phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương -Chƣơng 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài. -Chƣơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong diễn xướng chầu văn -Chƣơng 3:Đặc điểm văn hóa của ca từ trong diễn xướng chầu văn. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.Những vấn đề lý thuyết liên quan đến ca từ 1.Khái niệm từ Lịch sử nghiên cứu từ tiếng Việt là một quá trình liên tục, phản ánh cố gắng của nhiều thế hệ nhà nghiên cứu trong và ngoài nước và các nghiên cứu đều thống nhất rằng: từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, là đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản. Xét ở nhiều khía cạnh, từ là đơn vị cơ bản, là đơn vị trung tâm trong toàn bộ hệ thống các đơn vị của ngôn ngữ, song việc xác định quan niệm về từ, phân giới từ, phân loại từ không phải lúc nào cũng thuận lợi.
Vấn đề quan niệm về từ của tiếng Việt, nhìn chung có hai khuynh hướng: *Coi từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) Các tác giả có quan điểm coi từ tiếng Việt trùng âm tiết có thể kể đến là M.Aubarey, Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim.Nguyễn Thiện Giáp cũng coi mỗi tiếng là một từ. Còn những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với tiếng mà thành được tác giả gọi chung là ngữ, gồm ngữ định danh, ngữ láy âm, thành ngữ và quán ngữ. “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền [17,tr.22] *Coi từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết. Đây là quan niệm của nhiều tác giả, ví dụ như: - Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: “Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra đƣợc” [8, tr.18] Ví dụ: bàn, ghế, gia đình, thợ thuyền.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (nhƣ quan hệ về số, về giống.) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”.29] Cùng quan niệm như Đỗ Hữu Châu, là quan niệm của các tác giả như: Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Đái Xuân Ninh, Hồ Lê. Những điều trình bày trên đây, phần nào đó đã nói lên được tính phức tạp của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất: Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh nhưng trong dãy ngữ đoạn từ còn mang cả chức năng phân biệt nghĩa, làm bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩa khác của những từ nhiều nghĩa. Từ vốn có hai loại năng lực: 1.
Năng lực gọi tên, biểu thị các sự vật, hiện tượng.trong phạm vi định danh; 2. Năng lực tham gia vào các mối liên hệ từ vựng trong ngữ đoạn. 1] Về nghĩa của từ, ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ học cũng có rất nhiều kiến giải khác nhau về nghĩa của từ tùy theo mục đích và phương pháp luận của việc nghiên cứu. Chẳng hạn tác giải Nguyễn Văn Tu chỉ ra rằng: “nghĩa của từ vựng đƣợc quy định bằng những yếu tố tác động lần nhau nhƣ: (1) thuộc tính đối tƣợng.
(2) khái niệm về đối tƣợng. (3) hệ thống ngôn ngữ giúp cho việc diễn đạt”. 24] Còn trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, (1985) Nguyễn Thiện Giáp đã tổng hợp khá kĩ các quan niệm về nghĩa. Tác giả thấy “nổi lên hai khuynh hƣớng: (1) cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tƣợng, khái niệm, sự phản ánh.) (2) cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ đối với đối tƣợng hoặc quan hệ của từ với khái niệm)”.
Tác giả nhận thấy rằng, “nghĩa của từ là một đối tƣợng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn” như sau: nghĩa sở chỉ, nghĩa kết cấu, nghĩa sở dụng, nghĩa sở biểu. Trong công trình “Từ ngữ tiếng Việt trên đƣờng hiểu biết và khám phá”, Hoàng Văn Hành có đề cập đến cách tiếp cận hệ thống từ vựng ở góc độ ngữ nghĩa học. Tác giả chấp nhận theo cách hiểu nghĩa của từ là “phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức và áp dụng phƣơng pháp phân tích thành tố để xác định cấu trúc nghĩa từ vựng của từ. Đỗ Hữu Châu trong tác phẩm “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” thừa nhận “nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phƣơng diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ” ([ dẫn theo 40, tr.
85]) Còn Lê Quang Thiêm cho rằng: “ Nghĩa của một thực thể tinh thần trừu tƣợng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong văn bản, diễn ngôn. Nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình thức tồn tại của tín hiệu nên ngữ nghĩa học và nghĩa của tín hiệu phải đƣợc xem xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu đặc biệt là ở dạng cụ thể trừu tƣợng của các hình thức thể hiện tín hiệu. Nghĩa là một thực thể tinh thần do con ngƣời và bởi con ngƣời cấu tạo, sử dụng ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải đƣợc xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa. Nghĩa là nội dung xác định hình thành nhờ chức năng song không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là một loại chức năng thể hiện qua văn cảnh.
Trong phạm vi nghĩa từ vựng là các loại chức năng từ vựng ngữ pháp. Trong phạm vi ngữ pháp, ngữ dụng cũng là khái quát loại chức năng ngữ pháp và ngữ dụng. Nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học ngữ pháp, ngữ nghĩa học ngữ dụng” [40, tr.86] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy có thể thấy các quan niệm về nghĩa của Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Mỗi tác giả có cách nhìn nhận khác nhau về nghĩa của từ tùy theo mục đích và phương pháp nghiên cứu riêng của mình.
Có thể nói quan điểm của tác giả Lê Quang Thiêm tuy mới nhưng rất thú vị và hấp dẫn. Nó cho phép đi sâu hơn vào giải quyết nghĩa của từ và hạn chế những nhược điểm của các cách phân chia khác. *Phương thức chuyển nghĩa của từ Nghĩa của từ phản ánh những đặc trưng chung, khái quát của sự vật, hiện tượng do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn tự nhiên và xã hội. Khi đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của từ được cụ thể hóa, hiện thực hóa và được xác định.
Lúc đó các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm tính chất trừu tượng và khái quát đến mức tối thiểu để đạt tới tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa. Cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểu tính khái quát thì từ lại có thể gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại. Trong giao tiếp, nhiều khi nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời, nghĩa được hiểu ngầm, hiểu lại.nhờ các biện pháp tu từ, mới chính là cái quan trọng hàng đầu; nhất là trong khi xây dựng, tiếp nhận và phân tích các diễn từ, các văn bản nghệ thuật. Vì thế khi xây dựng, phát triển nghĩa chuyển (nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời, nghĩa được hiểu ngầm, hiểu lại.) theo các phương thức chuyển nghĩa, từ sẽ mở rộng hoặc chuyên biệt những năng lực hoạt động, năng lực biểu hiện của mình.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ của con người, của các tác giả văn bản cũng thể hiện rất rõ ở việc sử dụng từ ngữ, sáng tạo nghĩa của từ ngữ như vậy. Có hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến, đó là phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Phương thức cấu tạo từ -Từ đơn: Là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Ví dụ: nhà, xe, tập xanh, đỏ, tím.
+Xét về mặt lịch sử: hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga. +Xét về mặt ý nghĩa: từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm. +Xét về mặt số lượng: tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy nhưng là những từ cơ bản nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt.
-Từ ghép: Là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau: *Từ ghép đẳng lập: Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng là: + Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng, không có thành tố nào là chính hay thành tố nào là phụ. Ví dụ: quốc gia, nhà cửa, học hành. + Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: các thành tố đồng nghĩa nhau, các thành tố gần nghĩa nhau, hoặc các thành tố trái nghĩa nhau + Xét về mặt nội dung, nói chung từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp.
Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.