Báo Cáo Nghiên Cứu Về Câu So Sánh Ngang Bằng Trong Tiếng Trung Của Sinh Viên Việt Nam

Chuyên đề nghiên cứu Tình Hình Sử Dụng Câu So Sánh Ngang Bằng Trong Tiếng Trung Của Sinh Viên Việt Nam, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

2022

57
17
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Lído chọn đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu hiện nay

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

1.6. Nguồn ngữ liệu

2. CHƯƠNG 2: SO SÁNH CÂU SO SÁNH NGANG BẰNG TRONG TIẾNG TRUNG QUỐC VÀ TIẾNG VIỆT – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LOẠI HÌNH HỌC

2.1. Đặt vấn đề

2.2. Đặc điểm loại hình học của câu so sánh ngang bằng

2.3. Câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc

2.3.1. Câu so sánh ngang bằng có từ “跟/ 和/ 同/ 与”

2.3.2. Câu so sánh ngang bằng có từ “像”

2.3.3. Câu so sánh ngang bằng có từ “有”

2.4. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÂU SO SÁNH NGANG BẰNG TRONG TIẾNG TRUNG QUỐC CỦA NGƯỜI BẢN NGỮ TRUNG QUỐC

3.1. Tình hình chung

3.2. Tình hình sử dụng loại câu T1

3.3. Tình hình sử dụng loại câu T2

3.4. Tình hình sử dụng loại câu T3

3.4.1. Tình hình sử dụng loại câu T3a

3.4.2. Tình hình sử dụng loại câu T3b

3.4.3. Tình hình sử dụng loại câu T3c

3.4.4. Tình hình sử dụng loại câu T3d

3.5. Tình hình sử dụng loại câu T4

3.5.1. Tình hình sử dụng loại câu T4a

3.5.2. Tình hình sử dụng loại câu T4b

3.5.3. Tình hình sử dụng loại câu T4c

3.5.4. Tình hình sử dụng loại câu T4d

3.6. Tình hình sử dụng loại câu T5

3.7. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÂU SO SÁNH NGANG BẰNG TRONG TIẾNG TRUNG QUỐC CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM

4.1. Tình hình sử dụng câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc của sinh viên Việt Nam

4.2. Lỗi sử dụng câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc

4.3. So sánh với tình sử dụng của người bản ngữ Trung Quốc

4.4. Một số thảo luận

4.5. Tiểu kết chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tình hình nghiên cứu hiện nay

Nghiên cứu về câu so sánh trong tiếng Trung Quốc, đặc biệt là câu so sánh ngang bằng, đã trở thành một chủ đề được quan tâm trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào câu so sánh hơn, trong khi câu so sánh ngang bằng vẫn ít được đề cập. Đặc biệt, việc nghiên cứu dựa trên ngữ liệu tự nhiên của sinh viên Việt Nam là rất hạn chế. Một số công trình nghiên cứu từ năm 2009 trở lại đây đã chỉ ra rằng có rất ít nghiên cứu miêu tả toàn diện về tình hình sử dụng câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung của sinh viên Việt Nam. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để làm rõ tình hình sử dụng loại câu này, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc giảng dạy và học tập. Việc phân tích các lỗi sử dụng và so sánh với người bản ngữ Trung Quốc sẽ giúp nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Trung tại Việt Nam.

II. Đặc điểm loại hình học của câu so sánh ngang bằng

Câu so sánh ngang bằng, theo Haspelmath (2017), có những đặc điểm chung về cấu trúc và cách sử dụng trong nhiều ngôn ngữ. Câu này thường được cấu thành từ các thành phần như thành tố so sánh, thành tố chuẩn, thông số so sánh, đánh dấu thành tố chuẩn và đánh dấu mức độ. Đặc biệt trong tiếng Trung Quốc, câu so sánh ngang bằng có các từ như “跟”, “和”, “同”, “与” và “像” để biểu thị sự tương đồng. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng câu so sánh ngang bằng có thể phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên cấu trúc từ vựng và cú pháp. Việc tìm hiểu các loại câu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngữ pháp tiếng Trung mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của sinh viên Việt Nam. Những nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc so sánh giữa tiếng Trung và tiếng Việt có thể giúp nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó giúp sinh viên dễ dàng hơn trong việc tiếp thu ngôn ngữ.

III. Tình hình sử dụng câu so sánh ngang bằng của sinh viên Việt Nam

Nghiên cứu về tình hình sử dụng câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung của sinh viên Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề đáng chú ý. Đầu tiên, sinh viên thường gặp khó khăn trong việc sử dụng đúng các cấu trúc này, dẫn đến việc mắc lỗi ngữ pháp. Các lỗi này chủ yếu liên quan đến việc sử dụng không chính xác các từ chỉ sự so sánh như “像”, “跟”, và “和”. Việc so sánh với người bản ngữ Trung Quốc cho thấy sinh viên Việt Nam có xu hướng sử dụng câu so sánh ngang bằng một cách đơn giản hơn và thiếu sự đa dạng trong cách diễn đạt. Điều này cho thấy cần có những phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn để giúp sinh viên cải thiện kỹ năng ngôn ngữ của mình. Việc phân tích các lỗi sử dụng và tìm ra nguyên nhân sẽ giúp định hình lại chương trình giảng dạy, từ đó nâng cao năng lực ngôn ngữ của sinh viên Việt Nam.

IV. Một số thảo luận về tình hình sử dụng câu so sánh ngang bằng

Thảo luận về tình hình sử dụng câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung của sinh viên Việt Nam cho thấy nhiều khía cạnh cần được xem xét. Một mặt, việc sử dụng câu so sánh ngang bằng có thể phản ánh sự tiếp thu ngôn ngữ của sinh viên, nhưng mặt khác, nó cũng cho thấy những khó khăn trong quá trình học tập. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên thường có xu hướng dịch trực tiếp từ tiếng Việt sang tiếng Trung mà không chú ý đến ngữ cảnh và cách dùng của từ. Điều này dẫn đến việc sử dụng sai cấu trúc câu và gây ra những hiểu lầm trong giao tiếp. Do đó, việc nâng cao khả năng nhận thức về ngữ pháp và cách sử dụng câu so sánh ngang bằng là rất cần thiết. Các giảng viên nên áp dụng những phương pháp giảng dạy mới, như sử dụng ngữ liệu thực tế và các bài tập thực hành để giúp sinh viên cải thiện kỹ năng ngôn ngữ của mình.

V. Kết luận và kiến nghị

Kết luận từ nghiên cứu về câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung của sinh viên Việt Nam cho thấy rằng có nhiều vấn đề cần được giải quyết. Việc nghiên cứu không chỉ giúp nhận diện những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình học tập mà còn tạo cơ sở cho việc cải tiến phương pháp giảng dạy. Kiến nghị đưa ra là cần có một chương trình giảng dạy ngữ pháp tiếng Trung rõ ràng và hiệu quả hơn, đặc biệt là trong việc giảng dạy câu so sánh. Ngoài ra, việc sử dụng ngữ liệu tự nhiên trong giảng dạy sẽ giúp sinh viên có cái nhìn thực tế hơn về cách sử dụng ngôn ngữ. Cuối cùng, việc tổ chức các buổi thảo luận và thực hành ngôn ngữ sẽ giúp sinh viên tự tin hơn trong việc sử dụng tiếng Trung, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp của họ.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Câu so sánh ngang bằng (equative sentence) làcâu biểu thị sự giống nhau về mức độ, số lượng hoặc tí nh chất giữa hai đối tượng được so sánh. Đây là vấn đề chưa được các nhànghiên cứu loại hì nh học ngôn ngữ trên thế giới quan tâm nhiều. Hiện nay, đã có một số công trì nh nghiên cứu về loại câu này từ góc độ loại hì nh học ngôn ngữ, như các nghiên cứu của Ultan (1972), Andersen (1983), Haspelmath và Buchholz (1998), Henkelmann (2006), Haspelmath (2017)… Trên cơ sở phân tí ch trật tự từ trong câu so sánh ngang bằng của các ngôn ngữ trên thế giới, các nhàngôn ngữ học đã khái quát các đặc điểm loại hì nh học của loại câu này. Nghiên cứu về câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc vàtiếng Việt từ góc độ loại hì nh học hiện nay còn rất hạn chế hoặc chưa được đề cập đến.

Chúng tôi chỉ tì m thấy các nghiên cứu của Wei Yangyang (魏阳阳) (2019), Fang Rui (方 蕊) (2020) vàSun Cong (孙聪) (2020). Các nghiên cứu này đã khảo sát, phân tí ch câu so sánh ngang bằng trong các phương ngữ của tiếng Trung Quốc, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Trung Quốc từ góc độ loại hì nh học. 6 Nghiên cứu về điểm giống nhau vàkhác nhau giữa câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc vàtiếng Việt hiện nay chưa nhiều. Chúng tôi chỉ tì m thấy nghiên cứu của LêXuân Thại vàNguyễn Hoàng Anh (2017), so sánh các hì nh thức biểu đạt ý nghĩa so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc vàtiếng Việt trên các phương diện: số lượng, từ loại vàsắc thái ngữ nghĩa của từ biểu thị quan hệ so sánh, từ loại của thành tố chuẩn so sánh.

Cóthể thấy, các nghiên cứu hiện nay đều rất í t hoặc chưa phân tích đặc điểm câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc vàtiếng Việt từ góc độ loại hì nh học, cũng như chưa chỉ ra được những tương đồng vàdị biệt về loại câu này giữa tiếng Trung Quốc vàtiếng Việt từ góc độ loại hì nh học. Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõcác nội dung trên.2 Đặc điểm loại hì nh học của câu so sánh ngang bằng Sau khi khảo sát, phân tí ch câu so sánh ngang bằng của 119 ngôn ngữ trên thế giới, Haspelmath (2017) nhận thấy câu so sánh ngang bằng của các ngôn ngữ trên thế giới tuy cósự khác biệt về trật tự từ, song đều được cấu thành từ các thành phần sau: thành tố so sánh (comparee), thành tố chuẩn (standard), thông số so sánh (parameter), đánh dấu thành tố chuẩn (standard-marker) và đánh dấu mức độ (degree-marker). Vídụ: (1) Kim is as tall as Pat. (Haspelmath, 2017) (2) Kim est aussi grand que Pat.

(Haspelmath, 2017) Câu (1) làcâu so sánh ngang bằng trong tiếng Anh, trong đó “Kim” là thành tố so sánh, “Pat” là thành tố chuẩn, “tall” là thông số so sánh, “as” (đứng trước “tall”) là đánh dấu mức độ, “as” (đứng trước “Pat”) là đánh dấu thành tố chuẩn. Câu (2) làcâu so sánh ngang bằng trong tiếng Pháp, “Kim” là thành tố so sánh, “Pat” là thành tố chuẩn, “grand” là thông số so sánh, “aussi” là đánh dấu mức độ, “que” là đánh dấu thành tố chuẩn. 7 Căn cứ vào sự xuất hiện của đánh dấu thành tố chuẩn và đánh dấu mức độ, Haspelmath (2017) đã chia câu so sánh ngang bằng trong các ngôn ngữ trên thế giới thành sáu loại sau (xem Bảng 2-1): Bảng 2-1. Sáu loại câu so sánh ngang bằng Loại Kết cấu Miêu tả Chỉ có đánh dấu thành tố Đây là kết cấu phổ biến nhất trên thế giới, I chuẩn trong đó đánh dấu thành tố chuẩn cóthể đặt trước hoặc đặt sau thành tố chuẩn.

Có đánh dấu thành tố chuẩn Đây là kết cấu thường sử dụng nhất trong các II và đánh dấu mức độ ngôn ngữ châu Âu. Đánh dấu mức độ đồng chỉ Trong kết cấu này, thành tố so sánh vàthành tố chuẩn kết hợp với nhau tạo thành một cụm III đẳng lập, vừa làchủ ngữ vừa làchủ đề của câu. Động từ [+ ngang bằng/ đạt Đây là kết cấu phổ biến trong các ngôn ngữ được] làvị ngữ chí nh châu Phi. Trong đó, thành tố so sánh làchủ IV ngữ, thành tố chuẩn là tân ngữ thứ nhất, thông số so sánh làtân ngữ thứ hai.

Động từ [+ ngang bằng/ đạt Trong kết cấu này, thành tố so sánh vàthành được] là vị ngữ chí nh và tố chuẩn kết hợp với nhau tạo thành một cụm V đồng chỉ đẳng lập, làm chủ ngữ của câu, động từ [+ ngang bằng/ đạt được] là vị ngữ chí nh của câu. Động từ [+ ngang bằng/ đạt Trong kết cấu này, thông số so sánh làvị ngữ VI được] làvị ngữ phụ nh của câu, động từ [+ ngang bằng/ đạt chí được] làvị ngữ phụ của câu. Nguồn: Tổng hợp từ Haspelmath (2017). Theo Haspelmath (2017), câu so sánh ngang bằng của các ngôn ngữ trên thế giới có ba đặc điểm chung (generalization) sau: 8 Thứ nhất, không cóngôn ngữ nào chỉ có đánh dấu mức độ mà không có đánh dấu thành tố chuẩn; Thứ hai, nếu ngôn ngữ nào cóthông số so sánh đứng sau thành tố chuẩn, thì ngôn ngữ đó thường sẽ làngôn ngữ cótrật tự từ làOV; Thứ ba, nếu thành tố chuẩn đứng trước thông số so sánh thì đánh dấu thành tố chuẩn thường đứng sau thành tố chuẩn, ngược lại nếu thành tố chuẩn đứng sau thông số so sánh thì đánh dấu thành tố chuẩn thường đứng trước thành tố chuẩn.3 Câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc So sánh ngang bằng lànội dung được các nhàngôn ngữ học Trung Quốc quan tâm, nghiên cứu trong nhiều năm trở lại đây.

Các nghiên cứu này đã tập trung phân tích phương diện ngữ nghĩa và cú pháp của câu so sánh ngang bằng (Zhu Dexi (朱 德熙), 1982; Cheng Lele (程乐乐), 1999; Liu Suqiao (刘苏乔), 2002). Tuy còn tồn tại sự chưa thống nhất về phạm vi vàsố lượng loại câu so sánh ngang bằng trong n chung các nhànghiên cứu đều cho rằng cóba loại câu tiếng Trung Quốc, song nhì so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc là: câu so sánh ngang bằng cótừ “跟/ 和/ 同/ 与”, câu so sánh ngang bằng có từ “像” và câu so sánh ngang bằng có từ “有”.1 Câu so sánh ngang bằng cótừ “跟/ 和/ 同/ 与” Vídụ: (3) 他们也跟我们一样幸福。(Kho ngữ liệu BCC) (4) 我们和你一样伤心!(Kho ngữ liệu BCC) (5) 我听得同他一样吃力。(Kho ngữ liệu BCC) (6) 其高度可与一座海拔千米的高山一样高。(Kho ngữ liệu BCC) Trong câu (3), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “他们”, thành tố chuẩn là “我们”, thông số so sánh là “幸福”, đánh dấu thành tố chuẩn là “跟”, đánh dấu mức độ là “一样”. Ở câu (4), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh 9 là “我们”, thành tố chuẩn là “你”, thông số so sánh là “伤心”, đánh dấu thành tố chuẩn là “和”, đánh dấu mức độ là “一样”. Trong câu (5), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “我”, thành tố chuẩn là “他”, thông số so sánh là “吃力”, đánh dấu thành tố chuẩn là “同”, đánh dấu mức độ là “一样”.

Ở câu (6), câu so sánh ngang bằng có thành tố so sánh là “其高度”, thành tố chuẩn là “一座海拔千米的高山”, thông số so sánh là “高”, đánh dấu thành tố chuẩn là “与”, đánh dấu mức độ là “一 样”. Cóthể thấy, câu so sánh ngang bằng cótừ “跟/ 和/ 同/ 与” là loại câu có đánh dấu thành tố chuẩn và đánh dấu mức độ, thuộc loại II theo cách phân loại của Haspelmath (2017). Loại câu này cótrật tự từ như sau: thành tố so sánh + đánh dấu thành tố chuẩn + thành tố chuẩn + đánh dấu mức độ + thông số so sánh.2 Câu so sánh ngang bằng cótừ “像” Vídụ: (7) 你仍然像 25 年前一样迷人。(Kho ngữ liệu BCC) (8) 妖妖,你像一个死人一样凉!(Kho ngữ liệu BCC) (9) 那颜色像万里雪冰一样清亮纯净。(Kho ngữ liệu BCC) (10) 重庆像上海一样繁华。(Kho ngữ liệu BCC) Ở câu (7), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “你”, thành tố chuẩn là “25 年前”, thông số so sánh là “迷人”, đánh dấu thành tố chuẩn là “像”, đánh dấu mức độ là “一样”. Trong câu (8), câu so sánh ngang bằng có thành tố so sánh là “你”, thành tố chuẩn là “一个死人”, thông số so sánh là “凉”, đánh dấu thành tố chuẩn là “像”, đánh dấu mức độ là “一样”.

Ở câu (9), câu so sánh ngang bằng có thành tố so sánh là “那颜色”, thành tố chuẩn là “万里雪冰”, thông số so sánh là “清 亮纯净”, đánh dấu thành tố chuẩn là “像”, đánh dấu mức độ là “一样”. Trong câu (10), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “重庆”, thành tố chuẩn là “上 10 海”, thông số so sánh là “繁华”, đánh dấu thành tố chuẩn là “像”, đánh dấu mức độ là “一样”. Cóthể thấy, câu so sánh ngang bằng cótừ “像” là loại câu có đánh dấu thành tố chuẩn và đánh dấu mức độ, thuộc loại II theo cách phân loại của Haspelmath (2017). Loại câu này có trật tự từ như sau: thành tố so sánh + đánh dấu thành tố chuẩn + thành tố chuẩn + đánh dấu mức độ + thông số so sánh.3 Câu so sánh ngang bằng cótừ “有” Vídụ: (11) 要是我有你那么高多好。(Kho ngữ liệu BCC) (12) 我有他那么帅吗?(Kho ngữ liệu BCC) (13) 该墓有一个篮球场那么大。(Kho ngữ liệu BCC) (14) 盒子有他们书包那么厚。(Kho ngữ liệu BCC) Trong câu (11), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “我”, thành tố chuẩn là “你”, thông số so sánh là “高”, đánh dấu thành tố chuẩn là “有”, đánh dấu mức độ là “那么”.

Ở câu (12), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “我”, thành tố chuẩn là “他”, thông số so sánh là “帅”, đánh dấu thành tố chuẩn là “有”, đánh dấu mức độ là “那么”. Trong câu (13), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “该墓”, thành tố chuẩn là “一个篮球场”, thông số so sánh là “大”, đánh dấu thành tố chuẩn là “有”, đánh dấu mức độ là “那么”. Ở câu (14), câu so sánh ngang bằng cóthành tố so sánh là “盒子”, thành tố chuẩn là “他们书包”, thông số so sánh là “厚”, đánh dấu thành tố chuẩn là “有”, đánh dấu mức độ là “那么”. Cóthể thấy, câu so sánh ngang bằng cótừ “有” là loại câu có đánh dấu thành tố chuẩn và đánh dấu mức độ, thuộc loại II theo cách phân loại của Haspelmath (2017).

Loại này cótrật tự từ như sau: thành tố so sánh + đánh dấu thành tố chuẩn + thành tố chuẩn + đánh dấu mức độ + thông số so sánh.4 Tiểu kết Từ những phân tí ch trên, chúng tôi nhận thấy câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung Quốc thuộc loại II “có đánh dấu thành tố chuẩn và đánh dấu mức độ”, được cấu tạo bởi năm thành phần là: thành tố so sánh, thành tố chuẩn, thông số so sánh, đánh dấu thành tố chuẩn và đánh dấu mức độ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo "Báo Cáo Nghiên Cứu Về Câu So Sánh Ngang Bằng Trong Tiếng Trung Của Sinh Viên Việt Nam" do TS. Lưu Hớn Vũ thực hiện, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sử dụng câu so sánh ngang bằng trong tiếng Trung của sinh viên Việt Nam. Nghiên cứu không chỉ phân tích các khía cạnh ngữ pháp mà còn chỉ ra những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong việc sử dụng cấu trúc này. Điều này giúp nâng cao nhận thức và cải thiện kỹ năng ngôn ngữ cho người học, đồng thời đóng góp vào việc phát triển phương pháp giảng dạy tiếng Trung tại Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiệu quả, có thể tìm hiểu thêm qua bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của IELTS đến phương pháp giảng dạy kỹ năng nói tiếng Anh cho giáo viên, nơi khám phá ảnh hưởng của IELTS đến phương pháp giảng dạy tiếng Anh. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu nhận thức của giáo viên và sinh viên về khóa học ESP tại Trường Sĩ quan Lục quân số 1 cũng mang đến cái nhìn về nhận thức của giáo viên và sinh viên trong việc học ngoại ngữ. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn có thêm góc nhìn đa dạng về phương pháp giảng dạy và học tập trong lĩnh vực ngôn ngữ.