đặt vấn đề và nghiên cứu: Liệu ngôn ngữ có thêm khả năng tri nhận sắc thái về màu sắc của chúng ta hay không? Hay nó ảnh hưởng theo cách nào khác? Các tác giả này đã có những kết luận vô cùng thú vị: Quá trình nhận biết màu sắc bắt đầu từ phần não bên phải và truyền sang bên trái thông qua sự tiến triển của ngôn ngữ, đồng thời những nhận thức màu sắc của chúng ta được liên kết chặt chẽ với ngôn ngữ của chúng ta. [123] Tiếp theo hướng này, tác giả Quinion (1996), trong bài viết The fugitive names of hues (Những tên gọi nhất thời của màu sắc) đăng trên trang English in the British viewpoint (Tiếng Anh theo quan điểm của người Anh) đã nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc tiếng Anh bằng phương pháp từ nguyên học. Ông đã xác định màu từ màu xanh da trời (blue) bắt nguồn từ tiếng Pháp, xanh lá cây (green) có cùng gốc với “grow” và xuất xứ từ tiếng Đức, màu đỏ (red) được vay mượn từ tiếng Hy Lạp, màu hồng (pink) cùng gốc từ với tiếng Hà Lan,…[140]. Cách nghiên cứu của tác giả đã mở ra thêm một hướng tiếp cận khác trong tiến trình nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc trên thế giới nói chung và tiếng Anh nói riêng.
Có thể nói, ở một mức độ nhất định, Berlin & Kay (1969) là những người tiên phong trong việc nghiên cứu các từ chỉ màu sắc nói chung hay các từ chỉ màu cơ bản nói riêng để sau đó nhiều các công trình khoa học đã lấy đối tượng nghiên cứu là từ chỉ màu sắc. Nghiên cứu của hai tác giả Soriano và Valenzuela (2009) trong bài báo Emotion and colour across languages (Cảm xúc và màu sắc qua các nền văn hóa) đã khám 8 phá ra các lí do tại sao các từ màu sắc và từ biểu đạt cảm xúc thường liên quan đến các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Một trong số đó là sự chồng chéo giữa thuật ngữ chỉ màu sắc và thuật ngữ chỉ cảm xúc. Một phương pháp thử nghiệm mới được sử dụng để khảo sát cấu trúc ẩn dụ của các thuật ngữ chỉ màu cơ bản về phương diện ngữ nghĩa.
Các kết quả cho thấy một bản so sánh với các công trình trước đây, ngoại trừ giá trị của một số thuật ngữ chỉ màu. Những điểm tương đồng và khác biệt đã được đưa ra để kiểm tra những ảnh hưởng của ngữ nghĩa đối với từ chỉ màu sắc và từ chỉ cảm xúc. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt chủ yếu tập trung trên phương diện ngôn ngữ học. Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc tập trung nhiều ở bình diện cấu trúc luận, chủ yếu tiếp cận về cấu trúc nghĩa, đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt.
Tác giả Trịnh Thị Thu Hiền với các bài viết “Một số đặc điểm của các đơn vị từ chỉ màu sắc cơ bản tiếng Việt”, “Một vài đặc điểm của các từ chỉ màu phụ trong tiếng Việt” và “Đặc điểm của hai từ chỉ màu sắc xanh và đỏ trong tiếng Việt” bước đầu đã lần lượt khảo sát, đưa ra một số đặc điểm của các từ chỉ màu sắc cơ bản và màu phụ trong tiếng Việt và đi sâu khảo sát hai từ xanh và đỏ [40,41]. Các bài viết này đã đề cập đến một màu (hoặc nhiều màu) như biểu tượng của văn hóa hoặc nét đặc thù của dân tộc. Tuy nhiên, các tác giả chỉ 9 điểm qua mà chưa đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hóa đến cách sử dụng các từ chỉ màu sắc. Biện Minh Điền (2000) với bài viết Về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Nguyễn Khuyến [25] đã thống kê tỉ lệ từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ và câu đối của Nguyễn Khuyến và đã xác định tỉ lệ màu sắc tươi chiếm ưu thế, đặc biệt là cách dùng màu xanh và tương tự, trong bài Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Thị Thành Thắng (2001) [70] đã khái quát được sự đa dạng về nghĩa của cùng một màu xanh trong thơ Nguyễn Bính, từ đó, nêu bật vài điểm trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính.
Trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 8 năm 2006, Hà Thị Thu Hoài viết: “Từ chỉ màu sắc để miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài”. Qua khảo sát, tác giả bài viết đã phân tích nét đặc sắc sáng tạo trong việc tạo ra nhiều sắc độ của màu trắng, đỏ, vàng trên những trang văn Tô Hoài.[45] Cũng có một số công trình (các luận án, luận văn thạc sĩ) đi sâu nghiên cứu kĩ hơn về về các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt như luận án của Chu Bích Thu (1996) với công trình “Những đặc trưng ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại”. Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân tích các nhóm tính từ trong đó có nhóm tính từ chỉ màu sắc. Tuy nhiên, trong luận án, khi đề cập đến tính từ chỉ màu sắc, tác giả chỉ mới dừng lại ở chỗ phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm tính từ này.
[79] Trong luận văn của Nguyễn Khánh Hà (1995) “Hệ thống từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt”, tác giả đã thống kê và lập một bảng từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, phân loại, sắp xếp nhóm từ này thành hệ thống và phân tích ý nghĩa từ vựng và ngữ cảnh sử dụng. Luận văn đã hệ thống hóa các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt trên góc độ của sự liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, nêu ra những đặc điểm của các lớp từ như lớp từ chỉ màu cơ sở, lớp từ chỉ màu thứ cấp, lớp từ chỉ màu đặc trưng và so sánh các lớp từ này để tìm ra mối quan hệ và kết cấu giữa các lớp từ này. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ đề cập đến các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, các thành ngữ, tục ngữ và các ngữ có chứa từ chỉ màu sắc chưa được tác giả đề cập đến. Luận văn chưa đi vào so sánh đối chiếu từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và 10 tiếng Việt để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về đặc điểm, ngữ nghĩa của các lớp từ này.
Luận văn đã nghiên cứu phương thức tạo tính biểu trưng cho các từ ngữ chỉ màu sắc và đồng thời cũng giới thiệu một số thành ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh nhưng chưa đi sâu vào so sánh đối chiếu từ ngữ chỉ màu sắc trong hai ngôn ngữ Anh – Việt. Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc theo hướng tiếp cận so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, có thể kể đến một số công trình của các tác giả như: Hoàng Văn Hành (1982) [37] với tiêu đề “Về cấu trúc nghĩa của tính từ tiếng Việt (trong sự so sánh với tiếng Nga)”. Trần Thị Thu Huyền (2001) với bài “Hoa cỏ và màu sắc trong thành ngữ- tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt” [48]. Bùi Thị Thùy Phương (2004) đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thức, cấu trúc nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt nói chung cũng như tần số xuất hiện của chúng trong thơ ca và thống kê, phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của lớp từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Hán.
[64]Trong các công trình kể trên, từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh đã được đề cập đến về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa với những phạm vi khác nhau cũng như tần số xuất hiện của chúng dựa vào ngữ liệu là những văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương. Một số công trình chỉ đi vào hệ thống các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, số khác chỉ nghiên cứu hai trong số các màu sắc cơ bản. Tóm lại, việc so sánh đối chiếu từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ, văn hóa và tư duy chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. Tuy nhiên, những công trình trên là những tài liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi tiếp tục đào sâu, bổ sung và đi tiếp việc nghiên cứu về các từ ngữ chỉ màu sắc dưới góc nhìn của ngôn ngữ học so sánh đối chiếu.
Cơ sở lí luận Trong mục tiếp theo, chúng tôi sẽ tập trung vào các vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài và cụ thể là các khái niệm về từ, ngữ, nghĩa của từ, ý nghĩa biểu trưng, 11 các quan điểm về từ ngữ chỉ màu sắc, về văn hóa, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Các khái niệm sẽ được tổng hợp, phân tích và chúng tôi sẽ đưa ra quan điểm của mình trong việc sử dụng khái niệm hoặc định nghĩa làm cơ sở cho luận án. Khái niệm về từ 1. Định nghĩa về từ a.
Định nghĩa về từ trong tiếng Anh “Từ” (word) xuất hiện như là một khái niệm đơn giản, nhưng để trả lời câu hỏi “Từ là gì?" lại không hề dễ, nhiều nhà ngôn ngữ đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về từ. Theo Bloomfield (1933), “Về mặt cú pháp, từ được định nghĩa là một câu ngắn nhất”. Theo Saussure (1973), mặc dù khó có thể đưa ra định nghĩa chính xác về từ nhưng ông khẳng định trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, từ vẫn là một đơn vị trung tâm. Định nghĩa về từ trong tiếng Việt Hoàng Văn Hành (2008) đã vận dụng năm tiêu chuẩn để xác định từ.
Năm tiêu chuẩn đó là: (i) Từ ngữ âm: Đó là những đơn vị được thống nhất với hiện tượng ngữ âm nào đó. Đối với Việt ngữ, hiện tượng âm đều đặt trên ngữ lưu có thể dùng làm tín hiệu phân giới chính là âm tiết; (ii) Từ chính tả: Đó là những khoảng cách giữa hai chỗ trống trên chữ viết, tức là những đơn vị được viết liền thành một khối; (iii) Từ hoàn chỉnh: Đó là những cấu trúc ổn định, không thể tách hoặc hoán vị các thành tố của chúng; (iv) Từ từ điển học: Đó là đơn vị mà căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa của nó phải xếp riêng trong từ điển; (v) Từ biến tố: Đó là những đơn vị luôn luôn gồm hai phần: một phần nhân từ, biểu hiện ý nghĩa đối tượng, còn một phần biến tố biểu thị mối liên hệ của từ đó với các từ khác trong câu. Thực chất tiêu chuẩn này muốn nói đến đặc điểm ngữ pháp của từ - Từ ngữ pháp. 21] Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010), “Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ.