Chương I: Một số vấn đề cơ sở của lý thuyết. Chương II: Gián tiếp và lịch sự trong tiếng Nhật. Chương III: Những biểu hiện gián tiếp trong đề nghị và từ chối tiếng Nhật (so sánh với tiếng Việt). 5 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Hội thoại và cấu trúc hội thoại 1. Khái niệm hội thoại “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều hình thức như là giao tiếp một chiều (còn gọi là độc thoại). Giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn (còn gọi là hội thoại).
Trong xã hội loài người, giao tiếp hai chiều là cơ bản và phổ biến nhất, gồm một người nói, một người người nghe và có sự phản hồi trở lại. Trong cuộc thoại, khi có sự phản hồi thì vai trò của người tham gia cuộc thoại cũng thay đổi. Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe mà G.Yule gọi là tương tác. Và như vậy, hội thoại là sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham thoại.
Theo Đỗ Hữu Châu [4, tr.15], các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như thời gian, không gian, nơi chốn, số lượng người tham gia, cương vị tư cách người tham gia, về tính chất cuộc thoại, vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức. Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hoà cuộc thoại để đạt đến cái đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định. Các quy tắc hội thoại Hội thoại diễn ra theo quy tắc nhất định. Bàn về quy tắc hội thoại, Orecchioni đã chia quy tắc hội thoại thành ba nhóm: -Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời.
-Cácquy tắc chi phối cấu trúc hội thoại. -Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. 6 z Luân phiên lượt lời là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hội thoại. Trong cuộc thoại, từng người nói một và không nói đồng thời.
Người nói luân phiên nhau, đó là lượt lời mà theo G.136], lượt lời hoạt động theo một hệ thống điều hành cục bộ, được hiểu theo lối quy ước giữa thành viên trong một nhóm xã hội. Về quy tắc chi phối hội thoại, theo Nguyễn Đức Dân (1998) [9, tr. 103] những phát ngôn trong một lượt lời là những hành vi hội thoại. Sự liên kết giữa hai lượt lời là sự liên kết giữa hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp.
Rất nhiều loại phát ngôn trong hội thoại đòi hỏi phải có sự hồi đáp riêng biệt như hành vi chào yêu cầu có một lời chào đáp lại, hành vi đề nghị cần có phản hồi hoặc chấp nhận hoặc từ chối, hành vi hỏi cần có câu trả lời. Một hành vi ngôn ngữ xuất hiện có thể được chấp nhận hoặc từ chối. Tất nhiên, người tham thoại cũng có thể lờ đi mà không có một biểu đạt ngôn ngữ nào. Nhưng dù tuân theo hành vi dẫn nhập, từ chối hay lờ đi, người tham thoại vẫn phải có chiến lược giao tiếp và phương tiện biểu đạt trong hành vi hồi đáp của mình.
Quan hệ cá nhân giữa những người tham thoại cũng có tầm quan trọng đặc biệt trong tương tác hội thoại. Đó là những nhân tố sẵn có trong cuộc tương tác nhưng chúng nằm ngoài tương tác. Chúng liên quan tới quan hệ thân – sơ, quan hệ vị thế xã hội, tuổi tác quyền lực. và được thể hiện khác nhau ở cộng đồng người.
Theo Nguyễn Đức Dân (1998) [9, tr.122], quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ: - Quan hệ ngang (quan hệ thân – sơ) - Quan hệ dọc (quan hệ vị thế) a. Quan hệ ngang: Quan hệ ngang chỉ rõ mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa những người tham gia giao tiếp. Mối quan hệ này có thể thay đổi và điều 7 z chỉnh trong quá trình hội thoại, từ sơ đến thân hoặc ngược lại. Hình thức có thể đối xứng, hoặc phi đối xứng.
Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngang như bằng lời nói, cử chỉ điệu bộ hoặc dấu hiệu bằng lời. Người nói có nhiều công cụ để lựa chọn khi muốn thể hiên quan hệ hàng ngang này. Quan hệ dọc Quan hệ dọc là quan hệ tôn ti trong xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới trong giao tiếp. Quan hệ này được đánh dấu bằng yếu tố quyền lực.
Quan hệ này có tính chất tương đối và phụ thuộc vào những yếu tố khách quan như cương vị xã hội, giới tính, tuổi tác. Những yếu tố khách quan này tạo các vị thế khác nhau tuỳ theo quan niệm truyền thống văn hoá của mỗi cộng đồng người. Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ vị thế như bằng lời, bằng cử chỉ hoặc điệu bộ. Hầu như mọi yếu tố trong hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế.
Những dấu hiệu bằng lời giống như ở quan hệ ngang, hệ thống xưng hô, hệ thống đại từ, các hành vi ngôn ngữ, hành vi hội thoại. đều thể hiện quan hệ vị thế, và điều này được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá. Do vậy, người tham gia giao tiếp cần hiểu và nắm bắt được những quan niệm về vị thế giữa các dân tộc, giữa các nền văn hoá để có những hành vi ứng xử đúng đắn. Cấu trúc hội thoại 1.
Đoạn thoại Hội thoại có những tổ chức nhất định mà đoạn thoại là một trong các yếu tố của nó. Theo Đỗ Hữu Châu (2001) [4, tr.209], đoạn thoại là mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng. Trong đoạn thoại, những người tham gia hội thoại nói về một chủ đề duy nhất. Việc phân định đoạn thoại không dễ dàng bởi những danh giới mơ hồ, đôi khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán.
Có thể ít nhiều định hình đoạn thoại qua cấu trúc: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn 8 z thoại kết thúc. Đoạn thân thoại liên quan tới hình vi đề nghị và hành vi từ chối là cặp trao – đáp có chứa phát ngôn đề nghị tiền vị và phát ngôn từ chối. Ví dụ: - Đây này, hộ tịch của con chuyển rồi. Ngày đi, chính con nhờ người cắt, con nhớ không.
- Dạ, con nhớ. Nhưng trong khi làm thủ tục giấy tờ. - Trong khi chờ thủ tục, giấy tờ con cứ đi đâu đó sau này nhà máy người ta có trách nhiệm. - Cậu định không cho con ở nhà? - Trong nhà này chỉ có những người đăng ký mới được ở.
- Cậu cho con mượn hộ khẩu con đi đăng ký tạm trú. - Trong đời cậu, chưa có một lần nào đưa hộ khẩu cho người khác mượn. - Cậu ơi, con chỉ xin cậu một lần này. - Lần nào đối với cậu cũng thế.
Đời cậu chưa bao giờ nói lần thứ hai để thay đổi những ý định của mình.120) Chủ đề duy nhất của cuộc thoại là việc hỏi mượn sổ hộ khẩu và thái độ từ chối của người cha. Ngữ cảnh Hội thoại bao giờ cũng xảy ra trong một ngữ cảnh nhất định. Các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh. Cách thức đề nghị và từ chối trong hội thoại được xuất hiện trong những ngữ cảnh được xác định.
Ngữ cảnh bao gồm các tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tự nhiên xung quanh, đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng xử, các khía cạnh liên quan như quan hệ thân – sơ, địa điểm, thời gian nơi diễn ra cuộc thoại, nội dung của cuộc thoại có chứa hành vi đề nghị và từ chối có liên 9 z quan. Tất cả những yếu tố được gọi là ngữ cảnh ấy cùng tham dự vào cuộc thoại, quy định cách thức tiến hành cuộc thoại. Lượt lời Đây là sự tương tác qua lại trong hội thoại. Trong cuộc thoại người nói sẽ luân phiên nhau.
Vai người nói sẽ thường xuyên thay đổi, và lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai. Hai lượt lời có quan hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại. Lượt lời có chứa các hành vi, trong đó có hành vi đề nghị và hành vi từ chối. Các lượt lời trong cuộc thoại phải bảo đảm tính thống nhất nội dung phục vụ cho sự phát triển vấn đề, hướng tới đích của cuộc thoại là điều kiện cho cuộc thoại thành công.
Trong ví dụ nêu trên, hai nhân vật tham thoại liên kết chặt chẽ và lượt lời với nội dung thống nhất: hỏi – trả lời, đề nghị - từ chối, nhờ vả - khước từ. Hành vi ngôn ngữ Việc nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của loài người đã được các nhà ngôn ngữ học bắt đầu chú ý từ nhiều thập kỷ trước.Austin, một nhà triết học người Anh ở trường đại học Harvard (Mỹ) đã trình bày 12 chuyên đề. Năm 1962 , những chuyên đề này đã được tập hợp lại xuất bản thành sách có nhan đề “How to do things with word”. Có nhiều cách dịch như là “Hành động như thế nào bằng lời nói” hay “Nói tức là hành động”.
Đồng thời cũng xuất hiện một số thuật ngữ khác nhau như: hành động lời nói, hành động ngôn từ, hành động ngôn ngữ. Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ : “Hành động ngôn ngữ”. Austin đã đưa ra tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành vi ngôn ngữ, hành vi ở lời, hành vi tạo lời và hành vi mượn lời. Austin đã điều chỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói mà trước đây F.Saussure đã phân biệt: 10 z Hành vi ở lời (illocutionary act) là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Hành vi tạo lời (locutionnary act) là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu. để tạo ra được một phát ngôn về hình thức nội dung. Hành vi mượn lời (perlocutionary act) là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói.
Tính gián tiếp trong thuyết lịch sự 1. Định nghĩa lịch sự Theo J.Thomas, phép lịch sự được xem như là một (hay một loạt chiến lược) được người nói dùng để hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hoà. (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.