PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Ngày nay chúng ta không thể phủ nhận vai trò của ngôn ngữ trong mọi lĩnh vực văn hóa, tinh thần cũng nhƣ công việc kinh doanh trên toàn thế giới nói chung và của dân tộc ta nói riêng. Nhờ có ngôn ngữ là công cụ giao tiếp mà con ngƣời có thể cùng nhau tồn tại và phát triển. Hơn nữa con ngƣời không thể sống khép kín, độc lập một mình mà luôn luôn có những mối quan hệ gắn bó, ràng buộc lẫn nhau giữa các dân tộc cũng nhƣ các quốc gia.
Hiển nhiên rằng để có một nền kinh tế vững chắc giữa các quốc gia, ngôn ngữ giữ một vai trò rất quan trọng. Với một ngôn ngữ chung con ngƣời có thể xích lại gần nhau, cùng nhau bàn bạc, thống nhất, giúp đỡ tƣơng trợ trong sự hiểu biết và thông cảm. Ngôn ngữ càng phát triển, sự giao tiếp càng mở rộng thì các yếu tố biểu đạt thời gian đƣợc sử dụng càng nhiều, càng đa dạng. Biết diễn đạt đúng những yếu tố thời gian là một trong những yêu cầu trong chuẩn mực ngôn ngữ, vốn là vấn đề đang đƣợc đặt ra đối với tiếng Anh và tiếng Việt hiện nay.
Phƣơng thức biểu đạt là đơn vị ngôn ngữ đƣợc ngôn ngữ học nói chung, ngữ pháp học nói riêng quan tâm nghiên cứu từ rất sớm bao gồm tất cả các ngôn ngữ của các quốc gia.Trong các phƣơng thức biểu đạt, những yếu tố biểu thị ý nghĩa thời gian, tƣơng lai xuất hiện rất phổ biến trong câu nói hàng ngày của ngƣời Anh và ngƣời Việt. Thông qua đó, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học có thể thấy đặc điểm tri nhận, đặc điểm tâm lý của hai dân tộc Việt Nam và Anh. Thời gian trong ngôn ngữ là một phổ niệm, nhƣng phƣơng thức biểu thị thời gian lại mang tính đặc thù của từng ngôn ngữ. Có những ngôn ngữ biểu thị bằng các phƣơng tiện từ vựng (hệ thống từ chức năng, trật tự các thành tố trong câu, v.), cụ thể là tiếng Việt, cũng có ngôn ngữ biểu thị bằng các phƣơng tiện hình thái học thông qua hệ thống các hình vị ngữ pháp, trong đó có tiếng Anh.
Những ngôn ngữ ở nhóm đầu đƣợc gọi những ngôn ngữ không có thì (tensedless languages), còn nhóm thứ hai là những ngôn ngữ có thì (tensed languages). Tiếng Việt có thể nói là thuộc nhóm thứ nhất, còn tiếng Anh thuộc nhóm thứ hai. Tuy nhiên, phạm trù thì trong 8 nội bộ từng ngôn ngữ có những biểu hiện cũng nhƣ đƣợc đánh dấu hoàn toàn khác nhau. Trong tiếng Anh, chỉ có quan hệ định vị sự tình trƣớc thời gian phát ngôn đƣợc đánh dấu, hay nói cách khác chỉ có ý nghĩa quá khứ đƣợc biểu thị bằng phƣơng tiện hình thái học, mà cụ thể là dùng hậu tố biến hình từ -ed.
Trong khi đó, ý nghĩa hiện tại và đặc biệt là ý nghĩa tƣơng lai đều không đƣợc đánh dấu, thay vào đó là những phƣơng tiện nằm ngoài cấu trúc vị từ nhƣ vị từ tình thái, kết cấu phân tích tính, v. Sự không đồng nhất này trong tiếng Anh khiến ngƣời Việt học ngôn ngữ này gặp không ít khó khăn trong việc biểu thị ý nghĩa thời gian, đặc biệt là ý nghĩa tƣơng lai trong tiếng Anh. Sự khó khăn nằm ở chỗ: nếu xét trên phƣơng diện đánh dấu hình thái học, tiếng Anh chỉ có hệ thống lƣỡng phân thì: thì quá khứ và thì phi quá khứ, còn theo truyền thống, tiếng Anh có ba thì ứng với hiện tại, quá khứ, và tƣơng lai. Nhƣ chúng ta đã học, Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn có chức năng liên kết chặt chẽ với chính cách thức mà trong đó con ngƣời suy nghĩ và hiểu về thế giới, vì ở mỗi ngƣời đều có sự liên kết giữa tƣ duy và ngôn ngữ.
Từ khuynh hƣớng nghiên cứu này, phƣơng thức biểu đạt không chỉ đƣợc coi là đơn vị cấu trúc mà còn là đơn vị của ngôn ngữ đƣợc con ngƣời trực tiếp sử dụng làm phƣơng tiện giao tiếp hàng ngày. Nói cách khác, phƣơng thức biểu đạt không phải là hình thức trừu tƣợng mà gắn với tình huống ngữ cảnh cụ thể, đó là câu- phát ngôn. Ở đây, câu đƣợc xem xét đồng thời trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học- dụng học. Bình diện kết học chủ yếu xem xét cấu trúc cú pháp của câu với nhiệm vụ trung tâm là xác định các chức năng cú pháp trong câu.
Việc tìm hiểu và trao đổi về ngôn ngữ và văn hóa Anh là một nhu cầu ngày một tăng không chỉ đối với những ngƣời Việt mà còn dành cho tất cả mọi ngƣời trên toàn thế giới. Số lƣợng các đơn vị biểu thị ý nghĩa tƣơng lai khá lớn và cách biểu đạt ý nghĩa tƣơng lai trong tiếng Anh cũng rất đa dạng. Vì vậy, ngƣời Anh cũng nhƣ ngƣời Việt học và nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Anh cần có sự hiểu biết về các phƣơng thức biểu thị ý nghĩa tƣơng lai trong tiếng Anh, đây là một yêu cầu không thể thiếu trong việc bồi dƣỡng năng lực giao tiếp của ngƣời nói, đặc biệt là 9 những ngƣời học tiếng Anh với tƣ cách là ngôn ngữ thứ hai tại Việt Nam trong tƣơng lai gần. Hiện nay, quan hệ tiếp xúc, giao lƣu văn hoá, ngôn ngữ giữa hai đất nƣớc Việt Nam và Vƣơng Quốc Anh ngày càng phát triển tốt.
Việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của nhau cũng góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nƣớc ngày càng thắt chặt hơn nữa. Làm rõ bình diện này trong tiếng Anh và xác lập cách tiếp cận trong việc giảng dạy hiệu quả hơn ý nghĩa thời gian tƣơng lai cho ngƣời Việt Nam học trên cơ sở đối sánh các phƣơng thức biểu thị ý nghĩa tƣơng lai trong hai ngôn ngữ là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài “Các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và tiếng Việt” cho luận văn cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học So sánh-Đối chiếu.Việc hệ thống, khảo sát và mô tả các phƣơng thức biểu đạt ý nghĩa tƣơng lai sẽ góp phần không nhỏ vào việc xác định và xây dựng những phƣơng pháp hữu ích cho việc giảng dạy, học tập cũng nhƣ nghiên cứu hai ngôn ngữ này. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Việc nghiên cứu về phƣơng thức biểu đạt ý nghĩa tƣơng lai có thể nói là đƣợc bắt đầu khá sớm.Vấn đề về ý nghĩa biểu đạt trong tƣơng lai đã đƣợc làm rõ bởi C. Fillmore, khoảng trƣớc sau 1970, C.
Fillmore viết một loạt bài trong đó nổi tiếng nhất là bài mang tên “The case for case” (Tác dụng của cách) đƣợc công bố năm 1968. Trong bài viết của mình, Fillmore chủ trƣơng rằng có thể xác định một tập hợp các mối quan hệ giữa một vị từ và các tham tố (arguments) của nó để xác định phƣơng thức biểu đạt thời gian của câu. Fillmore làm rõ thuật ngữ cách nhƣ sau: “ Đó là những quan hệ ngữ nghĩa- cú pháp ngầm, đƣợc giả định tạo nên một tập hợp hoàn chỉnh, tồn tại ngầm đối với những ngôn ngữ có vĩ tố, và dạng thức cách của các mối quan hệ cách vẫn là sự biểu đạt trong ngôn ngữ có thể thực hiện đƣợc nhờ những phụ tố, hoặc nhờ các giới từ, hoặc với các cách khác” Một đại diện khác là M. Halliday (1994) đã dựa vào mục tiêu chính của ngữ pháp chức năng là giải thích ngôn ngữ dựa trên cái mà con ngƣời hành xử với sự hỗ trợ chính của ngôn ngữ, nghĩa là con ngƣời sử dụng ngôn ngữ nhƣ thế nào để biểu đạt ý nghĩa giao tiếp trong cuộc sống đời thƣờng hàng ngày.
Ngữ pháp chức 10 năng hệ thống cố gắng đạt đƣợc mục tiêu này bằng cách chấp nhận một số định hƣớng mang tính ngữ nghĩa tƣơng lai và ngữ dụng cao hơn trong ngữ pháp đơn thuần, tức là coi nghĩa học và dụng học nhƣ những bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tổ chức của ngữ pháp để biểu đạt ý nghĩa của câu. Halliday xử lí vấn đề hệ thống tổ chức của ngữ pháp này bằng cách khẳng định rằng ngữ pháp của các ngôn ngữ sẵn có trên thế giới đều đƣợc tổ chức nhằm biểu đạt ý nghĩa trong cùng một câu. Sau thế kỷ 19, một số nhà truyền giáo châu Âu bắt đầu nghiên cứu về ngữ pháp của tiếng Anh và tiếng Việt có sự khác biệt nhƣ thế nào. Các sách ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt này cũng có nghiên cứu về thời gian nhƣng những ngƣời truyền giáo viết theo tiếng châu Âu (tiếng Pháp) nên không thể nói đƣợc chính xác về thời gian đƣợc biểu hiện nhƣ thế nào trong tiếng Anh.
Ngữ pháp cổ điển châu Âu chia thời gian thành quá khứ, hiện tại và tƣơng lai và tƣơng ứng là ba thì: thì quá khứ, thì hiện tại và thì tƣơng lai. Việc diễn đạt thời gian bằng phạm trù “thì “ trong các ngôn ngữ châu Âu là một điều hiển nhiên và các ý nghĩa thời gian đƣợc ngữ pháp hóa (grammaticalized) thành những qui tắc hình thái học bắt buộc. Thì đƣợc xem là những phạm trù ngữ pháp gắn liền với động từ, biểu hiện mối quan hệ thời gian của các hành động, biến cố hay trạng thái của các sự kiện đƣợc nói tới. Theo các nhà ngữ pháp học truyền thống, Thì (tense) dịch từ tiếng Latinh “tempus” là một phạm trù liên quan tới các mối quan hệ thời gian trong chừng mực chúng đƣợc diễn đạt bằng các đối lập ngữ pháp có hệ thống của động từ.
Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hi Lạp và tiếng Latinh đã thừa nhận ba đối lập: quá khứ - hiện tại – tƣơng lai. Ngƣời ta thƣờng giả định rằng sự đối lập 3 vế về thì này là đặc điểm phổ quát của ngôn ngữ.” [Phạm Quang Trƣờng. Phạm trù thì thể và các phƣơng thức biểu đạt thì, thể trong hai ngôn ngữ Pháp – Việt. [T/c Đại học Ngoại ngữ.
ĐHQG HN] Guillaume [1929] đã phân biệt thì thành thì bao hàm và thì hiện lộ. Thì bao hàm là thì gắn liền với động từ ở chính trong động từ. Thì hiện lộ là thì mà phát ngôn gắn cho nó dƣới dạng quá khứ, hiện tại hoặc tƣơng lai. 11 Benvenniste [1966] cho rằng “tính thời gian là một cái khung vốn sẵn có trong tƣ duy.
Nó đƣợc tạo ra trên thực tế trong quá trình phát ngôn. Từ sự phát ngôn mà khởi nguồn phạm trù hiện tại và từ phạm trù hiện tại mà đẻ ra phạm trù thì” [dẫn theo Diệp Quang Ban. Một hƣớng tiếp cận các yếu tố chỉ “tính thời gian” của tiếng Việt.333-342] Comrie [1985] cho rằng “thì là biểu thị thời gian của sự tình trong đối chiếu với các thời điểm khác, thường là với thời điểm phát ngôn. Cambridge University Press.