Mở đầu Phần 2:Cơ sở lí luận và thực tiễn Phần 3:Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4:Kết quả nghiên cứu Phần 5:Kết luận và kiến nghị c 6 Phần 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Về cơ sở lí luận 2. Khái niệm về chi phí và lợi nhuận 2. Chi phí Hiện nay, theo quan điểm của kinh tế học hiện đại thì chi phí được phân ra làm ba dạng sau đây.
a, Chi phí cố định (FC) - định phí Là những chi phí không thay đổi khi khối lượng sản phẩm sản xuất ra thay đổi (tăng hoặc giảm), nó luôn luôn tồn tại trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì nó lại thay đổi (khối lượng sản xuất tăng thì chi phí cố định cho một đơn vi sản phẩm giảm xuống và ngược lại) (Nguyễn Thị Châu, 2007) [7]. Đó là chi phí khấu hao (trả dần) vốn đầu tư cho sản xuất như. - Khấu hao tài sản cố định.
- Tiền thuê mặt bằng làm để làm địa điểm sản xuất (chuồng trại, xưởng sản xuất…). - Tiền thuê bảo vệ. - Lãi xuất ngân hàng. - Chi phí và trang thiết bị bán hàng.
b, Chi phí biến đổi (VC) - biến phí. Là những chi phí thay đổi khi khối lượng sản xuất sản phẩm thay đổi (tăng hoặc giảm). Tổng chi phí biến đổi tùy theo số lượng đơn vị sản phẩm sản xuất ra, xong khi tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm thì nó thường ổn định (Nguyễn Thị Châu, 2007) [7]. Đó là những chi phí hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh như các nguyên nhiên vật liệu, thức ăn gia súc, c 7 phân bón, hay cây con giống… nó thường tăng lên tỷ lệ thuận với từng quy mô sản xuất của doanh nghiệp.
c, Tổng chi phí (TC) Là tổng cộng hai khoản chi phí trên ở một mức sản xuất cụ thể, các doanh nghiệp bao giờ cũng lập một mức giá tối thiểu để bù đắp được tổng chi phí sản xuất (Nguyễn Thị Châu, 2007) [7]. Ngoài ra, trong kinh tế vi mô và kinh doanh còn có các khái niệm về chi phí cận biên và chi phí trung bình liên quan đến các khái niệm chi phí cố định và chi phí thay đổi. Các khoản chi phí này quyết định mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được. Trong trường hợp đơn giản, chi phí cố định không có ý nghĩa quyết định đến sản xuất vì chúng không thay đổi, và doanh nghiệp sẽ quyết định sản xuất nếu giá bán ra cao hơn chi phí sản xuất của mỗi sản phẩm tăng thêm (chi phí biên).
Ngoài ra còn một số khái niệm về chi phí khác như chi phí giao dịch, chi phí cơ hội…[4] 2. Lợi nhuận Lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi nhuận, trong kế toán, là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất. Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí.
Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học [6]. Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận bằng 0. Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm về lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán. Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên, cũng tức là nhỏ hơn giá bán.
Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân bằng chi phí biên, cũng tức là bằng giá bán. Trong c 8 điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0. Tuy nhiên, lợi nhuận kinh tế có thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo. Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên.
Tức là doanh thu có thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản phẩm. Trong cạnh tranh hoàn hảo, doanh thu biên bằng giá. Ngay cả khi giá thấp hơn chi phí bình quân tối thiểu, lợi nhuận bị âm. Tại điểm doanh thu biên bằng chi phí biên, doanh nghiệp lỗ ít nhất [6].
Chuỗi giá trị 2. Khái niệm Ý tưởng về chuỗi giá trị hoàn toàn mang tính trực giác. Chuỗi giá trị nói đến cả loạt các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Michael Van den Berg và cs, 2005) [12]. Theo định nghĩa này có thể giải thích theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, một chuỗi gồm một loạt những thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể gồm có: giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v. Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thành phẩm cuối cùng.
Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và sửa chữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản phẩm. Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện thoại di động có dịch vụ hậu mãi tốt. Cũng tương tự như c 9 vậy đối với một thiết kế có tính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ. Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho phù hợp cho các nguyên liệu tươi sống (như trái cây) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng của thành phẩm và vì vậy, làm tăng giá trị sản phẩm (Michael Van den Berg và cs, 2005) [12].
Chuỗi giá trị theo “nghĩa rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.) để biến một nguyên liệu thô thành một sản phẩm bán lẻ (Michael Van den Berg và cs, 2005) [12]. Chuỗi giá trị ‘rộng’ bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến, vv… Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi. Cần hiểu rằng tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp tiếp cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa họ hình thành và phát triển như thế nào, v. Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùng quan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội và môi trường trong phân tích chuỗi giá trị.
Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như đất đai, nước), có thể làm thoái hoá đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm (Michael Van den Berg và cs, 2005) [12]. Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống, ví dụ như do quan hệ quyền lực giữa các hộ và cộng đồng thay c 10 đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc dễ bị tổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người tham gia chuỗi giá trị. Những mối quan ngại này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nông nghiệp. Lý do là vì các chuỗi giá trị phụ thuộc chủ yếu vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên.
Đồng thời, ngành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổ biến các tiêu chuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích chuỗi giá trị có thể áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia của người nghèo và các tác động tiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến người nghèo. Các khái niệm chính về chuỗi giá trị Phần này giới thiệu tổng quan về các khái niệm chính của chuỗi giá trị từ quan điểm học thuật. Trước hết, phần này nhằm làm rõ khái niệm, thứ hai là trình bày cô đọng tổng quan tài liệu để giới thiệu một số vấn đề chính liên quan đến phân tích chuỗi giá trị. Theo sự phân loại về khái niệm, có ba luồng nghiên cứu chính trong các tài liệu về chuỗi giá trị: phương pháp filière, khung khái niệm do Porter lập ra (1985) và phương pháp toàn cầu do Kaplinsky đề xuất (1999), Gereffi (1994, 1999, 2003) và Korzeniewicz (1994).
a, Filière (Chuỗi) Phương pháp “filière” (filière nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau. Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp. Phân tích chủ yếu làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang phát triển (Michael Van den Berg và cs, 2005) [12]. Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng.
c 11 Do đó, khái niệm chuỗi (filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hoá và xác định những người tham gia và các hoạt động. Tính hợp lý của chuỗi (filière) hoàn toàn tương tự như khái niệm rộng về chuỗi giá trị được trình bày ở trên. Tuy nhiên, các khái niệm chuỗi chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hoá và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi (Michael Van den Berg và cs, 2005) [12]. Phương pháp chuỗi có hai luồng, có vài điểm chung với phân tích chuỗi giá trị: (Michael Van den Berg và cs, 2005) [12].