Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Vấn đề phân định từ loại 1. Van dé phân định từ loại trong tiếng Việt Trong nhiều công trình Việt ngữ học, vấn đề phân định từ loại tiếng Việt đã được nhiều tác giả quan tâm và đề cập. Quan điểm về phạm trù từ loại trong tiếng Việt - Quan điểm phủ nhận phạm trù từ loại: Tiêu biểu cho quan điểm này có Grammont, Lê Quang Trinh,.
Các tác giả này cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết không có từ loại, không có danh từ, động từ, số nhiều, giống đực và giống cái. - Quan điểm thừa nhận phạm trù từ loại: Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận trong tiếng Việt có phạm trù từ loại, tuy vậy tiêu chí và kết quả phân định từ loại của các nhà nghiên cứu này không hoàn toàn giống nhau. Cách tiếp cận về việc phân định từ loại trong tiếng Việt - Cách tiếp cận truyền thống (thuần tuý ý nghĩa khái quát): Tiêu biểu cho quan điểm này (chủ trương phân định từ loại tiếng Việt dựa vào tiêu chuẩn ý nghĩa) là các tác giả Alexandre de Rhodes (1651), Gabriel Aubaret (1863), Trương Vĩnh Ký (1883), Bùi Đức Tịnh (1952),. Các tác giả cho rằng từ tiếng Việt được phân chia thành hai nhóm lớn là thực từ (biểu hiện ý nghĩa từ vựng) va hư từ (biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp).
Nhìn chung, cách phân loại trên là đúng với phần lớn các danh từ, động từ và tính từ của tiếng Việt, nhưng lại không bao quát hết một số lượng lớn các từ giống nhau về ý nghĩa khái quát nhưng khác nhau về thái độ ngữ pháp, thường được gọi là “hiện tượng chuyền loại”. - Cách tiếp cận theo chức vụ cú pháp/ khả năng kết hợp (cách tiếp cận cấu trúc): Tiêu biểu cho cách tiếp cận này có Lê Câm Hy, Phan Khôi (1954). 15 Các tác giả này phân định từ loại dựa vào chức vụ cú pháp và/ hoặc khả năng kết hợp của từ, các tác giả này lấy chức vụ cú pháp làm tiêu chuẩn duy nhất dé phân định từ loại. Điều này dẫn đến việc khó phân biệt các từ loại giống nhau về chức vụ cú pháp.
- Cách tiếp cận theo ngữ nghĩa và ngữ pháp (từ vựng — ngữ pháp): Nhiều nhà Việt ngữ học (Hoàng Tuệ 1962, Nguyễn Kim Thản 1963, Đinh Văn Đức 1986,.) đã tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả hai tiêu chí nội dung và hình thức. Những trình bày nêu trên cho thấy cả ba hướng phân định từ loại tiếng Việt, bên cạnh những ưu điểm, còn có điểm bat cập cả về tiêu chuẩn, cũng như kết quả phân loại. Số lượng từ loại trong tiếng Việt được phân định như sau: - Tác giả Trương Vĩnh Ký (1883) đã phân biệt tám loại từ trong tiếng Việt: danh từ (noun), tính từ (adjective), dai từ (pronoun), động từ (verb), trạng từ (adverb), giới từ (preposition), liên từ (conjunction) va than từ (interjection). - Tác giả Nguyễn Kim Than (1977) đã nâng số loại từ trong tiếng Việt lên thành mười hai: danh từ, thời vi từ, số từ, động từ, tính từ, đại từ, phó từ, giới từ, liên từ, hệ từ, trợ từ, thán từ.
- Trong cuốn Wgữ pháp tiếng Việt (2002), từ loại tiếng Việt được chia thành tám tiểu loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, phụ từ, kết từ, trợ từ, cảm từ. Danh từ, động từ và tính từ thuộc thực từ; phụ từ và kết từ thuộc hư từ; đại từ không thuộc thực từ nhưng gần với thực từ; trợ từ và cảm từ không thuộc thực từ lẫn hư từ và cũng khác với đại từ. - Tác giả Nguyễn Hồng Cồn (2003), phân định từ loại tiếng Việt thành sáu loại lớn (thé từ, vị từ, định từ, phó từ, kết từ và thái từ), bao gồm 12 tiểu loại (danh từ, đại từ, động từ, tính từ, lượng từ, chỉ từ, tiền phó từ, hậu phó từ, 16 giới từ, liên từ, trợ từ, tiểu từ). - Diệp Quang Ban (2005) phân biệt chín loại từ: danh từ, sé tir, động tu, tính từ, dai từ, phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ, than từ.
Trong đó, bốn từ loại đầu thuộc về lớp thực từ, đại từ là lớp trung gian, còn bốn loại từ sau thuộc lớp hư từ. - Từ điển tiếng Việt (2007) phân định tám từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, phụ từ, kết từ, trợ từ, cảm từ. Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Anh Từ loại được phần lớn các nhà ngữ pháp nhà trường thừa nhận, có nguồn gốc từ công trình của các nhà ngữ pháp cô Hy Lạp và Roman; chủ yếu là danh từ, đại từ, động từ, trạng từ, tính từ, giới từ, liên từ và thán từ, cùng với mạo từ, tiểu từ và một số loại từ khác được thêm vào. Vì các thuật ngữ theo truyền thống này không được xác định một cách rõ ràng (chăng hạn như việc sử dụng tiêu chí, khái niệm không rõ và tính giới hạn của định nghĩa về chúng (chỉ phản ánh đặc tính của tiếng Latin, Hy Lạp), nên các nhà ngôn ngữ học có khuynh hướng thích dùng những thuật ngữ như word-class hoặc ƒorm- class dé chi từ loại hơn, và việc phân loại dựa vào tiêu chí hình thức hơn là đặc tính ứng dụng mang tính phổ quát.
Theo Halliday (1985): “Phạm trù từ loại vốn bắt nguồn từ việc phân tích câu ra thành các thành phần, hay nói đúng hơn là phân tích các từ trong câu (chứ không phải từ vốn từ vựng) ra thành các lớp dựa vào chức năng hoặc đặc điểm hình thái của chúng”. Ngày nay, xu huớng chung của ngữ pháp học hiện đại là coi phạm trù từ loại như một phạm trù ngữ pháp mang tính đặc thù của mỗi ngôn ngữ, được xác định dựa trên các tiêu chí ngữ pháp thuần tuý (hình thức hoặc chức năng) phù hợp với các đặc điểm loại hình của ngôn ngữ ay. Các khái niệm về từ loại trong tiếng Anh có những điểm giống tiếng 17 Việt, nhưng do đặc điểm riêng của từng ngôn ngữ, nên cũng có nhiều điểm khác. Thí dụ, khái niệm chung về danh từ, động từ, tính từ,.
thì giống nhau nhưng di sâu vào cau tạo, chức năng, vi trí,. thì khác nhau nhiều. Cần chú ý là cũng có một số nhà ngữ pháp ủng hộ quan niệm tiếng Anh có 8 từ loại (cũng giống như trên nhưng gộp định từ vào tính từ). Nghĩa là tính từ gồm nhiều loại, ké cả mạo từ (article) và số từ (numeral).
Khái niệm danh từ Việc xác định khái niệm danh từ có liên quan chặt chẽ với việc xác định từ loại. Trong những năm nửa đầu thế kỷ 20, một số học giả như Lê Quang Trinh và Grammont cho rằng: “Tiếng Việt chỉ có từ không thôi, nhất loạt là đơn âm tiết”; Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê (1952) cũng phủ nhận sự tồn tại của từ loại trong tiếng Việt. Nhưng từ nửa sau thế kỷ 20 đến nay, các nhà Việt ngữ học đều thừa nhận sự ton tại của các từ loại động từ, tính từ, danh từ trong tiếng Việt. Theo tác giả Dinh Văn Đức: “Danh từ là từ loại quan trọng bậc nhất trong số các từ của một ngôn ngữ nói chung và của tiếng Việt nói riêng.
Danh từ có một số lượng rất lớn trong vốn từ vựng và có một chất lượng hết sức quan trọng trong cơ cau ngữ pháp”. Nguyễn Kim Thản khi định nghĩa danh từ (ông gọi là thể từ) đã dựa trên hai tiêu chí: + Về mặt ý nghĩa: biểu thị sự vật (gồm cả động vật, thực vật, đồ vật, sự kiện, hiện tượng, đại lượng). + Về mặt hình thức: không có khả năng trực tiếp làm vị ngữ mà phải qua môi giới của hư từ là, có khả năng đứng trước những từ chỉ định này, kia, ay, đó. Việc phân định từ loại cũng như việc định nghĩa các khái nệm danh từ, tính từ động từ cần phải dựa trên cơ sở ý nghĩa khái quát của các lớp từ.
Bởi 18 vì xét cho cũng chính ý nghĩa từ vựng của từ quyết định khả năng kết hợp của nó cũng như khả năng gánh vác một chức vụ ngữ pháp nhất định trong câu. Các thuộc tính cú pháp của từ lại được xác định bởi ý nghĩa của chúng. Tiêu chuẩn ngữ nghĩa là một tiêu chuẩn rất quan trọng trong khi phân định cũng như định nghĩa các từ loại. Song với tư cách là một ngôn ngữ phân tích tính điển hình, trong tiếng Việt tồn tại một hiện tượng rất thường gặp là một từ được dùng như một tính từ đồng thời lại được dùng như một danh từ hay một động từ mà không có một sự khác biệt nào về mặt hình thức.
Với những trường hợp như vậy không thể không viện đến khả năng kết hợp cũng như chức vụ cú pháp của nó. Thực tế này chính là động lực tất yếu cho sự xuất hiện phương pháp phân định từ loại cũng như định nghĩa các từ loại dựa trên những tiêu chí toàn diện, đầy đủ và ngày càng hợp lý hơn. Khái niệm danh từ đã được định nghĩa không chỉ dựa vào tiêu chí nghĩa hay tiêu chí về khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp. Theo Dinh Văn Đức [14; tr.25] có ba tiêu chí dé phân định từ loại nói chung, dé xác định khái niệm danh từ nói riêng, đó là: - Tiêu chí ngữ nghĩa.
- Tiêu chí khả năng kết hợp. - Tiêu chí chức vụ cú pháp. Chúng tôi cho rằng, việc đồng thời căn cứ trên cả ba tiêu chí như vậy là một cách làm hợp lý và khoa học. - Về mặt chức năng định danh (ngữ nghĩa): danh từ tiếng Việt có một ý nghĩa khái quát là ý nghĩa thực thể, trong đó nòng cốt là ý nghĩa sự vật.
Trong định nghĩa này, ý nghĩa của danh từ được mở rộng hơn. Những định nghĩa trước đây thường định nghĩa danh từ mang ý nghĩa sự vật. Định nghĩa như vậy là đúng nhưng chưa đủ. Ý nghĩa sự vật là phần chủ yếu trong ý nghĩa của danh từ nhưng nó không bao quát hết những ý nghĩa mà danh từ hàm chứa.
19 Thực tế cho thấy có những danh từ không chỉ sự vật. hiện tượng sự vật hoá, thực thể hoá cá hoạt động, các đặc trưng mà cụ thể là hiện tượng chuyên loại là một bằng chứng thực tế củng cố cho nhận đinh: “Trong tiếng Việt ý nghĩa của danh từ rộng hơn ý nghĩa thường nói là ý nghĩa chỉ sự vật”. “ Y nghĩa sự vật của danh từ là ý nghĩa thực thé, các thực thé ton tại với những đặc trưng về SỐ lượng, khối lượng, tính đa dạng về sự đối lập giữa cái đơn nhất, cái đặc thù và cái phô biến” [25; tr.