến đặc điểm tín ngưỡng tộc người.
- Phương pháp điền dã dân tộc học:
- Kỹ thuật quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp sinh sống tại địa bàn, tham dự các sinh hoạt tín ngưỡng thường nhật và các kỳ lễ hội tại các hội quán, miếu mạo và hộ gia đình để ghi nhận hành vi, tâm lý, không gian thờ cúng và trình tự nghi lễ.
- Kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Tiến hành phỏng vấn sâu các nhà quản lý, thủ từ, trưởng tộc, thành viên ban trị sự hội quán và các cá nhân người Hoa thuộc nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp tại phường Minh An (như đại diện Hội quán Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Quảng Đông, Minh Hương Tụy Tiên Đường, Chùa Ông...). Các cuộc thảo luận nhóm được tổ chức với quy mô từ 6 đến 7 người.
- Công cụ hỗ trợ: Sử dụng thiết bị ghi âm, máy ảnh để thu thập tài liệu thị giác và tư liệu âm thanh.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phát phiếu điều tra bảng hỏi theo phương pháp chọn mẫu khu vực điển hình với dung lượng mẫu gồm 120 đơn vị mẫu cá nhân người Hoa tại Hội An, đảm bảo cơ cấu về giới tính, độ tuổi, học vấn và nghề nghiệp.
- Phương pháp thống kê phân loại, so sánh đối chiếu: Xử lý các số liệu khảo sát, phân loại hệ thống đối tượng thờ tự, đồng thời so sánh đặc điểm tín ngưỡng người Hoa Hội An với người Hoa ở các địa phương khác như TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hà Nội, Lâm Đồng.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Kết hợp góc nhìn lịch đại (tiến trình hình thành cộng đồng và biến thiên lịch sử) và đồng đại (hiện trạng sinh hoạt tín ngưỡng trong bối cảnh đương đại).
- Phương pháp liên ngành và phân tích, tổng hợp: Kết hợp tri thức của Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học và Tôn giáo học; phân tích và tổng hợp nguồn tài liệu thứ cấp (chính sử, văn bia, tài liệu lưu trữ) và tư liệu sơ cấp (văn tế cổ truyền, bảng hỏi, phỏng vấn sâu).
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Nguồn tư liệu thành văn: Các văn bản lịch sử, sách Hán Nôm, văn tế cổ truyền (văn tế Tiền hiền - Hậu hiền, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Âm linh - Âm hồn, Ngũ tự gia đường, Thần Tài - Thổ Địa, Tổ tiên), các báo cáo thống kê dân số và quản lý di tích của UBND thành phố Hội An và phường Minh An.
- Nguồn tư liệu thực địa: Kết quả điều tra bảng hỏi 120 mẫu, biên bản phỏng vấn sâu các nhân chứng và hệ thống ảnh chụp tư liệu tại các cơ sở thờ tự từ năm 2016 đến năm 2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về người Hoa và tín ngưỡng người Hoa; xác lập khung lý thuyết, các khái niệm công cụ phục vụ việc triển khai đề tài. Bên cạnh đó, chương này trình bày bức tranh tổng quan về địa bàn thành phố Hội An và tiến trình nhập cư, phân bố dân cư của người Hoa.
Về mặt xã hội, cộng đồng người Hoa tại Hội An hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử gắn liền với thương cảng Faifo. Cơ cấu tổ chức cộng đồng người Hoa tại đây được định hình thông qua thiết chế 5 bang hội quán truyền thống tương ứng với các nhóm phương ngữ và địa bàn gốc: Phúc Kiến, Quảng Đông (Quảng Triệu), Triều Châu, Quỳnh Phủ (Hải Nam) và Gia Ứng, cùng với sự hiện diện đặc biệt của làng Minh Hương (Minh Hương Tụy Tiên Đường). Về mặt cư trú, người Hoa tập trung đông nhất tại các tuyến đường trung tâm thuộc phường Minh An (như đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi). Dân số người Hoa theo số liệu thống kê đến ngày 1/4/2019 được phân bổ trên các xã, phường của thành phố, tạo thành một cộng đồng cư dân gắn kết chặt chẽ về mặt kinh tế thương mại và văn hóa.
Chương 2: Các hình thức tín ngưỡng và thực hành tín ngưỡng của người Hoa ở Hội An hiện nay
Chương 2 tập trung miêu tả và phân tích hiện trạng các hình thức tín ngưỡng cùng các nghi lễ thực hành của người Hoa ở Hội An trên hai không gian:
- Thực hành tín ngưỡng trong cộng đồng:
- Thờ Tiền hiền, Hậu hiền: Được duy trì trang trọng tại Minh Hương Tụy Tiên Đường (số 14 Trần Phú) và Hội quán Hải Nam (số 10 Trần Phú), nhằm tưởng nhớ các bậc tiền nhân có công khai hoang, lập nghiệp và xây dựng cơ sở kinh tế thương mại tại Hội An. Nghi lễ cúng tế hàng năm sử dụng bài văn tế chữ Hán - Việt ca ngợi công đức tiền nhân mở lối kinh thương trên dòng sông Hoài.
- Thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu: Vị thần bảo trợ sông biển (Hải thần) được phụng thờ chính tại Hội quán Phúc Kiến (số 46 Trần Phú) và Hội quán Ngũ Bang / Dương Thương Hội quán (số 64 Trần Phú). Lễ vía Thiên Hậu diễn ra vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm.
- Thờ Môn thần: Tục thờ các vị thần giữ cửa như Tần Thúc Bảo, Uất Trì Kính Đức trên các cánh cửa hội quán (như Hội quán Triều Châu, Quảng Triệu) và tập quán dán tranh Môn thần trước cửa nhà riêng. Đi kèm với đó là tục gắn "mắt cửa" (với các đồ án hoa cúc, bát quái, mặt trời) mang ý nghĩa trừ tà, bảo hộ sự bình yên cho gia trạch.
- Thờ Quan Thánh Đế Quân (Quan Công): Phụng thờ tại Chùa Ông (Quan Công Miếu / Trừng Hán Cung - số 24 Trần Phú, được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa quốc gia năm 1991) và Hội quán Quảng Đông (số 176 Trần Phú). Lễ vía Quan Công tổ chức vào các dịp 13 tháng Giêng, 24 tháng 6 và chính kỵ 29 tháng 6 âm lịch.
- Thờ Bắc Đế Trấn Vũ (Huyền Thiên Đại Đế): Tôn thờ tại Chùa Cầu (Lai Viễn Kiều - di tích quốc gia công nhận năm 1990) với vai trò trấn áp thủy quái, chế ngự bão lũ, bảo vệ an toàn cho thương cảng.
- Thờ Âm linh, âm hồn: Diễn ra tại Miếu Âm Hồn (số 76/9 Trần Phú) để cúng tế các linh hồn không nơi nương tựa, các nạn nhân tử nạn trên sông biển, chiến sĩ trận vong qua các thời kỳ.
- Thờ Thần Phục Ba và Kim Hoa Nương Nương: Thần Phục Ba được phối thờ tại chánh điện Hội quán Triều Châu (số 157 Nguyễn Duy Hiệu); Kim Hoa Nương Nương (Ba bà Chúa sanh thai và 12 bà Mụ) thờ tại Chùa Bà Mụ và Tụy Tiên Đường nhằm cầu tự và bảo bọc trẻ nhỏ.
- Thực hành tín ngưỡng trong gia đình:
- Thờ cúng tổ tiên: Được duy trì nghiêm cẩn tại các tư gia và nhà thờ tộc họ (như Nhà thờ tộc Trần tại số 21 Lê Lợi, Nhà thờ cổ tộc Nguyễn Tường tại số 8/2 Nguyễn Thị Minh Khai, Nhà cổ Quân Thắng tại số 77 Trần Phú). Bàn thờ bố trí bài vị, di ảnh theo trật tự tôn ti thế thứ.
- Thờ Ngũ tự gia đường: Hệ thống 5 vị thần bảo hộ gia đình (Môn thần, Hộ thần, Tỉnh thần, Trù thần, Trung lưu thần) cùng khám thờ Thiên (Trời) ngoài ban công hoặc trước sân.
- Thờ Thần Tài, Thổ Địa và Táo Quân: Bố trí khám thờ Thần Tài - Thổ Địa đặt sát đất hướng ra cửa chính và khám thờ Táo Quân tại gian bếp nhằm cầu tài lộc, bình an trong kinh doanh.
Dữ liệu thực nghiệm qua điều tra xã hội học tại phường Minh An phản ánh các chỉ số định lượng về niềm tin và hành vi tín ngưỡng:
| Nội dung khảo sát |
Tiêu chí phân loại |
Tỷ lệ lựa chọn (%) |
| Ý nghĩa của tín ngưỡng cộng đồng |
Cầu cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống no đủ |
100,00% |
|
Tưởng nhớ vị tiền hiền có công khai lập |
100,00% |
|
Cố kết cộng đồng |
90,00% |
|
Tổ chức cho vui |
10,00% |
|
Ý kiến khác |
0,00% |
| Dịp thường đến viếng cơ sở thờ tự |
Ngày lễ, tết |
50,00% |
|
Ngày kỵ |
33,33% |
|
Ngày rằm |
10,00% |
|
Khi có việc |
6,67% |
| Lễ vật dâng cúng tại cơ sở thờ tự |
Hoa quả |
83,33% |
|
Xôi, chè |
50,00% |
|
Tiền |
33,33% |
|
Lễ vật khác |
6,67% |
|
Heo, bò |
3,33% |
|
Không có |
0,00% |
| Các hình thức tín ngưỡng trong gia đình |
Thờ cúng tổ tiên |
100,00% |
|
Thờ Ngũ Tự Gia Đường |
100,00% |
|
Thờ Táo Quân |
100,00% |
|
Thờ Thần Tài, Thổ Địa |
50,00% |
|
Tín ngưỡng khác |
10,00% |
Chương 3: Giá trị, xu hướng biến đổi và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng của người Hoa ở Hội An trong bối cảnh hiện nay
Chương 3 luận giải các giá trị bản chất, xu hướng biến đổi và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Các giá trị cơ bản của tín ngưỡng người Hoa:
- Giá trị thể hiện thế giới quan dân gian và giải tỏa tâm lý, tạo điểm tựa tinh thần vững chắc cho cộng đồng trong môi trường kinh doanh sông biển nhiều rủi ro.
- Giá trị cố kết cộng đồng cư trú và tộc người thông qua mạng lưới hội quán bang hội, dòng họ và làng xã Minh Hương.
- Giá trị giữ gìn lịch sử và biểu đạt bản sắc văn hóa tộc người qua kiến trúc, hoành phi, câu đối, bài vị và nghi thức tế lễ.
- Giá trị giáo dục truyền thống về đạo lý "uống nước nhớ nguồn", chữ tín, lòng trung nghĩa và sự hiếu kính.
- Xu hướng biến đổi và nguyên nhân:
- Xu hướng biến đổi: Có sự đan xen, giao thoa và tiếp biến sâu sắc với văn hóa Việt (như sự dung hợp thờ thêm Phật giáo tại gia, tụng kinh Phật khi gia đình có tang ma); sự thay đổi về quy mô tổ chức nghi lễ và đối tượng tham gia khi các hội quán mở cửa đón khách du lịch thập phương.
- Nguyên nhân biến đổi: Tác động của chính sách mở cửa, sự phát triển kinh tế thị trường và ngành du lịch dịch vụ tại đô thị di sản; quá trình đô thị hóa làm tăng giá trị bất động sản khu phố cổ dẫn đến tình trạng một bộ phận người Hoa bán nhà hoặc cho thuê mặt bằng rồi chuyển đi nơi khác sinh sống, gây gián đoạn không gian thực hành tín ngưỡng gia đình tại chỗ.
- Những vấn đề đặt ra và giải pháp bảo tồn, phát huy:
- Vấn đề đặt ra: Nguy cơ thương mại hóa nghi lễ; sự xuống cấp của di tích vật thể; tình trạng lấn chiếm không gian di tích (như trường hợp Miếu Âm Hồn bị dân cư lấn chiếm xây nhà hai bên); sự mai một ngôn ngữ và hiểu biết về Hán Nôm trong thế hệ trẻ.
- Hệ thống giải pháp đề xuất: Tăng cường quản lý nhà nước về di sản văn hóa và tôn giáo tín ngưỡng; phát huy vai trò tự quản của các Ban trị sự hội quán và tộc họ; đẩy mạnh công tác tu bổ, trùng tu các cơ sở thờ tự theo nguyên tắc bảo tồn di sản; gắn kết hoạt động tín ngưỡng, lễ hội dân gian (Lễ vía Quan Công, Lễ vía Thiên Hậu, Tết Nguyên Tiêu, Hội hoa đăng) với du lịch văn hóa bền vững nhưng kiểm soát hiện tượng tiêu cực; tuyên truyền giáo dục thế hệ trẻ người Hoa nâng cao ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên về tín ngưỡng của người Hoa ở Hội An dưới góc độ Nhân học văn hóa - xã hội.
- Luận giải rõ nét các đặc trưng, cấu trúc và chức năng của hệ thống tín ngưỡng người Hoa trong mối tương quan với bối cảnh kinh tế - xã hội vùng đô thị thương cảng miền Trung.
- Làm sáng tỏ quy luật giao thoa, hỗn dung và tiếp biến văn hóa giữa người Hoa và người Việt tại Hội An từ truyền thống đến hiện đại.
Về mặt thực tiễn:
- Xây dựng và hệ thống hóa nguồn tư liệu thực địa, dữ liệu khảo sát định lượng xã hội học và tập hợp hệ thống văn bản tế lễ Hán Nôm cổ truyền phục vụ công tác nghiên cứu, lưu trữ.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng cho các cơ quan quản lý nhà nước (UBND thành phố Hội An, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Nam) trong việc xây dựng và thực thi chính sách dân tộc, chính sách tín ngưỡng tôn giáo.
- Đề xuất các nhóm giải pháp khả thi nhằm dung hòa giữa việc bảo tồn không gian thiêng liêng của di tích tín ngưỡng với việc phát triển du lịch di sản tại đô thị cổ Hội An.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát chính tại địa bàn thành phố Hội An (trọng tâm là khu vực phố cổ phường Minh An) và chủ yếu xem xét hai cấp độ cộng đồng và gia đình/dòng họ, chưa thể bao quát toàn bộ các nhóm nghề nghiệp chuyên biệt phân tán ngoài khu vực trung tâm.
- Việc tiếp cận một số tư liệu gốc Hán Nôm cổ và tài liệu gia phả tư nhân gặp khó khăn do tính bảo lưu khép kín của một số gia đình người Hoa lâu đời.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh giữa tín ngưỡng người Hoa ở Hội An với tín ngưỡng người Hoa ở các trung tâm Nam Bộ (như Chợ Lớn - TP. Hồ Chí Minh, vùng Tây Nam Bộ) và các cộng đồng người Hoa tại các đô thị thương cảng cổ trong khu vực Đông Nam Á.
- Đi sâu đánh giá định lượng tác động dài hạn của thị trường bất động sản và các chuỗi kinh doanh du lịch đối với sự biến đổi cấu trúc cư trú và sự chuyển dịch không gian văn hóa tâm linh của người Hoa tại phố cổ Hội An.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Tôn giáo học và Lịch sử Việt Nam: Tài liệu cung cấp cơ sở lý thuyết, phương pháp điền dã dân tộc học và nguồn tư liệu thực địa chi tiết về văn hóa tộc người Hoa.
- Cán bộ quản lý di sản, cơ quan hoạch định chính sách dân tộc, tôn giáo và chính quyền địa phương (Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, Phòng Văn hóa Thông tin, UBND các cấp): Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng kế hoạch quản lý di tích, bảo tồn lễ hội truyền thống và giải quyết các xung đột giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch.
- Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu: Bảng số liệu khảo sát xã hội học 120 mẫu; hệ thống tư liệu hình ảnh và địa chỉ các hội quán, nhà thờ tộc cổ; bản phiên âm và dịch nghĩa hệ thống văn tế cổ truyền (văn tế Tiền hiền - Hậu hiền, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Âm linh, Ngũ tự gia đường, Thần Tài - Thổ Địa).
Câu hỏi thường gặp
1. Cộng đồng người Hoa tại Hội An duy trì những thiết chế hội quán và cơ sở thờ tự tiêu biểu nào?
Cộng đồng người Hoa tại Hội An hình thành và duy trì hệ thống hội quán tương ứng với các nhóm phương ngữ gồm: Hội quán Phước Kiến (chùa Phúc Kiến, số 46 Trần Phú), Hội quán Triều Châu (số 157 Nguyễn Duy Hiệu), Hội quán Quỳnh Phủ / Hải Nam (số 10 Trần Phú), Hội quán Quảng Triệu / Quảng Đông (số 176 Trần Phú), Dương Thương Hội quán / Hội quán Ngũ Bang (số 64 Trần Phú), cùng với Minh Hương Tụy Tiên Đường (số 14 Trần Phú) của người Minh Hương và Chùa Ông / Trừng Hán Cung (số 24 Trần Phú).
2. Tục thờ Môn thần và mắt cửa của người Hoa ở Hội An có hình thức biểu hiện như thế nào?
Tín ngưỡng thờ Môn thần thể hiện qua việc vẽ hoặc dán hình tượng hai vị thần giữ cửa Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức trên các cánh cửa hội quán và nhà ở dân gian. Bên cạnh đó, người Hoa tại Hội An còn gắn cặp "mắt cửa" phía trên khung cửa chính với nhiều đồ án chạm khắc như hình hoa cúc, hình bát quái, hình mặt trời nhằm mục đích trấn trạch trừ tà và mang lại bình an.
3. Tỷ lệ khảo sát thực tế về việc thực hành các tín ngưỡng trong gia đình người Hoa tại phường Minh An đạt kết quả ra sao?
Kết quả xử lý phiếu điều tra xã hội học ghi nhận: 100% hộ gia đình được hỏi duy trì Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; 100% thờ Ngũ Tự Gia Đường; 100% thờ Táo Quân; 50% thờ Thần Tài, Thổ Địa; và 10% theo các tín ngưỡng khác.
4. Biến đổi tín ngưỡng do tác động của kinh tế và đô thị hóa tại Hội An biểu hiện rõ nhất ở điểm nào?
Biến đổi thể hiện qua sự xuất hiện yếu tố Phật giáo kết hợp trong nghi lễ gia đình (như thờ Phật và tụng kinh khi có tang ma), sự mở rộng đối tượng tham gia lễ hội hội quán sang khách du lịch, và sự dịch chuyển cư trú khi giá bất động sản tăng cao khiến một số hộ người Hoa bán hoặc cho thuê nhà cổ rồi chuyển đi nơi khác, làm gián đoạn sinh hoạt tín ngưỡng tại gia ở khu phố cổ.
5. Vị thần nào được thờ tự tại Chùa Cầu và mang ý nghĩa tâm linh gì đối với cư dân địa phương?
Tại Chùa Cầu (Lai Viễn Kiều), đối tượng thờ cúng chính là Bắc Đế Trấn Vũ (Huyền Thiên Đại Đế). Theo quan niệm dân gian, vị thần này có quyền năng trấn áp các loài thủy quái, chế ngự bão lụt, bảo đảm sự an toàn và thuận hòa cho hoạt động giao thương bến bãi tại thương cảng Hội An.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Duy Nghĩa đã phác họa bức tranh toàn diện và hệ thống về đời sống tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại thành phố Hội An từ góc độ Nhân học văn hóa - xã hội. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học chuyên sâu với điều tra xã hội học và phân tích tư liệu Hán Nôm, công trình đã làm rõ các hình thức thờ tự trong cộng đồng, gia đình cũng như nhận diện sâu sắc các giá trị cố kết tộc người và tiếp biến văn hóa Việt - Hoa. Đồng thời, luận án chỉ rõ các xu hướng biến đổi trước áp lực đô thị hóa, du lịch hóa và đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn di sản văn hóa truyền thống gắn liền với định hướng phát triển bền vững của đô thị cổ Hội An.