Luận án tiến sĩ ma thuật trong đời sống văn hóa người Thái - Đỗ Thị Thu Hà

Luận án phân tích vai trò và ý nghĩa của các yếu tố ma thuật trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng và tập quán của cộng đồng người Thái tại tỉnh Sơn La, Việt Nam.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ Văn hóa học

2021

399
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận án tiến sĩ ma thuật trong đời sống văn hóa người Thái Sơn La

Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Thu Hà, công bố năm 2021 tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, nghiên cứu ma thuật trong đời sống văn hóa của người Thái tỉnh Sơn La. Đề tài thuộc ngành Văn hóa học, tiếp cận từ góc nhìn nhân học và văn hóa học. Nghiên cứu tập trung vào hệ thống vũ trụ quan tộc người, khái niệm phi và vai trò của thầy mo trong cộng đồng Thái. Sơn La là địa bàn cư trú lâu đời của người Thái Đen và Thái Trắng, hai ngành mang nhiều khác biệt văn hóa. Ma thuật không phải hiện tượng mê tín đơn giản. Ma thuật là hệ thống tri thức bản địa, phản ánh cách người Thái hiểu biết và tương tác với thế giới xung quanh. Luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc thiểu số Việt Nam.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu ma thuật trong đời sống văn hóa người Thái Sơn La mang tính cấp thiết cao. Quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa đang tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số. Nhiều thực hành ma thuật truyền thống dần mai một. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào tôn giáo tín ngưỡng nói chung, chưa có công trình chuyên sâu về hệ thống ma thuật Thái Sơn La. Luận án lấp đầy khoảng trống học thuật này. Đồng thời, nghiên cứu góp phần hiểu đúng bản chất văn hóa của các thực hành tâm linh trong cộng đồng dân tộc thiểu số, tránh đánh giá sai lệch từ góc nhìn bên ngoài.

1.2. Đối tượng và phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm hệ thống ma thuật, các thực hành bói toán, nghi lễ, và vai trò của thầy mo trong cộng đồng người Thái Sơn La. Phương pháp tiếp cận kết hợp nhân học văn hóa và văn hóa học. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu, quan sát tham gia. Người nghiên cứu trực tiếp sống cùng cộng đồng, ghi chép lại các thực hành ma thuật đang tồn tại. Phương pháp so sánh được áp dụng để làm rõ sự khác biệt giữa Thái Đen và Thái Trắng. Tài liệu lịch sử, văn bản cổ của người Thái cũng được phân tích bổ sung.

II. Phân tích hệ thống vũ trụ quan và khái niệm phi trong ma thuật Thái

Hệ thống vũ trụ quan tộc người là nền tảng lý giải sự hiện diện của ma thuật trong đời sống người Thái. Khái niệm phi đóng vai trò trung tâm trong hệ thống này. Phi không đơn thuần là thần linh hay ma quỷ theo cách hiểu phương Tây. Phi là các thực thể siêu nhiên có tầng bậc, dạng thức và đặc tính riêng biệt. Người Thái phân loại phi theo nhiều tiêu chí: phi trên trời, phi dưới đất, phi trong nhà, phi ngoài rừng. Mỗi loại phi có thuộc tính khác nhau, tác động đến con người theo những chiều khác nhau. Hiểu biết về phi giúp người Thái giải thích bệnh tật, thiên tai, bất hạnh trong cuộc sống. Thầy mo là người trung gian, có khả năng nhận biết và tương tác với phi. Nghiệp mo không phải ai cũng có được. Năng lực thiêng của thầy mo được kiến tạo từ quá trình học tập, trải nghiệm và các tài liệu phê chuẩn trong cộng đồng. Hệ thống phi phản ánh cách người Thái tổ chức nhận thức về thế giới tự nhiên và xã hội.

2.1. Kiến tạo về phi trong vũ trụ quan người Thái

Phi trong vũ trụ quan Thái được kiến tạo thành hệ thống phân tầng rõ ràng. Các tầng bậc phi tương ứng với các không gian khác nhau trong đời sống: phi bản, phi rừng, phi nước, phi trời. Mỗi tầng bậc có quyền lực và phạm vi ảnh hưởng riêng. Phi có dạng thức đa dạng, từ hình người đến hình thú, từ hữu hình đến vô hình. Đặc tính của phi bao gồm cả thiện và ác, có thể giúp đỡ hoặc gây hại cho con người. Thuộc tính của phi quyết định cách thức tương tác giữa người và phi. Người Thái xây dựng hệ thống luật tục, quy tắc ứng xử dựa trên nhận thức về phi. Các trật tự xã hội phản ánh trật tự vũ trụ trong quan niệm Thái.

2.2. Vai trò và năng lực của thầy mo trong tương tác với phi

Thầy mo là nhân vật không thể thiếu trong đời sống văn hóa Thái. Mo Thái có nhiều tiểu loại với tính năng khác nhau: mo chữa bệnh, mo cúng bản, mo bói toán, mo trừ tà. Nghiệp mo được truyền dạy qua nhiều thế hệ. Năng lực thiêng của thầy mo không tự nhiên có được. Thầy mo phải trải qua quá trình học tập nghiêm túc, nắm vững hệ thống bài cúng, câu thần chú. Thẩm quyền của thầy mo được kiến tạo từ sự công nhận của cộng đồng. Các tài liệu phê chuẩn, bao gồm văn bản viết và truyền miệng, là cơ sở để thầy mo thực hành. Thầy mo vừa là người giữ gìn tri thức truyền thống, vừa là cầu nối giữa thế giới con người và thế giới phi.

III. Các thực hành ma thuật Thái bói toán nghi lễ và tương tác với phi

Các thực hành ma thuật Thái thể hiện qua nhiều hình thức đa dạng. Bói toán là phương thức xác định bất thường, thăm dò ý muốn của phi. Người Thái sử dụng nhiều kỹ thuật bói: bói que, bói úp ngửa bằng thanh tre hoặc đồng xu. Kết quả bói giúp xác định nguyên nhân bệnh tật, hướng xử lý phù hợp. Nghi lễ là hình thức ma thuật phức tạp hơn, nhằm xử lý và chế ngự phi. Các nghi lễ tương tác với khuân, với các loại phi khác nhau tùy theo mục đích. Điểm nổi bật trong thực hành ma thuật Thái là tính tùy biến cao. Người thực hành linh hoạt điều chỉnh nghi lễ theo hoàn cảnh cụ thể. Phép analog Thái thể hiện rõ trong cách thức biến thế giới phù hợp với lời. Vật biểu tượng và hành vi biểu tượng đóng vai trò quan trọng trong mọi nghi lễ. Hệ thống vật dụng cúng tế, trang phục, âm nhạc đều mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Thực hành ma thuật không phải hành vi cố định mà luôn vận động, thích ứng với đời sống đương đại.

3.1. Bói toán và các phương thức tìm kiếm thông tin từ phi

Bói toán là bước đầu tiên trong quy trình tương tác với phi. Người Thái sử dụng bói que để xác định loại phi gây ra vấn đề. Bói úp ngửa bằng đồng xu hoặc thanh tre cho biết hướng giải quyết. Kết quả bói không phải quyết định cuối cùng mà là cơ sở để thầy mo lựa chọn nghi lễ phù hợp. Bói que phản ánh hệ thống tri thức bản địa về mối quan hệ giữa con người và thế giới siêu nhiên. Phương thức bói toán được truyền dạy trong cộng đồng, không chỉ dành riêng cho thầy mo. Nhiều gia đình Thái có khả năng bói đơn giản để xử lý các vấn đề hàng ngày. Bói toán thể hiện cách người Thái tìm kiếm ý nghĩa và giải thích cho những sự kiện bất thường trong cuộc sống.

3.2. Nghi lễ tương tác với phi và vai trò của vật biểu tượng

Nghi lễ tương tác với phi là thực hành ma thuật phức tạp nhất trong đời sống Thái. Các nghi lễ bao gồm cúng tế, trừ tà, chữa bệnh, cầu may. Mỗi nghi lễ có quy trình riêng, sử dụng hệ thống vật dụng đặc thù. Vật biểu tượng đóng vai trò trung gian giữa con người và phi. Gà, lợn, rượu, hoa quả là những vật cúng phổ biến. Trang phục của thầy mo cũng mang tính biểu tượng, thể hiện quyền năng tương tác với phi. Âm nhạc, lời cúng là yếu tố không thể thiếu. Phép analog Thái thể hiện rõ: lời nói có sức mạnh thay đổi thực tại. Thế giới được biến đổi phù hợp với lời cầu nguyện, lời nguyền rủa. Nghi lễ không chỉ là hành vi tâm linh mà còn là sự kiện văn hóa, gắn kết cộng đồng.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu ma thuật trong đời sống văn hóa Thái Sơn La

Nghiên cứu ma thuật trong đời sống văn hóa người Thái Sơn La mang lại nhiều phát hiện quan trọng. Ma thuật không phải hiện tượng mê tín cần loại bỏ mà là hệ thống tri thức bản địa có giá trị văn hóa sâu sắc. Hệ thống vũ trụ quan, khái niệm phi, vai trò thầy mo tạo thành mạng lưới văn hóa hoàn chỉnh. Các thực hành ma thuật phản ánh cách người Thái thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt giữa Thái Đen và Thái Trắng trong thực hành ma thuật. Sự đa dạng văn hóa này là sản phẩm của lịch sử di cư, cộng cư với các tộc người khác. Ứng dụng của nghiên cứu rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cần dựa trên hiểu biết khoa học về bản chất của các thực hành truyền thống. Giáo dục văn hóa trong cộng đồng dân tộc thiểu số cần tôn trọng hệ thống tri thức bản địa. Du lịch văn hóa có thể phát triển bền vững khi hiểu đúng giá trị của ma thuật Thái.

4.1. Đóng góp khoa học và ý nghĩa lý luận của luận án

Luận án đóng góp quan trọng cho ngành văn hóa học và nhân học Việt Nam. Nghiên cứu cung cấp tài liệu dân tộc học phong phú về hệ thống ma thuật Thái Sơn La. Cơ sở lý luận về ma thuật được bổ sung từ góc nhìn bản địa, không áp đặt khung lý thuyết phương Tây. Khái niệm phi được phân tích toàn diện, từ cấu trúc đến chức năng. Vai trò của thầy mo được xem xét trong bối cảnh xã hội cụ thể. Phương pháp tiếp cận kết hợp nhiều chiều kích văn hóa mở ra hướng nghiên cứu mới. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quý giá cho các công trình về văn hóa dân tộc thiểu số sau này.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và hướng ứng dụng bảo tồn văn hóa

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cần hiểu đúng bản chất các thực hành ma thuật. Không nên đánh giá ma thuật từ góc nhìn duy lý phương Tây mà cần đặt trong bối cảnh văn hóa Thái. Chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số cần tham khảo kết quả nghiên cứu khoa học. Giáo dục cộng đồng về giá trị văn hóa truyền thống giúp thế hệ trẻ trân trọng di sản của ông cha. Du lịch văn hóa có thể giới thiệu thực hành ma thuật Thái một cách tôn trọng và khoa học. Nghiên cứu cũng góp phần xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử với văn hóa dân tộc thiểu số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ ma thuật trong đời sống văn hóa của người thái ở tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghiên cứu này đƣợc bắt đầu từ bốn năm về trƣớc, tại Sơn La, nơi có số cƣ dân Thái đông nhất trong số 12 dân tộc sống trên địa bàn tỉnh1. Hôm ấy, sau khi dự lễ hội thƣờng niên tại một bản ngƣời Thái, tôi tìm đến nhà một bà mo, ngƣời đƣợc giới thiệu "chuyên chữa bệnh bằng bùa" và "rất cao tay". Một ngôi nhà hai tầng khang trang sát mặt đƣờng lớn của bản, phía sau là ngôi nhà sàn Thái truyền thống, tấm biển có hàng chữ "Dịch vụ du lịch cộng đồng" đặt ngoài cổng.

Trong sân, có tầm gần chục chiếc xe máy, ngƣời ngồi ngƣời đứng, chốc chốc lại có ngƣời chạy ra chạy vào gian thờ nơi bà mo ngồi làm việc. Bà mo ngồi trên chiếc nệm Thái, phía trên kê mấy chiếc bàn thấp đặt nhiều đồ lễ, chiếc đĩa có hai đồng bạc Đông Dƣơng và một đĩa đựng rất nhiều tờ tiền mệnh giá từ năm mƣơi ngàn đến năm trăm ngàn đồng. Sát tƣờng trƣớc mặt bà là một dãy tủ, bên trên đặt các pho tƣợng nhỏ, lần lƣợt từ trái sang gồm tƣợng Phật Bà Quan Âm, Thái Thƣợng Lão Quân, cô Chín Thƣợng Ngàn, Đức Mẹ Maria và Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi đặt lễ và xin phép, tôi đƣợc bà mo cho ngồi bên cạnh, có thể quay phim, chụp ảnh và hỏi han về những gì diễn ra trong điện của bà.

Lúc đó, bà mo đang chuẩn bị lăn trứng cho một cô gái có nƣớc da xanh tái. Cầm quả trứng trong tay, bà hà hơi, lẩm nhẩm vài câu không rõ rồi bắt đầu lăn trứng từ trên vai xuống đến hông cô, lần lƣợt từ trái sang phải. Lăn xong, đập trứng ra bát, bà cầm chiếc đèn pin bật soi và quan sát một lúc. Lấy miếng lá chuối lật mặt sau lòng đỏ trứng lên, bà soi thêm, chỉ cho tôi xem một lỗ thủng nhỏ trên lòng đỏ quả trứng gà rồi nói "thế này là bị ngƣời ta làm bùa hại rồi".

Quay sang tôi, bà giải thích về cách bà 'làm phép' để chữa cho những ngƣời bị hại kiểu này, dùng trứng để lấy ra những thứ bị bùa khiến họ đau đớn trong cơ thể. Khi bà nói, một ngƣời khách tầm hơn 40 tuổi xen ngang, kể thêm về câu chuyện của chị, về lần chị đƣợc bà mo giúp tháo bùa ghét do vợ cũ của chồng làm, lấy ra trong bát trứng cả mấy con màu trắng, thứ mà chị cho là khiến mình đau đến không mở nổi mắt. Trong cuộc trò chuyện, bà mo vừa nhẹ nhàng giải thích về các thao tác và nghi lễ mà bà phải thực hiện với từng trƣờng hợp khách hàng, vừa kể thêm về một số cách bà vẫn thƣờng làm để chữa cho mọi ngƣời. Những đứa trẻ hay ốm, hay khóc đêm, nhẹ thì chỉ cần bố mẹ mang áo đến nhờ bà cúng trong điện thờ, nặng thì làm lễ 1 Theo cuộc điều tra dân số ngày 1/4/2019, tỉnh Sơn La có 1.416 ngƣời, trong đó ngƣời Thái chiếm 55%.

12 dân tộc sống trên địa bàn tỉnh gồm: Thái, Kinh, H'mông, Mƣờng, Dao, Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, La Ha, Lào, Tày và Hoa (nguồn: sonla. 1 tầm một tiếng cho hồn vía cứng cáp lên là sẽ khỏe khoắn bình thƣờng trở lại. Có nhà lấy nhau mãi không sinh con, đi bệnh viện các nơi không đậu, xuống bà cúng, làm bùa rồi cho gói thuốc nam, hai tháng sau báo tin đã có thai. Ngƣời đi học đi làm xa dƣới Hà Nội, Bắc Ninh, đi lao động xuất khẩu bên Hàn, Nhật về, đau ốm hay khó lấy vợ lấy chồng cũng đến nhờ bà làm lễ cúng để gọi hồn vía về cho đủ, vì hồn vía đầy đủ khỏe khoắn thì làm gì cũng nên.

Cán bộ làm việc trong chính quyền xã, huyện cũng có nhiều ngƣời tìm đến bà để nhờ xem và tƣ vấn mỗi khi định chuyển việc, lên chức hay vào các đợt bầu cử. Ngƣời buôn bán đất đai gặp mảnh khó bán đến nhờ bà cúng cho, chỉ mấy hôm là 'đẩy đi' xong mảnh đất1. Ngƣời Kinh ngoài thị trấn, dƣới xuôi lên kinh doanh du lịch tại bản, khi có biến cố cũng tìm đến bà, nhờ bà cúng xin thần đất thần cây phù trợ cho công việc làm ăn đƣợc thuận lợi. Suốt bốn tiếng đồng hồ ngồi tại điện thờ của bà mo, chứng kiến cách bà xem xét và giải quyết từng vấn đề của gần chục cá nhân, quan sát những ngƣời tìm đến xin lời khuyên hay nhờ bà chữa bệnh, tôi bất chợt nhớ đến những thông tin đã từng đọc đƣợc trên sách báo về những tục lệ đƣợc xem là 'lạc hậu', 'mê tín', 'lừa bịp', 'cần vận động để từ bỏ'.

Nhiều những bài báo viết về các 'vấn nạn tâm linh', với lời kêu gọi sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nƣớc để xiết chặt các hình thức chữa bệnh "bằng các phép thuật thƣờng gặp nhiều ở các vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số", với "những dụng cụ thô sơ và phƣơng pháp nhuốm màu mê tín dị đoan"2, "lừa đảo"3, "lợi dụng niềm tin tôn giáo tín ngƣỡng để lừa gạt ngƣời bệnh", "những thầy mo, thầy cúng hành nghề chữa bệnh mà không hề đƣợc trang bị một kiến thức khoa học, không có một phƣơng tiện hiện đại nào"4. Không ít các nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo tín ngƣỡng, cả của ngƣời Việt và của các cộng đồng dân tộc ít ngƣời, cũng có một cái nhìn tƣơng tự về các hình thức ma thuật kiểu này khi coi đó là các tập tục 'nhảm nhí', 'lạc hậu', là 'tàn dƣ của thời nguyên thủy'5. Trong Văn kiện Đảng Toàn tập (tập 36), một sự phân biệt giữa "mê tín dị đoan" với "tự do tín ngƣỡng" đƣợc đề cập tới, kèm với quy định "Pháp luật Nhà nƣớc bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, nhƣng nghiêm cấm việc xem số, xem tƣớng, gọi hồn, lên đồng, xóc thẻ, vẽ bùa, cúng ma, đội bát nhang, mua bán vàng mã, dùng phù phép để chữa bệnh,…" [67, tr. Trên thực tế, đã có một thời kì dài, từ những năm 1960s đến 1 Cách nói với hàm ý đã bán lại đƣợc mảnh đất với mức giá mà ngƣời bán cho là phù hợp.

2 Bài báo có tên "Thực hƣ lang vƣờn chữa bệnh nhƣ 'phù thủy' ở Sơn La" [406]. 3 Bài báo với tiêu đề "Nữ thầy mo trị bách bệnh bằng 'độc chiêu' rút đinh từ cơ thể" [401]. 4 Bài báo "Trò ảo thuật của thầy mo Tây Nguyên" [407]. 5 Xem thêm Phan Kế Bính [17], Đào Duy Anh [4], Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn [165], Phan Hữu Dật [45,46] và một số tác giả khác.

2 cuối 1980s, các hoạt động tín ngƣỡng bị hạn chế, bị ngăn cấm, với việc các cơ quan quản lý văn hóa vận động các thầy cúng ngƣng hành nghề, nộp lại các loại sách cúng bái và hiện vật thiêng. Và trong thời kì này, các hành vi đƣợc xác định là "mê tín dị đoan" nhƣ đã đƣợc nêu trong Văn kiện Đảng luôn đƣợc chú ý giám sát chặt chẽ. Những gì tôi chứng kiến không mấy khác biệt so với các hành vi đƣợc miêu tả trong các bài báo, cuốn sách hay trong văn bản pháp quy của nhà nƣớc, nhƣng điều khiến tôi bất ngờ nhất là, trong cuộc chuyện trò, bà mo nói rằng, bà làm các phép này là "theo tục lệ truyền thống", trên báo trên ti vi ngƣời ta vẫn bảo nhƣ thế là "mê tín dị đoan" nhƣng có những bệnh mà nếu không đến nhờ bà làm phép thì chỉ có chết, đi bệnh viện tỉnh hay dƣới Hà Nội rồi cũng bị trả về, không bác sỹ nào chữa đƣợc. Khách của bà mo ngồi đó còn bổ sung rằng, các gia đình ở đây năm nào cũng mong làm ruộng làm nƣơng đƣợc mùa, kinh doanh thuận lợi để có thể mời thầy mo đến làm lễ cúng cho cả nhà, "làm cúng đƣợc hàng năm thì tốt lắm, không ốm, cúng cũng tốt, cứ có điều kiện là làm".

Cuộc nói chuyện và những gì chứng kiến khiến dấy lên trong tôi nhiều câu hỏi. Điều gì ẩn chứa đằng sau sự khác biệt trong quan niệm của những ngƣời dân tại đây với quan điểm chính thống của nhà nƣớc, của các nhà khoa học, của truyền thông về những điều đƣợc xem là "mê tín" trong thực hành tôn giáo, tín ngƣỡng? Lý do vì sao, các hành vi ma thuật vốn luôn đƣợc dán nhãn "dị đoan", "hủ tục", "cần loại bỏ" lại đƣợc bà mo và các khách hàng của bà xem là tục lệ truyền thống, cần phải làm, thậm chí trong nhiều trƣờng hợp, lại là điều họ mong muốn làm, và là giải pháp đƣợc họ tìm đến đầu tiên và duy nhất nhằm xử lý cho một vấn đề nào đó của đời sống? Thêm vào đó, những gì tôi thấy trong không gian thiêng của bà mo Thái này là không hề dị biệt, bởi ngay tại ngôi làng nơi tôi sinh ra hay tại thành phố nơi tôi đang sống, những hình thức cúng bái, lên đồng nhập hồn, làm phép trừ tà ma hay treo bùa trấn trạch, cầu bình an,… cũng rất phổ biến. Nhƣ thế, những hành vi ma thuật, thứ vốn luôn đƣợc xem là thô phác, lạc hậu, luôn bị đặt trong sự đối lập với khoa học, văn minh, đƣợc dự đoán sẽ biến mất khi xã hội phát triển có thực sự lạc hậu hay không, khi đến những năm đầu thế kỉ 21 này, chúng vẫn không có dấu hiệu tiêu vong mà thậm chí trái lại, còn thêm sôi động với nhiều dạng thức mới? Ranh giới nào cho sự định giá khi cùng một hành vi, lúc có thể đƣợc xem là mê tín, lạc hậu, khi lại đƣợc coi là truyền thống và bản sắc cần phải gìn giữ? Và nhƣ vậy, sự hiện diện của các thực hành ma thuật cho thấy các lớp nghĩa chức năng nào, đáp ứng các nhu cầu gì trong đời sống văn hóa đƣơng đại của con ngƣời? 3 Để có thể trả lời các câu hỏi này, tôi tin rằng cần có một cách tiếp cận khác về những thực hành thuộc phạm trù ma thuật, thứ vốn gần nhƣ chƣa thoát khỏi nhiều định kiến sẵn có trong các nghiên cứu ở Việt Nam. Trong nhân học, ma thuật, "nghi lễ đƣợc thúc đẩy bởi mong muốn đạt đƣợc một kết quả đặc thù, đƣợc xem nhƣ những nỗ lực thao túng các lực lƣợng siêu nhiên, tâm linh hoặc thần thánh thông qua các phƣơng tiện đƣợc nghi lễ hóa" [372, tr.175], vốn là một chủ đề có tính kinh điển, xuất hiện trong hầu khắp các nghiên cứu quan trọng của ngành.

Ma thuật và những tranh luận về ma thuật gắn liền với công trình và tên tuổi của một danh sách dài các nhà nhân học nhƣ Edward Tylor, James Frazer, Marcel Mauss, Emily Durkheim, Sigmund Freud, Radcliffe-Brown, Bronislaw Malinowski, Ruth Benedict, Evans-Pritchard, Stanley Tambiah, Robin Horton cùng nhiều nhà nghiên cứu khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ