Luận án tiến sĩ: Khám phá đặc điểm thi pháp và diễn xướng truyện cười tại các làng cười Bắc Bộ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu truyện cười ở các làng cười bắc bộ đặc điểm thi pháp và diễn xướng, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Văn Học Dân Gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

234
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận án

0.7. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN VỀ LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN Ở BẮC BỘ, LỊCH SỬ SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU TRUYỆN CƯỜI

1.1. Truyện cười dân gian

1.2. Truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại

1.3. Truyện trạng, truyện cười kết chuỗi, truyện cười lẻ/ truyện cười độc lập

1.4. Truyện khôi hài, truyện tiếu lâm. Truyện cười ở các làng cười

1.5. Tổng quan về làng xã cổ truyền người Việt ở Bắc Bộ, cái nôi sinh thành truyện cười

1.6. Bắc Bộ là một vùng văn hoá tiêu biểu

1.7. Làng xã người Việt ở Bắc Bộ

1.8. Bắc Bộ, nơi tập trung của những làng cười

1.9. Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cười

1.10. Lịch sử sưu tầm truyện cười

1.11. Lịch sử nghiên cứu truyện cười

2. CHƯƠNG 2: THI PHÁP TRUYỆN CƯỜI Ở CÁC LÀNG CƯỜI

2.1. Quá trình nghiên cứu theo hướng vận dụng thi pháp học ở Việt Nam

2.2. Sự giống nhau giữa truyện cười ở các làng cười và truyện cười cổ truyền về mặt thi pháp

2.3. Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp

2.4. Thủ pháp kết thúc bất ngờ

2.5. Thủ pháp khai thác và tạo dựng mâu thuẫn

2.6. Thủ pháp sử dụng văn vần xen vào truyện kể văn xuôi

2.7. Thủ pháp phóng đại ở các làng cười

2.8. Thủ pháp sử dụng yếu tố tục

2.9. Sử dụng phối hợp các thủ pháp gây cười

2.10. Sự khác nhau giữa truyện cười các làng cười và truyện cười cổ truyền về mặt thi pháp. Chỉ có truyện cười ở các làng cười mới để người kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Truyện cười ở các làng cười hầu như hoặc rất ít khi sử dụng các thủ pháp gậy ông đập lưng ông và bắt chước không thành công

2.11. Cả truyện ở làng cười và truyện cười cổ truyền đều sử dụng những thủ pháp giống nhau, nhưng khác nhau về tính chất và mức độ

2.12. Nhận xét sau khi so sánh

3. CHƯƠNG 3: TỪ TRÀO LƯU BỐI CẢNH Ở HOA KỲ ĐẾN VIỆC DIỄN XƯỚNG Ở CÁC LÀNG CƯỜI

3.1. Từ hướng tiếp cận bối cảnh trong folklore Hoa Kỳ đến việc vận dụng ở Việt Nam. Diễn xướng truyện cười ở năm làng cười Bắc Bộ

3.2. Quá trình sưu tầm điền dã

3.3. Diễn xướng truyện cười ở năm làng cười

3.4. Những nhận xét rút ra

3.5. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Khái niệm và tổng quan về làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ

Truyện cười dân gian là một thể loại văn học mang đậm bản sắc văn hóa của người Việt, đặc biệt là ở các làng cười Bắc Bộ. Thi pháp truyện cười ở đây không chỉ phản ánh sự sáng tạo của người dân mà còn thể hiện những giá trị văn hóa, xã hội của cộng đồng. Các làng cười như Trúc Ổ, Hòa Làng, Dương Sơn, và Văn Lang là những nơi lưu giữ và phát triển thể loại này. Những truyện cười ở đây thường mang tính châm biếm, phê phán xã hội, đồng thời cũng là hình thức giải trí gần gũi với đời sống hàng ngày. Văn hóa dân gian Bắc Bộ đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của truyền cười. Qua đó, người dân không chỉ thể hiện sự khéo léo trong ngôn ngữ mà còn phản ánh những mối quan hệ xã hội, phong tục tập quán của từng địa phương.

1.1. Đặc điểm của truyện cười dân gian

Truyện cười dân gian ở Bắc Bộ thường có cấu trúc đơn giản, dễ hiểu, và gần gũi với người nghe. Nghệ thuật kể chuyện là một yếu tố quan trọng, giúp cho truyện cười trở nên sinh động và hấp dẫn. Các thủ pháp như phóng đại, mâu thuẫn, và yếu tố tục được sử dụng một cách linh hoạt để tạo ra tiếng cười. Những yếu tố này không chỉ làm tăng tính giải trí mà còn giúp người nghe nhận thức rõ hơn về những vấn đề xã hội, từ đó tạo ra sự đồng cảm và gắn kết trong cộng đồng.

II. Thi pháp truyện cười ở các làng cười

Thi pháp của truyện cười ở các làng cười Bắc Bộ có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh sự sáng tạo và phong phú trong nghệ thuật kể chuyện. Các thủ pháp như sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, kết thúc bất ngờ, và khai thác mâu thuẫn là những yếu tố chính tạo nên sức hấp dẫn của thể loại này. Sự khác biệt giữa truyện cười cổ truyềntruyện cười ở các làng cười cũng được thể hiện rõ qua cách thức kể chuyện và nội dung. Trong khi truyện cười cổ truyền thường mang tính chất nghiêm túc hơn, thì truyện cười ở các làng cười lại thường mang tính châm biếm, hài hước và gần gũi hơn với đời sống hàng ngày.

2.1. Các thủ pháp nghệ thuật trong truyện cười

Các thủ pháp nghệ thuật trong truyện cười bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, tạo dựng mâu thuẫn, và phóng đại. Những yếu tố này không chỉ giúp tạo ra tiếng cười mà còn phản ánh những vấn đề xã hội một cách sâu sắc. Ví dụ, thủ pháp phóng đại thường được sử dụng để nhấn mạnh những điểm yếu của nhân vật, từ đó tạo ra sự châm biếm. Điều này không chỉ mang lại tiếng cười mà còn giúp người nghe nhận thức rõ hơn về những vấn đề trong xã hội.

III. Diễn xướng truyện cười ở các làng cười

Diễn xướng là một phần không thể thiếu trong việc truyền tải truyện cười. Hình thức diễn xướng ở các làng cười Bắc Bộ thường mang tính cộng đồng, nơi mà mọi người cùng tham gia và thưởng thức. Nghệ thuật hài hước dân gian không chỉ đơn thuần là kể chuyện mà còn là một hoạt động văn hóa, nơi mà người dân có thể thể hiện bản sắc văn hóa của mình. Qua các buổi diễn xướng, những câu chuyện cười không chỉ được truyền tải mà còn được sống dậy, tạo ra không khí vui tươi và gắn kết trong cộng đồng.

3.1. Hình thức diễn xướng và vai trò của nó

Hình thức diễn xướng trong truyền cười ở các làng cười Bắc Bộ thường rất đa dạng, từ những buổi diễn ngoài trời đến các hoạt động trong nhà. Vai trò của diễn xướng không chỉ là để giải trí mà còn là để giáo dục, truyền tải những giá trị văn hóa và xã hội. Những buổi diễn xướng này thường thu hút đông đảo người dân tham gia, tạo ra không khí vui tươi và gắn kết cộng đồng. Qua đó, văn hóa dân gian Bắc Bộ được bảo tồn và phát triển, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN VỀ LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN Ở BẮC BỘ, LỊCH SỬ SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU TRUYỆN CƯỜI 1. Truyện cười dân gian Truyện cười dân gian là những sáng tác do dân chúng sáng tạo và lưu truyền từ xưa đến nay. Dân chúng là một khái niệm bao gồm nhiều tập hợp người với những nghề nghiệp, sở thích, năng khiếu khác nhau. Cái gọi là dân, dân chúng cũng vận động theo thời gian.

Trong thời quân chủ/ phong kiến, dân chúng là những nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và trí thức bình dân. Nông dân là những người sống ở nông thôn, canh tác ruộng đất và chăn nuôi. Thợ thủ công là những người chủ yếu không sản xuất nông nghiệp mà làm các công việc như đan lát, làm đồ mộc, làm gạch, xây dựng nhà cửa,… Tuy phân biệt rành mạch như vậy, nhưng thực tế, những người nông dân làm ruộng là chủ yếu, nhưng họ vẫn có thể đan lát, đóng gạch, làm mộc cho gia đình mình hoặc làm các công việc trên để có sản phẩm đem bán hoặc dựng nhà, dựng cửa cho người khác để nhận thù lao khi nông nhàn. Số lượng những người thợ thủ công chỉ chuyên làm nghề này không nhiều.

Ở Bắc Bộ, thời quân chủ chỉ có hai làng không có nghề làm ruộng là làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) và làng gốm Quế Quyển (Hà Nam). Do không có đất đai sản xuất, hai làng này không có người làm ruộng. Khi nói đến nghề thủ công, hiện nay chúng ta hay nói đến làng nghề. Nói như vậy không có nghĩa là cả làng đó làm nghề, mà chỉ có một bộ phận lớn sản xuất ra một mặt hàng nhất định như làng mây tre đan, làng làm lược, làng làm trống.

Trong làng vẫn có một bộ phận chuyên làm nông nghiệp và những người thợ thủ công ở những làng vừa nêu cũng biết làm nghề nông. Những người làm nghề buôn bán trong xã hội quân chủ thường là những người buôn bán nhỏ và đại đa số là phụ nữ. Ngày xưa phụ nữ chỉ không làm các nghề buôn gia súc (trâu, bò, lợn) và buôn bè. Ở Bắc Bộ cũng đã hình thành một số làng buôn như Đan Loan, Báo Đáp, Phù Lưu nhưng xu thế của những người buôn 9 bán là không đầu tư tiền lãi vào việc phát triển nghề này mà khi có nhiều tiền lại mua thêm ruộng đất.

Cái căn tính nông dân đã không làm cho Bắc Bộ có những nhà buôn lớn. Nói đến trí thức bình dân là nói đến các nhà nho đi thi không đỗ hoặc là những người đã đỗ đạt nhưng chưa phải đại khoa, họ làm một chức quan nhỏ sau một thời gian vì những lý do nhất định lại trở về làng làm dân. Những người đó ta gọi là trí thức bình dân, bao gồm nhà nho chưa đi thi, nhà nho đi thi không đỗ và những viên quan nhỏ về hưu. Bốn kiểu người vừa nêu được sách vở phong kiến xếp vào loại dân, với trật tự ngược lại là sĩ, nông, công, thương.

Một trò diễn cổ truyền ở làng Tứ Xã (Phú Thọ) đã thể hiện các nhân vật này trong hội làng. Nói như trên tuy đã chi tiết nhưng chưa bao gồm hết những người được gọi là dân. Còn có các ngư dân, dân nghèo thành thị, các cô đào hát, anh kép hát, người xẩm mù, thậm chí cả các cô gái bán hoa và binh lính,… tất cả họ đều là dân. Văn học dân gian nói chung và truyện cười dân gian nói riêng là do những người trên sáng tác, lưu truyền.

Theo truyền thống, chúng ta nói tắt truyện cười dân gian là truyện cười. Thực ra còn có các truyện cười bác học, có tác giả. Tuy nhiên ở nước ta loại truyện này khá hiếm, chưa kể một số ít lại được dân gian hóa trở thành của dân. Từ khi người Pháp xâm lược nước ta đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngoài những người dân như trên, có thêm công nhân (đương thời gọi là cu li, thợ thuyền) làm việc trong các hầm mỏ, các đồn điền, trong các nhà máy (dệt, xi măng, diêm); trong khi các nhà nho bình dân ngày một ít đi, số lượng dân nghèo thành thị lại càng ngày càng tăng lên, bên cạnh một bộ phận dân mới là trí thức tân học (kiểu anh giáo Thứ của Nam Cao).

Trong thời Pháp thuộc, những người vừa nêu gọi là dân. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1954, thành phần dân có những chuyển biến khác. Trong vài chục năm hiện nay, cái gọi là dân rõ ràng khác xa so với dân thời quân chủ. Truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại "Thời gian qua, nhiều nhà khoa học dùng từ cổ truyền (trong các khái niệm: văn học dân gian cổ truyền, văn nghệ dân gian cổ truyền, văn hóa dân gian cổ truyền, văn hóa cổ truyền) với ý nghĩa chỉ thời gian, trong tương quan so sánh với 10 từ hiện đại (trong các khái niệm: văn học dân gian hiện đại, văn hóa dân gian hiện đại, văn hóa hiện đại…).

Trong cách dùng này, cổ truyền là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám (1945) trở về trước, hiện đại là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu hành từ sau Cách mạng tháng Tám (1945)” [6, 3]. Theo Nguyễn Xuân Kính, trong hai tập Văn học dân gian (xuất bản lần đầu 1972-1973), trong tập 1 (Văn học dân gian) của bộ Tinh tuyển văn học Việt Nam (xuất bản năm 2004), trong sách Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (xuất bản lần đầu 1984, với bút danh Trần Từ), Đinh Gia Khánh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Từ Chi đã sử dụng hai từ cổ truyền và hiện đại với cách hiểu nêu trên. Từ năm 1994 đến năm 2010, trong những tiết dạy chuyên đề Tiến trình văn hóa dân gian và khoa nghiên cứu văn hóa dân gian tại các lớp cao học thuộc cơ sở đào tạo Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian (sau đổi thành Viện Nghiên cứu văn hóa), nhà giáo Nguyễn Xuân Kính sử dụng khái niệm văn hóa dân gian cổ truyền, văn hóa dân gian hiện đại với cách hiểu văn hóa dân gian cổ truyền là văn hóa dân gian được sáng tạo và lưu truyền từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Với văn hóa dân gian đương đại, ông coi đây là khái niệm chỉ những sáng tạo dân gian ra đời trong khoảng 15 đến 20 năm gần đây (tính từ thời điểm phát ngôn hai tiếng “gần đây”).

Tóm lại, văn học dân gian nói chung và truyện cười nói riêng được sáng tác và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám trở về trước được gọi là văn học dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian cổ truyền. Văn học dân gian từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay được gọi là văn học dân gian hiện đại. Văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền trong vài chục năm gần đây được gọi là văn học dân gian đương đại. Tóm lại, có truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại và truyện cười dân gian đương đại.

Truyện trạng, truyện cười kết chuỗi, truyện cười lẻ/ truyện cười độc lập Các truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ,… là những hệ thống truyện xoay quanh một nhân vật chính là Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ. Các nhà nghiên cứu gọi đó là truyện cười kết chuỗi, trong đó mỗi một truyện như “Trời sinh ông Tú Cát”, “Dê đực chửa”… trong truyện Trạng Quỳnh có thể được kể độc lập. 11 Những truyện cười không nằm trong hệ thống truyện trạng vừa nêu được gọi là truyện cười độc lập hoặc truyện cười đơn lẻ. Tuy khác nhau về chi tiết, nhưng các tác giả Đinh Gia Khánh [7, 374-376], Lê Chí Quế [8, 138], Hoàng Tiến Tựu [9, 85-86], Nguyễn Bích Hà [10, 115-126], Nguyễn Việt Hùng [11, 154] đều xếp truyện cười kết chuỗi/ truyện trạng vào thể loại truyện cười (cùng với truyện cười không kết chuỗi/ đơn lẻ/ độc lập).

Đỗ Bình Trị thì khác, từ năm 1978 đến năm 1999, ông nhất quán xác định truyện trạng/ truyện cười kết chuỗi là một bộ phận của truyện cổ tích sinh hoạt trong thể loại truyện cổ tích [12, 116]. Các tác giả Trương Sĩ Hùng, Nguyễn Chí Bền, Mai Hương, Phạm Lan Oanh, Vũ Mai Hoàng,. [11, 154], Triều Nguyên [13] có xu hướng tách truyện trạng thành một thể loại riêng, bên cạnh thể loại truyện cười. Khi chủ trì bộ sách Tổng tập văn học dân gian người Việt, Nguyễn Xuân Kính dùng biện pháp dung hòa: thống nhất với tác giả Nguyễn Chí Bền để các truyện cười độc lập vào tập 8, đề tên Truyện cười; để các truyện trạng vào tập 9, đề Truyện cười.

Phần truyện Trạng1. Chúng tôi nghĩ, tuy truyện trạng khác truyện cười đơn lẻ/ độc lập ở mỗi hệ thống truyện gồm nhiều truyện thành phần, có thể kể độc lập; nhân vật trung tâm không phải là đối tượng bị chế giễu, phê phán (Trạng Quỳnh, Xiển Ngộ,…) nhưng cả hai bộ phận truyện cười lẻ/ độc lập và truyện cười kết chuỗi/ trạng đều giống nhau ở thủ pháp gây cười. Bởi vậy, khi bàn đến truyện cười cổ truyền, chúng tôi dành sự quan tâm cho các truyện cười lẻ/ độc lập/ không kết chuỗi, khi cần thiết mới liên hệ với truyện trạng/ truyện cười kết chuỗi. Truyện khôi hài, truyện tiếu lâm Truyện khôi hài cũng là truyện cười.

Nhưng khi nói đến truyện khôi hài người ta thường nghĩ đến tiếng cười nhẹ nhàng, ít khi là tiếng cười đả kích, châm biếm dữ dội. Về truyện tiếu lâm, theo nghĩa của từ thì tiếu lâm có nghĩa là rừng cười. Vậy truyện tiếu lâm có nghĩa là truyện cười. Các sưu tập truyện cười ở Trung Quốc đều gọi là truyện tiếu lâm, thí dụ Tiếu lâm quảng ký của Trung Quốc bản in đời Thanh [14, 1 Tư liệu phỏng vấn GS.TS Nguyễn Xuân Kính tại nhà riêng, tháng 12 năm 2022.

Các nhà nho của ta cũng hay dùng từ tiếu lâm trong tên sách, thí dụ Tiếu lâm tân truyện, khắc in năm Khải Định năm thứ nhất - 1916 [14, 539]. Song có một số người nghĩ và hiểu rằng những truyện tiếu lâm là những truyện có yếu tố tục, thậm chí rất tục. Những năm 1970 - 1971, khi sưu tầm văn học dân gian ở xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nhà nghiên cứu văn học dân gian nổi tiếng Nguyễn Đổng Chi cho rằng: “Tiếu lâm nhiều lắm cũng chỉ là một yếu tố văn học”, nhưng khác với vè là nó không thành văn. Ông xác định đặt vè vào văn học còn được, nhưng e rằng sẽ là một sự cưỡng ép thực sự nếu đặt tiếu lâm vào văn học.

Sở dĩ Nguyễn Đổng Chi không chủ trương đặt truyện tiếu lâm vào văn học vì một trong những đặc điểm chủ yếu của tiếu lâm Việt Nam là yếu tố dâm tục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm thi pháp và diễn xướng truyện cười làng cười Bắc Bộ" là một nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật kể chuyện và biểu diễn truyện cười trong văn hóa dân gian Bắc Bộ. Tài liệu này không chỉ phân tích đặc điểm thi pháp độc đáo của thể loại truyện cười mà còn khám phá cách thức diễn xướng, mang đến cái nhìn toàn diện về giá trị văn hóa và nghệ thuật của loại hình này. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự sáng tạo, hài hước và tinh thần phản ánh đời sống xã hội qua những câu chuyện cười dân gian.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về văn học dân gian, hãy khám phá thêm Luận án tiến sĩ văn học dân gian truyền thuyết phạm nhan và tín ngưỡng thờ ác thần của người việt ở bắc bộ, nghiên cứu về truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam đặc điểm ca dao đồng tháp cung cấp góc nhìn sâu sắc về ca dao trong bối cảnh văn hóa Việt Nam. Cuối cùng, Luận văn đặc điểm tục ngữ khmer đồng bằng sông cửu long sẽ mở rộng hiểu biết của bạn về văn hóa ngôn ngữ dân tộc. Mỗi tài liệu là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào thế giới phong phú của văn học dân gian.