Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của nghiên cứu sinh Phạm Thanh Hằng, chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số 62.01), được bảo vệ năm 2010 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Đức Dân và PGS. Chu Xuân Diên. Công trình mang tên "Đối chiếu cấu trúc – ngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán hiện đại và tục ngữ tiếng Việt", tập trung giải quyết các vấn đề ngôn ngữ học liên quan đến cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa biểu trưng của tục ngữ trong hai ngôn ngữ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tục ngữ là một bộ phận cấu thành của hệ thống ngôn ngữ, kết tinh trí tuệ, kinh nghiệm sản xuất và đời sống xã hội qua nhiều thế hệ của nhân dân. Vị trí địa lý và lịch sử giao lưu văn hóa lâu đời giữa hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc đã tạo nên sự ảnh hưởng, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển tục ngữ.

Trong giới ngôn ngữ học hai nước, số lượng từ điển và chuyên khảo về tục ngữ xuất hiện ngày càng nhiều. Ở Trung Quốc có các công trình tiêu biểu như Hán ngữ tục ngữ đại từ điển (Ôn Đoan Chính chủ biên), Tục ngữ từ điển (Từ Tông Tài, Ứng Tuấn Linh). Ở Việt Nam có Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan), Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri), Từ điển thành ngữ – tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân), Từ điển thành ngữ – tục ngữ – ca dao Việt Nam (Việt Chương). Tuy nhiên, các công trình chuyên sâu đối chiếu tục ngữ Hán – Việt còn rất khiêm tốn. Đa số các tài liệu đối chiếu chỉ xuất hiện dưới dạng phần giới thiệu trong một số từ điển (Lê Khánh Trường và Lê Việt Anh; Nguyễn Bích Hằng và Trần Thanh Liêm) và chủ yếu dừng lại ở việc dịch nghĩa, chưa đi sâu phân tích cấu trúc cú pháp hay đặc điểm ngữ nghĩa. Một số luận án trước đó như của Nguyễn Quí Thành (2001) có so sánh tục ngữ Việt với tục ngữ của một số dân tộc khác (bao gồm tiếng Hán) nhưng chỉ dừng ở mức độ minh họa. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu chuyên sâu về cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt là khoảng trống khoa học cần được giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định các nét tương đồng và dị biệt về phương diện ngôn ngữ học giữa tục ngữ tiếng Hán hiện đại và tục ngữ tiếng Việt. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. (i) Khảo sát cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt trên cơ sở cấu trúc cú pháp của tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt, trong đó nhấn mạnh đến một số cấu trúc cú pháp đặc thù của tục ngữ.
  2. (ii) Đối chiếu cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt để tìm những nét tương đồng, dị biệt.
  3. (iii) Khảo sát ngữ nghĩa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ tiếng Việt trên cơ sở nghĩa biểu trưng của tục ngữ, trọng tâm đặt vào các kiểu nghĩa biểu trưng.
  4. (iv) Đối chiếu ngữ nghĩa giữa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt để tìm những nét tương đồng, dị biệt thông qua nghĩa biểu trưng, từ đó làm rõ bức tranh văn hóa của hai dân tộc thể hiện qua tục ngữ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương diện ngôn ngữ của tục ngữ, bao gồm cấu trúc cú pháp (quan hệ Chủ – Vị, câu đơn, câu ghép, các cấu trúc đặc thù như điệp, đối, vần) và các mô hình ngữ nghĩa, nghĩa biểu trưng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát ngữ liệu tục ngữ tiếng Hán hiện đại và tục ngữ tiếng Việt hiện đại được lưu trữ trong các từ điển và tổng tập chuyên khảo xuất bản chính thức.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng kết lịch sử nghiên cứu tục ngữ tại Trung Quốc và Việt Nam theo các giai đoạn và các khuynh hướng học thuật chính.

Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Trung Quốc

  • Lịch sử hình thành thuật ngữ và sưu tầm: Từ "tục ngữ" xuất hiện sớm nhất trong Sử ký của Tư Mã Thiên với tư cách là từ thông thường chỉ cách nói dân gian. Đến tác phẩm Thuyết uyển của Lưu Hướng, từ này bắt đầu mang tính thuật ngữ chỉ ngữ cố định. Thời Tiên Tần và thời Hán, tục ngữ và ngạn ngữ cùng chung một khái niệm (còn gọi là "tục ngạn"). Đến thế kỷ XVIII, hoạt động sưu tầm phát triển qua các sách như Thông tục biên, Hằng ngôn lục, Cổ dao ngạn, Thường ngữ lục nguyên, song các công trình giai đoạn này mang tính chất mông lung, chưa có hệ thống lý luận rõ ràng.
  • Giai đoạn sau năm 1949: Nhiều chuyên khảo lý luận xuất hiện như Ngạn ngữ (Ôn Đoan Chính), Tục ngữ (Mã Quốc Phàm, Mã Thúc Tuấn), Trung Hoa ngạn dao nghiên cứu (Vũ Chiêm Khôn), Tục ngữ (Từ Tông Tài).
  • Các hướng tiếp cận chính:
    • Góc độ cấu trúc cú pháp: Mã Quốc Phàm, Mã Thúc Tuấn và Vũ Chiêm Khôn phân tích tục ngữ theo ngữ pháp truyền thống tiếng Hán, xem tục ngữ tương đương đơn vị câu (gồm câu đơn, câu ghép và cấu trúc đặc thù).
    • Góc độ ngữ nghĩa: Ôn Đoan Chính phân biệt nghĩa mặt chữ (tự diện ý nghĩa) và nghĩa thực tế (thực tế ý nghĩa), chia thành 3 nhóm quan hệ: (1) nghĩa mặt chữ trùng nghĩa thực tế; (2) nghĩa thực tế không phụ thuộc nghĩa mặt chữ; (3) có hai nghĩa thực tế (nghĩa đen và nghĩa phái sinh). Tác giả Ôn cũng chỉ ra tính đơn nghĩa và đa nghĩa (thiển tầng nghĩa - nghĩa bề mặt, và thâm tầng nghĩa - nghĩa bề sâu). Từ Tông Tài bổ sung khái niệm tính thiên nghĩa (thiên nghĩa) gồm bộ phận chính biểu đạt ý nghĩa cốt lõi và bộ phận phụ dùng để so sánh, làm rõ nghĩa.

Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam

  • Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: Xuất hiện các tài liệu sưu tầm, biên soạn chữ quốc ngữ như Tục ngữ cổ ngữ gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1896), Nam ngạn chích cẩm của Phạm Quang Sán (1918), Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn thư của Nguyễn Văn Lễ (1931), cùng các ghi chép trong Nam âm sự loại.
  • Giai đoạn sau năm 1975: Nghiên cứu lý luận phát triển mạnh với công trình của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (Tục ngữ Việt Nam); Nguyễn Thái Hòa (Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc & thi pháp); Phan Thị Đào (Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam).
  • Bốn khuynh hướng tiếp cận chính trong Việt ngữ học:
    1. Tiếp cận cú pháp theo ngữ pháp chức năng: Cao Xuân Hạo (Ngữ pháp chức năng tiếng Việt) khởi xướng mô hình Đề – Thuyết (gồm câu một bậc và câu nhiều bậc, dùng các tác tử phân giới thì, là, mà). Nguyễn Đức Dương (Tìm về bản sắc tiếng Việt) áp dụng biểu đồ hình cây để phân tích cú pháp tục ngữ. Hoàng Diệu Minh (So sánh cấu trúc – chức năng của thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt) dùng mô hình Đề – Thuyết kết hợp tác tử phân giới để phân loại câu đơn, câu ghép.
    2. Tiếp cận cú pháp từ góc độ cấu trúc lôgích – ngữ nghĩa: Nguyễn Đức Dân xem cấu trúc lôgích là bất biến ngữ nghĩa của các biến thể ngôn ngữ. Nguyễn Quí Thành (Cấu trúc cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân tộc khác, 2001) xác lập 3 cặp mệnh đề ngữ nghĩa khái quát và thiết lập 116 mô hình ngữ nghĩa – cú pháp của tục ngữ Việt.
    3. Tiếp cận cú pháp từ các kiểu khuôn hình tục ngữ: Nguyễn Thái Hòa phân tích dựa trên vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi và chia thành 3 kiểu câu khuôn hình cơ bản: câu có quan hệ hạn định trực tiếp, câu so sánh, câu phối thuộc, đồng thời vẫn gắn kết với cấu trúc Chủ – Vị truyền thống.
    4. Tiếp cận từ góc độ ngữ nghĩa học: Chu Xuân Diên xác định tục ngữ có tính hai tầng nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng). Hoàng Văn Hành phân biệt tầng nghĩa cơ sở và tầng nghĩa liên hội. Trần Mạnh Thường, Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhị nhấn mạnh tính đa nghĩa và cơ chế tạo nghĩa liên tục trong ngữ cảnh giao tiếp (phần "ý tại ngôn ngoại"). Ngược lại, Nguyễn Xuân Đức cho rằng trong mỗi lần phát ngôn cụ thể, tục ngữ chỉ mang một nghĩa duy nhất gắn liền với môi trường ứng dụng. Nguyễn Văn Nở (Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam) đi sâu khảo sát hệ thống tín hiệu và chất liệu tạo nghĩa biểu trưng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước nhưng lựa chọn hướng đi riêng: thay vì phân tích cú pháp theo mô hình Đề – Thuyết hay cấu trúc lôgích thuần túy, luận án tiếp cận cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán và Việt từ quan điểm ngữ pháp truyền thống (cấu trúc Chủ – Vị), kết hợp khảo sát các cấu trúc đặc thù (điệp, đối, vần). Đồng thời, luận án giải quyết khoảng trống so sánh đối chiếu hệ thống ngữ nghĩa biểu trưng qua 4 trường từ vựng và làm rõ nhóm 267 câu tục ngữ âm Hán – Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Quan niệm về tục ngữ: Luận án điểm lại các quan điểm quốc tế như Archer Taylor (The Proverb - nhấn mạnh việc nhận diện tục ngữ dựa trên trực giác hơn là định nghĩa hình thức), John Lyons (xếp vào nhóm phát ngôn tạo sẵn ready-made utterances), Rosalind Fergusson (phát biểu ngắn gọn, có vần điệu, giàu ẩn dụ), cùng định nghĩa của Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đức Dân, Sách giáo khoa Ngữ văn 7 (2004). Trên cơ sở đó, tác giả xác lập định nghĩa làm việc:

    "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh đúc kết kinh nghiệm, tri thức dân gian của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội, có tính cố định tương đối, chủ yếu do quần chúng nhân dân sáng tác."

  • Phân biệt Tục ngữ và Thành ngữ:
    • Trong tiếng Việt: Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Mệnh, Cù Đình Tú, Chu Xuân Diên, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Đức Dân đều thống nhất: thành ngữ tương đương cụm từ (biểu thị khái niệm, kết cấu một trung tâm), còn tục ngữ tương đương câu (biểu thị phán đoán hoặc thông báo trọn vẹn, kết cấu hai trung tâm). Luận án cũng chỉ ra hiện tượng giao thoa giữa hai đơn vị do luật tiết kiệm ngôn ngữ (rút ngắn tục ngữ thành thành ngữ) hoặc thêm từ nối khẩu ngữ.
    • Trong tiếng Hán: Thành ngữ mang phong cách sách vở (nhã), nguồn gốc từ điển tích, thần thoại, tác phẩm cổ (như Luận ngữ), kết cấu chặt chẽ; tục ngữ mang phong cách khẩu ngữ (tục), do nhân dân sáng tạo, kết cấu linh hoạt hơn.
  • Phân biệt Tục ngữ và Ngạn ngữ:
    • Giới Hán học chia "thục ngữ" (nghĩa rộng, mượn từ thuật ngữ Nga phraseologia) bao gồm thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ, yết hậu ngữ, quán dụng ngữ. Tục ngữ (nghĩa hẹp) tồn tại song song với ngạn ngữ. Vũ Chiêm Khôn phân biệt: ngạn ngữ biểu đạt tri thức, đạo lý, mang nghĩa đen, không dùng tu từ; tục ngữ mang tính tu từ, thẩm mỹ và nghĩa bóng.
    • Trong tiếng Việt, các tác giả Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Tố, Hồ Lê, Lê Đình Bích đều xem ngạn ngữ là lời truyền tụng đời xưa, là một bộ phận của tục ngữ biểu hiện bằng từ Hán – Việt. Luận án quy ước nội hàm tục ngữ nghiên cứu bao gồm cả ngạn ngữ (tức "tục ngạn").
  • Khái niệm Yết hậu ngữ và Quán dụng ngữ tiếng Hán: Yết hậu ngữ là cấu trúc cố định gồm hai vế: vế trước (yết diện - ẩn ngữ, ví von) và vế sau (yết để - lời giải thích, ý chính). Cơ chế tạo nghĩa dựa trên lối ví von, hài âm hoặc chơi chữ đồng âm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp 4 phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp thống kê: Khảo sát toàn bộ kho ngữ liệu để lập bảng biểu số lượng, tính tỷ lệ phần trăm các mô hình cấu trúc cú pháp và các nhóm hình ảnh biểu trưng của tục ngữ hai nước.
  2. Phương pháp miêu tả – phân tích: Phân tích chi tiết các dạng thức cấu trúc câu và các tầng nghĩa biểu trưng của từng đơn vị ngữ liệu.
  3. Phương pháp quy nạp: Khái quát các mô hình ngữ pháp, tổng hợp các nhóm ngữ nghĩa tương đồng và dị biệt.
  4. Phương pháp đối chiếu: Lấy hệ thống cấu trúc và ngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán hiện đại làm cơ sở để so sánh đối chiếu với tục ngữ tiếng Việt.

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu được trích xuất từ hai nguồn tài liệu từ điển và tổng tập:

  • Ngữ liệu tiếng Hán: Từ điển tục ngữ (Tục ngữ từ điển) của Từ Tông Tài và Ứng Tuấn Linh, gồm 10.300 câu tục ngữ Hán.
  • Ngữ liệu tiếng Việt: Tổng tập văn học dân gian người Việt (Tập 1 và Tập 2 chuyên về tục ngữ) do Nguyễn Xuân Kính chủ biên, gồm 10.625 câu tục ngữ Việt.
  • Quy ước trình bày ngữ liệu: Câu tục ngữ Hán được ghi bằng chữ Hán giản thể, kèm phiên âm Hán Việt đặt trong dấu nháy đơn '' và bản dịch nghĩa tiếng Việt.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có dung lượng 200 trang chính văn (gồm Dẫn nhập, 3 chương nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo) và 30 trang Phụ lục.

Bố cục luận án:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý thuyết cho việc nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngôn ngữ học. Tác giả phân tích lịch sử nghiên cứu của hai khuynh hướng lớn trên thế giới: khuynh hướng châu Âu (tập trung vào hình thức, ngữ nghĩa, quan hệ lôgích) và khuynh hướng Anh – Mỹ (tập trung vào môi trường giao tiếp, ngữ cảnh hành chức).

Chương này trình bày chi tiết ba đặc điểm bản chất của tục ngữ: tính lịch sử, tính dân tộc và tính biến thể. Đồng thời, tác giả phân định ranh giới học thuật giữa tục ngữ với các thể loại cố định khác:

Đơn vị ngôn ngữ Cấp độ ngữ pháp Đơn vị tư duy Đặc điểm kết cấu Chức năng chủ yếu
Thành ngữ Cụm từ (tương đương từ) Khái niệm Kết cấu 1 trung tâm, cố định chặt chẽ Định danh (gọi tên sự vật, tính chất)
Tục ngữ Câu hoàn chỉnh Phán đoán Kết cấu 2 trung tâm (C – V), có tính biến thể Thông báo (truyền đạt kinh nghiệm, quy luật)
Ngạn ngữ Câu hoàn chỉnh Phán đoán Kết cấu ổn định, thường mang nghĩa đen Truyền thụ tri thức, giảng giải đạo lý
Yết hậu ngữ Hai vế (Yết diện – Yết để) Ẩn ngữ và giải thích Kết cấu hỏi – đáp, ví von, hài âm Tu từ, tạo sắc thái châm biếm, biểu cảm

Chương 1 cũng khảo sát các hiện tượng giao thoa giữa thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt qua bảng dẫn chứng thực tế:

Dạng giao thoa Ví dụ Thành ngữ Ví dụ Tục ngữ tương ứng
Xuất hiện từ ngữ tương đồng Ếch ngồi đáy giếng Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung
Công dã tràng Dã tràng xe cát biển Đông / Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì
Cấu trúc cụm C – V chuyển hóa Cá nằm trên thớt (Lâm vào cảnh) Cá nằm trên thớt
Nước mắt chảy xuôi (Bao giờ) Nước mắt (cũng) chảy xuôi
Biến đổi từ 1 trung tâm sang 2 trung tâm Mèo già hóa cáo Mèo già thì sẽ hóa cáo / Mèo già mà chẳng hóa cáo

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc cú pháp tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt

Chương 2 là một trong hai chương trọng tâm của luận án. Tác giả giới thiệu khái quát hệ thống ngữ pháp tiếng Hán hiện đại và ngữ pháp tiếng Việt, sau đó khảo sát và đối chiếu cấu trúc cú pháp của tục ngữ hai nước dựa trên mô hình ngữ pháp truyền thống:

  • Cấu trúc câu đơn và câu ghép: Phân loại và thống kê các dạng câu đơn (đầy đủ nòng cốt Chủ – Vị, câu khuyết thành phần, câu tỉnh lược) và câu ghép (ghép đẳng lập, ghép chính phụ, câu ghép qua lại không dùng từ nối).
  • Các cấu trúc cú pháp đặc thù: Khảo sát và đối chiếu cấu trúc sóng đôi, cấu trúc điệp từ/điệp ngữ, cấu trúc đối ngẫu (đối thanh, đối ý, đối từ loại) và cấu trúc vần (vần liền, vần cách, vần lưng) vốn là các phương thức tổ chức hình thức đặc trưng giúp tục ngữ dễ nhớ, dễ lưu truyền trong dân gian.

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa tục ngữ Hán hiện đại và tục ngữ Việt

Chương 3 triển khai theo hai nội dung lớn:

  1. Phân loại ngữ nghĩa và cơ chế biểu trưng: Luận án làm rõ mối quan hệ giữa nghĩa mặt chữ và nghĩa biểu trưng trong tục ngữ. Cơ chế chuyển nghĩa từ cái cụ thể sang cái trừu tượng, khái quát được thực hiện thông qua hệ thống hình ảnh biểu trưng. Luận án tập trung khảo sát 4 trường hình ảnh biểu trưng chính:
    • Động vật (các loài thú, gia súc, côn trùng...).
    • Thực vật (cây cối, hoa quả, lúa ngô...).
    • Món ăn (cơm, cá, dưa, cà...).
    • Đồ dùng (nồi, vung, dao, rổ...).
  2. Đối chiếu ngữ nghĩa theo phương pháp biểu trưng: Phân loại toàn bộ ngữ liệu đối chiếu thành 3 nhóm quan hệ:
    • Nhóm 1: Tục ngữ Hán và Việt có hình ảnh biểu trưng giống nhau, nội dung ý nghĩa giống nhau.
    • Nhóm 2: Tục ngữ Hán và Việt có hình ảnh biểu trưng khác nhau, nội dung ý nghĩa giống nhau.
    • Nhóm 3: Tục ngữ Hán và Việt có hình ảnh biểu trưng giống nhau, nội dung ý nghĩa khác nhau.
  3. Phân tích nhóm tục ngữ âm Hán – Việt: Khảo cứu chuyên sâu nhóm 267 câu tục ngữ âm Hán – Việt, chứng minh người Việt đã tiếp thu các yếu tố ngôn ngữ Hán và sử dụng âm Hán – Việt để sáng tạo nên những câu tục ngữ mang đậm tư duy và bản sắc văn hóa Việt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Tiếp cận cấu trúc cú pháp theo hướng ngữ pháp truyền thống: Khác với các công trình trước đây tại Việt Nam vốn phân tích tục ngữ thuần túy theo ngữ pháp chức năng (Đề – Thuyết) hoặc mô hình lôgích – ngữ nghĩa, luận án sử dụng khung ngữ pháp truyền thống (cấu trúc Chủ – Vị) kết hợp khảo sát các cấu trúc đặc thù (điệp, đối, vần). Hướng tiếp cận này giúp mô tả cấu trúc tục ngữ một cách trực quan, đồng bộ trên bình diện kết học và ngữ nghĩa học.
  • Hệ thống hóa ngữ nghĩa biểu trưng qua 4 trường chất liệu: Luận án phân tích có hệ thống mối quan hệ giữa tín hiệu biểu trưng và nghĩa khái quát của tục ngữ qua 4 nhóm hình ảnh cụ thể (động vật, thực vật, món ăn, đồ dùng), làm rõ bức tranh văn hóa tộc người ẩn chứa trong ngôn ngữ.
  • Khảo cứu nhóm tục ngữ âm Hán – Việt: Luận án thống kê và phân loại 267 câu tục ngữ sử dụng âm Hán – Việt, đưa ra các chứng cứ ngôn ngữ học khẳng định quá trình người Việt sử dụng vỏ ngữ âm và từ tố Hán – Việt để sáng tạo tục ngữ dân tộc.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp tư liệu đối chiếu ngôn ngữ Hán – Việt: Kết quả chỉ ra các điểm tương đồng và dị biệt về cấu trúc và ngữ nghĩa giúp ích trực tiếp cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, biên dịch và giảng dạy tiếng Hán cho người Việt cũng như dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc.
  • Đóng góp tư liệu thư mục: Hệ thống 30 trang phụ lục với hàng nghìn câu tục ngữ được đối chiếu cấu trúc, nghĩa biểu trưng và nhóm 267 câu tục ngữ âm Hán – Việt là nguồn dữ liệu khoa học có độ tin cậy cao cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.
  • Góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt: Giúp người học và người sử dụng nhận biết chính xác cấu trúc, sắc thái ngữ nghĩa, phân biệt thành ngữ với tục ngữ, tránh dùng sai các đơn vị cố định trong giao tiếp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi ngữ liệu: Ngữ liệu khảo sát được giới hạn trong hai bộ sách chính (Tục ngữ từ điển của Từ Tông Tài, Ứng Tuấn Linh gồm 10.300 câu Hán; và Tổng tập văn học dân gian người Việt của Nguyễn Xuân Kính chủ biên gồm 10.625 câu Việt). Mặc dù có dung lượng lớn, ngữ liệu khảo sát chủ yếu dựa trên văn bản đã được ấn hành, chưa bao quát hết các biến thể tục ngữ địa phương chưa được sưu tầm.
  • Phạm vi khảo sát biểu trưng: Phân tích ngữ nghĩa biểu trưng mới chỉ tập trung vào 4 trường chất liệu chủ đạo (động vật, thực vật, món ăn, đồ dùng), chưa mở rộng sang tất cả các trường từ vựng khác như hiện tượng thiên văn, thời tiết, hoạt động xã hội.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi đối chiếu sang các trường biểu trưng văn hóa khác trong kho tàng tục ngữ hai nước.
  • Đi sâu nghiên cứu tục ngữ từ bình diện ngữ dụng học trong môi trường giao tiếp khẩu ngữ đương đại của xã hội Việt Nam và Trung Quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc, Việt ngữ học. Chương 1 cung cấp hệ thống tổng quan lý luận toàn diện về các thể loại ngữ cố định; Chương 2 và Chương 3 cung cấp khung phân tích cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa biểu trưng.
  • Các nhà biên soạn từ điển và dịch thuật: Nắm vững các mô hình tương đương về cấu trúc và nghĩa biểu trưng (đặc biệt là nhóm tục ngữ khác hình ảnh biểu trưng nhưng cùng ý nghĩa) để dịch thuật chính xác giữa hai ngôn ngữ Hán – Việt.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian: Khai thác bức tranh văn hóa dân tộc và tư duy dân gian thể hiện qua hệ thống hình ảnh biểu trưng và nhóm tục ngữ âm Hán – Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những nguồn ngữ liệu chính nào và dung lượng khảo sát là bao nhiêu câu?

Luận án dựa trên hai nguồn ngữ liệu chính:

  • Tiếng Hán: Tục ngữ từ điển của Từ Tông Tài và Ứng Tuấn Linh, gồm 10.300 câu tục ngữ Hán.
  • Tiếng Việt: Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 1, tập 2 chuyên về tục ngữ) do Nguyễn Xuân Kính chủ biên, gồm 10.625 câu tục ngữ Việt.

2. Tác giả phân biệt tục ngữ và thành ngữ dựa trên những tiêu chí cốt lõi nào?

Tác giả tổng hợp các ý kiến học thuật và xác định tiêu chí phân biệt:

  • Về cấp độ ngữ pháp và kết cấu: Thành ngữ là cụm từ (kết cấu 1 trung tâm, tương đương từ), trong khi tục ngữ là câu hoàn chỉnh (kết cấu 2 trung tâm Chủ – Vị).
  • Về tư duy và chức năng: Thành ngữ biểu thị khái niệm, mang chức năng định danh; tục ngữ biểu thị phán đoán, mang chức năng thông báo một nhận định, kinh nghiệm hoặc quy luật.

3. Việc đối chiếu ngữ nghĩa biểu trưng giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt được phân chia thành những nhóm nào?

Phần đối chiếu ngữ nghĩa biểu trưng ở Chương 3 được chia làm 3 nhóm:

  1. Tục ngữ Hán – Việt có hình ảnh biểu trưng giống nhau, nội dung ý nghĩa giống nhau.
  2. Tục ngữ Hán – Việt có hình ảnh biểu trưng khác nhau, nội dung ý nghĩa giống nhau.
  3. Tục ngữ Hán – Việt có hình ảnh biểu trưng giống nhau, nội dung ý nghĩa khác nhau.

4. Luận án đã phát hiện và thống kê được bao nhiêu câu tục ngữ âm Hán – Việt?

Qua quá trình khảo cứu, luận án đã thống kê và phân tích chuyên sâu 267 câu tục ngữ âm Hán – Việt, chứng minh quá trình người Việt sử dụng chất liệu âm Hán – Việt để sáng tạo tục ngữ.

5. Cấu trúc và cơ chế tạo nghĩa của Yết hậu ngữ trong tiếng Hán được trình bày như thế nào?

Yết hậu ngữ gồm hai vế: vế trước (yết diện) là phần ví von hoặc ẩn ngữ; vế sau (yết để) là phần giải thích, thể hiện ý nghĩa thực tế. Cơ chế tạo nghĩa chủ yếu dựa vào lối ví von hoặc nghệ thuật chơi chữ đồng âm, hài âm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thanh Hằng là công trình ngôn ngữ học đối chiếu hệ thống giữa tục ngữ tiếng Hán hiện đại và tục ngữ tiếng Việt dựa trên quy mô ngữ liệu hơn 20.000 câu. Công trình đã phân tích cấu trúc cú pháp theo ngữ pháp truyền thống kết hợp các cấu trúc đặc thù, đồng thời giải mã cơ chế ngữ nghĩa biểu trưng qua 4 trường chất liệu và 267 câu tục ngữ âm Hán – Việt. Luận án cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật có giá trị cho nghiên cứu lý luận ngôn ngữ, giảng dạy tiếng Hán – Việt và gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.