Chương 1: Cơ sở lí luận Trong chương này chúng tôi trình bày những cơ sở lí luận (lý thuyết về từ vựng – ngữ nghĩa, tiếp xúc ngôn ngữ, mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa) và cơ sở thực tiễn (vài nét giới thiệu về người Ê đê, tiếng Ê đê trong sự so sánh với tiếng Việt) liên quan đến đề tài. Đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của từ chỉ tên gọi thực vật trong tiếng Ê đê (so sánh với tiếng Việt) Ở chương này chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích và miêu tả các đặc điểm định danh thực vật, từ đó suy ra các đặc trưng về tư duy, về văn hóa tộc người dựa trên sự tương quan giữa thực vật và con người Ê đê (so sánh với tiếng Việt). Đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ trạng thái thực vật trong tiếng Ê đê (so sánh với tiếng Việt) Ở chương 3, chúng tôi tiến hành phân tích các đặc điểm chuyển nghĩa ẩn dụ của từ chỉ trạng thái thực vật từ đó chỉ ra các quan niệm của họ về thực vật và con người. Các vấn đề về từ vựng 1.
Từ và cấu tạo từ 1. Khái niệm “từ” Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, đồng thời là một khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học. Vấn đề từ trong một ngôn ngữ là vấn đề thuộc lí luận cơ bản, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã có những nhận định và định nghĩa khái quát về từ như sau: Trong cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương của F.
de Saussure – ông tổ của ngành ngôn ngữ học thế giới, có đưa ra những khó khăn trong nhận định về từ: “vì từ, mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ”. de Saussure, 1973; tr. Trong công trình Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, tác giả J.Lyons nhận định: “Từ là một sự kết hợp của một nghĩa nhất định với một phức thể âm thanh nhất định, có thể giữ một vai trò nhất định” (J. Sapir trong bản dịch tiếng Nga (1934) của Tạp chí Ngôn ngữ đã đưa ra nhận định về từ như sau: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập và bản thân có khả năng làm thành phần câu tối giản”.
Meillet cho rằng “Từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp âm nhất định, có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định”. Trong tiếng Việt, khi nhắc đến đơn vị gọi là “từ”, các nhà ngôn ngữ học còn nhiều tranh cãi. Đây có thể được coi là một vấn đề rất khó của ngôn ngữ vì đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất về khái niệm từ, đồng thời mỗi quan 10 niệm đều có những cách miêu tả riêng đối với đơn vị này. Theo chúng tôi, đến nay có hai hướng quan niệm chính về từ: - Quan niệm mỗi từ là một tiếng: nghĩa là ranh giới của từ trùng với tiếng.
Theo hướng quan niệm này có các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp,… Cụ thể Nguyễn Thiện Giáp đưa ra định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa, dùng để cấu tạo câu nói, có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời” (Nguyễn Thiện Giáp,2013, tr. - Quan niệm coi từ có ba đặc điểm chính: tính hoàn chỉnh về ngữ âm, tính hoàn chỉnh về ý nghĩa và độc lập về cú pháp. Theo hướng quan niệm này, có đông đảo các nhà ngôn ngữ đồng ý như Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu,… Cụ thể: Nguyễn Kim Thản “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác lời nói để vận dụng độc lập và là khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” (Nguyễn Kim Thản, 1963; tr. Khi bàn về “đơn vị trong câu”, tác giả Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt đã cho rằng “Từ là đơn vị nhỏ nhất mà nghĩa và hoạt động tự do trong câu” (Diệp Quang Ban, 2008, tr.
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt đã viết: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc một kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất về cấu tạo” (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr. Vấn đề định nghĩa từ có nhiều ý kiến cần phải tranh luận và các nhà ngôn ngữ học đang tiếp tục nghiên cứu về từ để đưa ra khái niệm hoàn chỉnh. Từ các quan niệm trên, trong luận văn này, chúng tôi chấp nhận định nghĩa như sau: 11 “Từ là đơn vị ngôn ngữ hoàn chỉnh nhỏ nhất, có chức năng định danh, có ý nghĩa, dùng để cấu tạo câu nói, có hình thức của một hoặc một số hình vị”. Phân loại từ tiếng Việt theo cấu tạo Dựa vào quan niệm trên, để phân xuất từ trong tiếng Việt, chúng tôi đưa ra các tiêu chí sau (Đỗ Thị Kim Liên, 2014,tr.210): - Từ là đơn vị của ngôn ngữ, được biểu hiện bằng một hoặc một số âm tiết.
- Có ý nghĩa nhỏ nhất. - Có cấu tạo hoàn chỉnh. - Có khả năng vận dụng tự do để cấu tạo ngữ đoạn/câu. Từ các tiêu chí này, cùng với những đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt, chúng tôi đồng tình với việc phân xuất từ tiếng Việt thành hai loại: từ đơn và từ phức.
Trong từ phức chúng tôi dựa vào phương thức cấu tạo từ chia thành hai loại nhỏ là từ ghép và từ láy. * Từ đơn Từ đơn là từ chỉ có một từ tố. Từ đơn là từ có thể có một âm tiết hoặc cũng có thể có nhiều âm tiết, đặc biệt là từ mượn (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr. Ví dụ: khóc, cười, cây, đẹp, bánh, kẹo, mứt, cơm, canh, bún, xe, nhà,… hoặc các từ mượn tiếng nước ngoài như: tắc kè, xà phòng, mì chính,… * Từ phức: là những từ do ít nhất hai từ tố tạo nên, có thể do hai từ tố cơ sở hoặc từ tố cơ sở và từ tố thứ sinh tạo nên (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.
Từ phức như đã nói gồm 2 loại: - Từ ghép Từ ghép là những từ phức do sự kết hợp hai hoặc hơn hai từ tố cơ sở cấu tạo nên (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr. 12 Ví dụ: đất nước, nhà cửa, cà chua, hoa hồng, nông nghiệp, nông sản, hải sản. Tùy vào quan hệ giữa hai từ tố, các từ ghép được chia thành hai loại là từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa: + Từ ghép hợp nghĩa là từ ghép, trong đó các từ tố trực tiếp kết hợp với nhau theo quan hệ bình đẳng, không có cái nào là chính, cái nào là phụ, cả hai từ tố ghép vào nhau để biểu hiện một nghĩa mới. Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát, tổng hợp và trừu tượng, gộp cả nghĩa của từng từ tố lại biểu thị nghĩa.
Ví dụ: ăn uống, đi lại, đất nước, nhà cửa, cơm canh, bánh mứt,… + Từ ghép phân nghĩa là từ ghép gồm hai từ tố trực tiếp kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ, nghĩa là trong từ ghép đó có một từ tố chính và một từ tố phụ bổ sung nghĩa cho từ tố chính đó, loại từ ghép này còn được gọi là từ ghép phụ thuộc, từ ghép phụ nghĩa, từ ghép đẳng lập, từ ghép bổ sung. Ví dụ: cà tím, cá vàng, cam sành, cà chua, hoa hồng, giấy nháp, nông sản, hải sản. Khi xét các thành tố trong từ ghép chính phụ chúng ta nhận thấy chúng thường không cùng loại, có tính chất khác nhau, được sắp xếp theo trật tự cố định, trong đó các thành tố chính đặt trước, thành tố phụ đặt sau (một số từ ghép chính phụ Hán Việt có trật tự ngược lại: thành tố phụ đặt trước, thành tố chính đặt sau). Thành tố chính phải là thành tố có ý nghĩa từ vựng, thành tố phụ có thể mất ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa từ vựng.
Ý nghĩa từ vựng của từ ghép chính phụ do thành tố chính quyết định, thành tố phụ có vai trò bổ sung phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính. - Từ láy là những từ có chứa hai hay nhiều từ tố có quan hệ với nhau về ngữ âm. Ví dụ: xanh xanh, vàng vàng, gọn gàng, xấu xí, lúng túng, mỉa mai,… 13 Như vậy, quan điểm về từ và phân loại cũng như cấu tạo từ trong tiếng Việt dù đang còn nhiều tranh cãi nhưng phần nào cũng đã có những điểm khái quát nhất định. Từ quan điểm chúng tôi trình bày ở trên, chúng tôi đã xác định được cơ sở cho việc xem xét một đơn vị có phải là từ hay không, và nếu phải thì nó là loại từ gì.
Cùng với đó, xác định chức năng định danh của từ cũng mang một ý nghĩa quan trọng cho đường hướng phân tích của luận văn. Nghĩa của từ 1. Nghĩa của từ là gì? Ngữ nghĩa học nói chung được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ rất sớm. Trên thế giới có thể kể đến một số tác giả như : M.
Breal, Agathon bennary, Friedrich, F.de Saussure,… Ở Việt Nam, nghiên cứu từ vựng - ngữ nghĩa học có thể kế đến một số tác giả như : Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Quang Thiêm,… Theo các nhà ngữ nghĩa học, khi nghiên cứu vấn đề nghĩa của từ (ở đây chỉ đề cập nghĩa từ vựng) người ta thấy có nhiều yếu tố liên quan đến việc hình thành nghĩa của từ như: hình thức ngữ âm của từ, sự vật được gọi tên, khái niệm được biểu thị; những yếu tố thuộc hệ thống ngôn ngữ chi phối liên quan đến nghĩa của từ; tình cảm thái độ, tư tưởng của người sử dụng ngôn ngữ; văn cảnh mà từ xuất hiện… Theo chúng tôi trong các nhân tố nói trên, những nhân tố được coi là quan trọng nhất liên quan đến việc hình thành nghĩa của từ là sự vật, hiện tượng được gọi tên, khái niệm được biểu thị và những yếu tố thuộc hệ thống ngôn ngữ. Có thể hình dung quá trình hình thành nghĩa của từ như sau: sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan phản ánh vào tư duy con người thành các khái niệm. Các khái niệm ấy đi vào hệ thống ngôn ngữ, được ngôn ngữ hóa, trở thành nghĩa của từ.