Luận án tiến sĩ: So sánh thành ngữ, tục ngữ và ca dao dân tộc Tày

Luận án tiến sĩ nghiên cứu so sánh trong thành ngữ tục ngữ ca dao dân tộc tày, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

240
7
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Tư liệu nghiên cứu

1.5. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa của luận án

1.7. Cấu trúc của luận án

2. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

2.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

2.1.1. Tình hình nghiên cứu về so sánh

2.1.1.1. Ở nước ngoài
2.1.1.2. Ở Việt Nam

2.1.2. Tình hình sưu tầm và nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày

3. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA SO SÁNH TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO DÂN TỘC TÀY

3.1. Kết quả khảo sát tư liệu về so sánh trong thành ngữ, tục ngữ ca dao Tày

3.2. Các dạng so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày

3.2.1. So sánh dạng đầy đủ

3.2.2. So sánh dạng không đầy đủ

3.2.3. So sánh dạng biến thể

3.3. Kết cấu so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày

3.3.1. Kết cấu so sánh đơn

3.3.2. Kết cấu so sánh kép

3.3.3. Kết cấu so sánh trùng điệp

3.4. Đặc điểm cấu tạo của các yếu tố so sánh

3.4.1. Đặc điểm cấu tạo của yếu tố cái so sánh (A)

3.4.1.1. Yếu tố cái so sánh (A) được cấu tạo bằng từ
3.4.1.2. Yếu tố cái so sánh (A) được cấu tạo bằng cụm từ

3.4.2. Đặc điểm cấu tạo của yếu tố cái được so sánh (B)

3.4.3. Đặc điểm cấu tạo của yếu tố từ so sánh (y)

3.4.4. Đặc điểm cấu tạo của yếu tố cơ sở so sánh (x)

4. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA SO SÁNH TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO DÂN TỘC TÀY

4.1. Cơ cấu ngữ nghĩa của so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày

4.2. Quan hệ ngữ nghĩa của so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày

4.2.1. Quan hệ ngữ nghĩa trong một cấu trúc so sánh

4.2.2. Quan hệ ngữ nghĩa giữa các cấu trúc so sánh

4.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của các yếu tố so sánh

4.3.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố cái so sánh (A)

4.3.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố cái được so sánh (B)

4.3.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố cơ sở so sánh (x)

4.3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố từ so sánh (y)

4.4. Quan hệ ngữ nghĩa giữa các yếu tố so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày

4.4.1. Yếu tố cái so sánh (A) thuộc con người - yếu tố cái được so sánh (B) ngoài con người

4.4.2. Yếu tố cái so sánh (A) ngoài con người - yếu tố cái được so sánh (B) thuộc con người

4.4.3. Yếu tố cái so sánh (A) ngoài con người - yếu tố cái được so sánh (B) ngoài con người

4.4.4. Yếu tố cái so sánh (A) thuộc con người - yếu tố cái được so sánh (B) thuộc con người

5. ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÀ TƯ DUY ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA SO SÁNH TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO DÂN TỘC TÀY

5.1. So sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày phản ánh đặc trưng văn hóa

5.2. So sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày phản ánh môi trường sống

5.3. So sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày phản ánh đặc trưng sản xuất

5.4. So sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày phản ánh cộng đồng xã hội - con người

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm hình thức của so sánh trong thành ngữ tục ngữ ca dao dân tộc Tày

Trong nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ, và ca dao của dân tộc Tày, việc phân tích hình thức so sánh là rất quan trọng. So sánh trong các thể loại này không chỉ thể hiện sự phong phú của ngôn ngữ mà còn phản ánh những đặc điểm văn hóa độc đáo của cộng đồng Tày. Các dạng so sánh có thể được chia thành ba loại chính: so sánh đầy đủ, so sánh không đầy đủ và so sánh biến thể. Mỗi loại có cấu trúc và cách sử dụng riêng, thể hiện sự sáng tạo và linh hoạt trong ngôn ngữ. Ví dụ, so sánh đầy đủ thường sử dụng các từ chỉ sự tương đồng rõ ràng, trong khi so sánh không đầy đủ có thể chỉ ra sự tương đồng một cách gián tiếp. Điều này cho thấy ngôn ngữ Tày không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là một phần quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa dân gian.

1.1. Kết cấu so sánh trong thành ngữ tục ngữ ca dao Tày

Kết cấu so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, và ca dao Tày thường được xây dựng từ hai yếu tố chính: yếu tố so sánh (A) và yếu tố được so sánh (B). Yếu tố A thường là một hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày, trong khi yếu tố B có thể là một khái niệm trừu tượng hơn. Sự kết hợp này không chỉ tạo ra hình ảnh sinh động mà còn giúp người nghe dễ dàng hình dung và cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc của câu nói. Đặc biệt, trong văn hóa Tày, việc sử dụng hình ảnh từ thiên nhiên, con người và các hoạt động sản xuất là rất phổ biến, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và môi trường sống. Điều này không chỉ làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn phản ánh truyền thống văn hóaphong tục tập quán của dân tộc Tày.

II. Đặc điểm ngữ nghĩa của so sánh trong thành ngữ tục ngữ ca dao dân tộc Tày

Ngữ nghĩa của so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, và ca dao Tày mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Mỗi cấu trúc so sánh không chỉ đơn thuần là sự tương đồng về hình thức mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa, triết lý sống của người Tày. Ví dụ, một câu tục ngữ có thể chỉ ra sự khôn ngoan, nhạy bén trong cuộc sống, từ đó khuyến khích người nghe rút ra bài học cho bản thân. Đặc biệt, các yếu tố so sánh thường được lựa chọn kỹ lưỡng để phù hợp với bối cảnh văn hóa và xã hội của cộng đồng. Điều này cho thấy sự tinh tế trong cách sử dụng ngôn ngữ của người Tày, đồng thời phản ánh tư duy tộc ngườinhững giá trị văn hóa mà họ gìn giữ qua các thế hệ.

2.1. Quan hệ ngữ nghĩa giữa các yếu tố so sánh

Trong các cấu trúc so sánh, quan hệ ngữ nghĩa giữa các yếu tố A và B thường rất chặt chẽ. Yếu tố A có thể là một hình ảnh cụ thể, trong khi yếu tố B lại mang tính trừu tượng hơn, tạo ra một sự tương phản rõ rệt. Sự tương phản này không chỉ làm nổi bật ý nghĩa của câu mà còn giúp người nghe dễ dàng nhận diện và cảm nhận được thông điệp mà người nói muốn truyền tải. Hơn nữa, việc sử dụng các yếu tố so sánh từ thiên nhiên, con người và các hoạt động hàng ngày không chỉ làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và môi trường sống của họ. Điều này cho thấy văn hóa dân gian Tày không chỉ là một kho tàng tri thức mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng.

III. Đặc trưng văn hóa và tư duy được phản ánh qua so sánh trong thành ngữ tục ngữ ca dao dân tộc Tày

So sánh trong thành ngữ, tục ngữ, và ca dao Tày không chỉ là một phương tiện ngôn ngữ mà còn là một cách thức thể hiện văn hóa dân giantư duy tộc người. Những hình ảnh so sánh thường phản ánh những giá trị văn hóa, phong tục tập quán và triết lý sống của người Tày. Ví dụ, nhiều câu ca dao sử dụng hình ảnh từ thiên nhiên để thể hiện sự gắn bó với đất đai, thể hiện lòng yêu quê hương và trách nhiệm với cộng đồng. Điều này cho thấy rằng ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện để truyền tải những giá trị văn hóa sâu sắc. Qua đó, người Tày không chỉ gìn giữ ngôn ngữ của mình mà còn bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu cho các thế hệ sau.

3.1. Tư duy và phương thức tư duy qua so sánh trong thành ngữ tục ngữ ca dao Tày

Tư duy của người Tày được thể hiện rõ nét qua các cấu trúc so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, và ca dao. Những câu nói này không chỉ đơn thuần là những hình ảnh mà còn chứa đựng những bài học quý giá về cuộc sống, về cách ứng xử và mối quan hệ giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Phương thức tư duy qua so sánh cho thấy sự nhạy bén và tinh tế trong cách nhìn nhận thế giới xung quanh. Người Tày thường sử dụng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc để diễn đạt những ý tưởng phức tạp, từ đó giúp người nghe dễ dàng tiếp nhận và hiểu rõ hơn về thông điệp mà họ muốn truyền tải. Điều này không chỉ làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian của dân tộc Tày.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết. Chƣơng 2: Đặc điểm hình thức của so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày. Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày. Chƣơng 4: Đặc trƣng văn hóa và tƣ duy đƣợc phản ánh qua so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày.

luan an 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về so sánh 1. Ở nước ngoài Lịch sử nghiên cứu so sánh ghi nhận tên tuổi của nhà triết học lỗi lạc ngƣời Hi Lạp Arisstotle (384 - 322 TCN).

Trong cuốn Thi học, khi trình bày về những cách tu từ chủ yếu và phổ dụng, Arisstotle đã chú ý đến so sánh. Ông xem đây là một trong những biện pháp đƣợc sử dụng phổ biến trong văn chƣơng, đặc biệt đắc dụng trong thơ ca nhằm tăng hiệu quả biểu cảm và giá trị thẩm mĩ. Sau này, vấn đề tu từ học và biện pháp tu từ so sánh đƣợc phát triển và nâng cao thành hệ thống lí luận bởi các tác giả Ciceron, Horace, Vigile. Những điều cơ bản mang tính hệ thống của các biện pháp tu từ trong đó có so sánh đƣợc biên soạn thành sách từ thời cổ đại Hy Lạp.

Ở nền văn học Trung Quốc cổ đại, so sánh đƣợc đề cập thông qua những lời bình giải về hai thể: tỉ và hứng trong thi ca dân gian. Các học giả thƣờng dùng khái niệm tỉ và hứng khi nói về phƣơng thức nghệ thuật có liên quan đến cách ví von, bóng gió. Nhìn từ góc độ phong cách học, so sánh đƣợc các tác giả thuộc nhiều quốc gia nhắc đến trong những công trình nghiên cứu: A.Xtêpanov với Phong cách học tiếng Pháp (1965), Vinôgradov với Phong cách học tiếng Nga (1969), Môren với Phong cách học tiếng Pháp (1970). Những công trình này đƣợc giới thiệu ở Việt Nam đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về lí thuyết và ứng dụng của so sánh.

Đồng thời nó cũng khẳng định giá trị của so sánh trong sáng tạo hình tƣợng nghệ thuật. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, so sánh cũng trở thành đối tƣợng đƣợc quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Từ xu hƣớng nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tổng hợp đƣợc các hƣớng nghiên cứu chính về so sánh nhƣ sau: Thứ nhất, nghiên cứu lí thuyết so sánh Nghiên cứu so sánh ở nƣớc ta kế thừa và phát triển từ truyền thống bình giảng tác phẩm văn học Trung Quốc. Do đó, so sánh chủ yếu đƣợc nghiên cứu theo khuynh hƣớng thuộc mĩ từ pháp và nó đƣợc coi là một trong những “phép làm văn”.

Cho đến nay, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lí thuyết của so sánh. Các công trình này đã đƣợc tập hợp và in thành sách tiêu biểu nhƣ: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt [43] của Đinh Trọng Lạc; Phong cách học tiếng Việt [44] của Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà; Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt [91] của Cù Đình Tú; Phong cách học tiếng Việt hiện đại [20] của Hữu Đạt; Các yếu tố và cấu trúc so sánh nghệ thuật [46] của Nguyễn Thế Lịch; Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật [77] của Đào Thản. Trong các công trình này, so sánh đƣợc xem xét chủ yếu trên các phƣơng diện: khái niệm, cấu trúc, các kiểu so sánh và hiệu quả sử dụng. Thứ hai, nghiên cứu ứng dụng của so sánh trong các trường hợp cụ thể Nghiên cứu ứng dụng của so sánh trong sáng tác văn học dân gian tiêu biểu với các tác giả nhƣ: Trƣơng Đông San với Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt [72]; Hoàng Văn Hành với Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt [28]; Hà Quang Năng với Đặc điểm vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt [55]; Hoàng Kim Ngọc với So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt (dưới góc nhìn ngôn ngữ, văn hóa học) [58]; Đỗ Kim Liên với Các phương tiện biểu thị quan hệ so sánh trong các phát ngôn tục ngữ Việt có nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc [49],… Thông qua các công trình này, so sánh đƣợc nhìn nhận bằng việc chỉ ra sự chi phối của từng thể loại và những nét văn hóa đƣợc lƣu giữ qua sáng tác dân gian.

luan an 8 Nghiên cứu so sánh qua đó thấy đƣợc dấu ấn cá nhân của các tác giả. Triển khai theo hƣớng này chủ yếu là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học. Trong đó có thể kể đến các tác giả tiêu biểu sau: Hàn Thị Thu Hƣờng với Phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn [38]; Bùi Văn Huấn với Phương thức so sánh nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên [33]; Đào Thị Mai Sen với So sánh nghệ thuật của tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và tiểu thuyết Nửa chừng xuân (Khải Hưng) [73]; Trịnh Thị Khánh Phƣơng với Các biện pháp tu từ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980: So sánh và ẩn dụ [65];… v.v So sánh đƣợc soi chiếu dƣới góc độ lí thuyết giao tiếp. Đây là hƣớng tiếp cận rất mới với các tác giả tiêu biểu nhƣ: Nguyễn Đức Tồn với Chiến lược liên tưởng - so sánh có định hướng [88]; Trần Thị Oanh Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Việt [61]… Thứ ba, nghiên cứu đối chiếu so sánh trong tiếng Việt với các ngôn ngữ khác Hƣớng nghiên cứu đối chiếu so sánh trong tiếng Việt với các ngôn ngữ khác có thể kể đến tác giả tiêu biểu nhƣ: Phạm Minh Tiến với Đặc điểm thành ngữ so sánh tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt) [84].

Công trình nghiên cứu đã đối chiếu, so sánh để chỉ ra điểm tƣơng đồng và khác biệt về thành ngữ so sánh trong tiếng Việt với tiếng Hán, qua đó thấy đƣợc sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa giữa các ngôn ngữ của các dân tộc. Nhƣ vậy, so sánh đã đƣợc nghiên cứu trên rất nhiều phƣơng diện và đã thu đƣợc khá nhiều thành tựu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu tập trung trên cơ sở ngữ liệu ngôn ngữ của dân tộc Kinh còn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số rất hạn chế. Tình hình sưu tầm và nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày Thành ngữ, tục ngữ, ca dao là nguồn tri thức vô cùng phong phú của ngƣời Việt Nam nói chung và đồng bào dân tộc Tày nói riêng.

Do vậy, nó đã trở thành đối tƣợng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Sự quan tâm này đƣợc thể hiện qua hai phƣơng diện: sƣu tầm và nghiên cứu. Sưu tầm thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày Tƣ liệu công bố những sƣu tầm đầu tiên về thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày có thể đến cuốn Tục ngữ Tày - Nùng của Hoàng Súy, Lạc Dƣơng, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu [75] xuất bản năm 1972. Năm 1984, nhóm tác giả Hà Văn Thƣ, Lã Văn Lô xuất bản cuốn Văn hoá Tày - Nùng [83].

Trong công trình này, các tác giả đã sƣu tầm, tổng hợp và giới thiệu 34 câu tục ngữ ứng xử của ngƣời Tày với môi trƣờng tự nhiên và xã hội. Năm 1996, tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết viết cuốn Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày [5]. Vì là cuốn từ điển nên tác giả chủ yếu thu thập các câu thành ngữ, tục ngữ Tày và đƣa ra cách giải nghĩa. Năm 1997, Mã Thế Vinh đã sƣu tầm thành ngữ, tục ngữ của hai dân tộc Tày và Nùng in thành cuốn Tục ngữ, thành ngữ Tày Nùng vùng Long Thịnh, Thất Khê [98].

Công trình chủ yếu mang tính chất sƣu tầm, giới thiệu thành ngữ, tục ngữ của hai dân tộc Tày và Nùng giới hạn trong một khu vực hẹp. Tài liệu tổng hợp nhất sƣu tầm về thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày có thể kể tới cuốn Thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày của Hoàng Quyết, Hoàng Triều Ân [68]. Trong công trình này, nhóm tác giả đã giải thích nghĩa đối với thành ngữ, tục ngữ và dịch nghĩa sang tiếng Việt đối với những bài ca dao. luan an 10 Thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày không chỉ đƣợc sƣu tầm một cách riêng lẻ mà nó luôn đƣợc đặt trong quan hệ với các dân tộc khác.

Năm 2007, viện Nghiên cứu văn hóa xuất bản cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam [95], [96]. Cuốn sách đã tổng hợp đƣợc một số lƣợng lớn tác phẩm văn học dân gian trong đó có thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc thiểu số khác nói chung. Năm 2013, Trần Thị An viết Tục ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam" [1], [2], [3], cuốn sách tập hợp đƣợc một số lƣợng khá lớn tục ngữ các dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Tày. Trong cuốn tài liệu này tác giả đã tổng hợp tục ngữ theo năm chủ điểm chính: quan niệm về các giá trị, nhận định về các tƣơng quan và kinh nghiệm ứng xử; con ngƣời - quê hƣơng đất nƣớc, các hiện tƣợng tự nhiên, thời tiết và kinh nghiệm lao động, làm ăn; đời sống vật chất; quan hệ gia đình, xã hội và các hiện tƣợng xã hội.

Cuốn sách chủ yếu dừng lại ở việc sƣu tầm và dịch nghĩa những câu tục ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam trong đó có tục ngữ dân tộc Tày. Nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày Thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày không chỉ đƣợc sƣu tầm mà còn đƣợc nghiên cứu sâu trên các khía cạnh khác nhau. Đầu tiên có thể kể đến các công trình nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày trong mối tƣơng quan với các thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc khác. Tiêu biểu cho hƣớng nghiên cứu này là tác giả Nguyễn Nghĩa Dân với cuốn Tục ngữ so sánh dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số Việt Nam [14].

Trong cuốn sách này, tác giả đã liệt kê và phân tích điểm tƣơng đồng và khác biệt về mặt nội dung giữa tục ngữ dân tộc Kinh và tục ngữ dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Tày. Tiếp đến là công trình Đối chiếu thành ngữ Tày - Việt [27], tác giả Trịnh Thị Hà đã đối chiếu để chỉ ra điểm tƣơng đồng, khác biệt về đặc trƣng ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ có thành tố chỉ con ngƣời, chỉ động vật trong tiếng Tày và tiếng Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "So sánh thành ngữ, tục ngữ và ca dao dân tộc Tày" của tác giả Hà Thị Chuyên, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Phạm Văn Hảo, được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2020. Bài luận án này không chỉ khám phá sự phong phú của ngôn ngữ dân tộc Tày mà còn phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa các thành ngữ, tục ngữ và ca dao, từ đó làm nổi bật giá trị văn hóa và tri thức của dân tộc này. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách mà ngôn ngữ phản ánh tư duy và phong tục tập quán của người Tày, đồng thời mở rộng hiểu biết về ngôn ngữ Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh pháp lý liên quan đến văn hóa và ngôn ngữ, có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình", nơi đề cập đến các vấn đề pháp lý trong bối cảnh văn hóa địa phương. Bên cạnh đó, bài viết "Luận văn thạc sĩ về pháp luật giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách mà pháp luật tương tác với các giá trị văn hóa trong xã hội. Cuối cùng, bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ Về Pháp Luật Bảo Hiểm Y Tế Tại Huyện Phúc Thọ, Hà Nội" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh pháp lý trong lĩnh vực y tế, một phần không thể thiếu trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về mối liên hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và pháp luật trong xã hội Việt Nam.