phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; Luận án của chúng tôi đƣợc kết cấu làm 4 chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1. Tổng quan về cơ sở lí thuyết và tình hình nghiên cứu của đề tài Chƣơng 2. Khảo sát hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan Chƣơng 3.
Truyền thuyết Phạm Nhan và kiểu truyện về ác thần của ngƣời Việt Chƣơng 4. Tục thờ Phạm Nhan trong tín ngƣỡng thờ ác thần của ngƣời Việt. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan và tín ngƣỡng thờ ác thần của ngƣời Việt là một hƣớng khai thác vấn đề mới. Ngƣời viết đã tìm hiểu những bài viết, những công trình chuyên luận nghiên cứu riêng về vấn đề này, nhƣng kết quả thu đƣợc rất ít.
Những bài viết về truyền thuyết Phạm Nhan hầu nhƣ đƣợc triển khai trong những nội dung nhỏ lẻ, không mang tính hệ thống. Phạm Nhan chỉ đƣợc nhắc đến nhƣ một sự liên hệ, mở rộng vấn đề trong các công trình nghiên cứu về Đức Thánh Trần. Đây cũng là một trong những khó khăn của chúng tôi trong quá trình sƣu tầm tƣ liệu. Tuy nhiên, để thực hiện đề tài này chúng tôi đã dựa vào một số lí thuyết cơ sở và những nghiên cứu nhỏ lẻ trƣớc đó về nhân vật.
Trong nội dung chƣơng 1, chúng tôi triển khai ba vấn đề: - Cơ sở lí thuyết của đề tài - Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan và tín ngƣỡng thờ ác thần - Đánh giá tình hình nghiên cứu và định hƣớng của đề tài 1. C sở lí thuyết của đề tài 1. Xác định một số thuật ngữ, khái niệm 1. Truyền thuyết Truyền thuyết đƣợc gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau trên thế giới: tiếng Anh gọi là legend; tiếng Pháp dùng chữ légende và tiếng Đức dùng chữ sage.
Truyền thuyết là từ gốc Hán, nhƣng không phải thuật ngữ đã có từ xa xƣa ở Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch cho biết: “Theo giới nghiên cứu Folklore Trung Quốc thì đây là một danh từ đƣợc chuyển dịch từ thuật ngữ sage trong tiếng Đức” [52,132]. Chữ sage trong tiếng Đức có nghĩa là truyện ngắn về sự kiện trong quá khứ mà không cần có sự đảm bảo về lịch sử. Ở Việt Nam, có lẽ Đào Duy Anh là ngƣời sớm sử dụng từ truyền thuyết khi ông viết về vấn đề “Những truyền thuyết đời thƣợng cổ nƣớc ta”.
Đến những năm 50 của thế kỉ XX, thuật ngữ truyền thuyết đã đƣợc sử dụng nhiều hơn. Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn trong công trình Lƣợc thảo lịch sử văn học Việt Nam, khi xác định ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết, bƣớc đầu định nghĩa truyền thuyết nhƣ sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lƣu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Nhƣ vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có những 9 truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi Vọng Phu…) hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện bánh chƣng bánh giầy, Chuyện Trầu Cau), hoặc giải thích phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác” [27, 60]. Đến những năm 60, danh từ truyền thuyết cũng nhƣ nội dung truyền thuyết dân gian đã trở nên quá quen thuộc với nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, qua cuộc tranh luận khá sôi động về một truyền thuyết cụ thể: truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy diễn ra trên Tập san Nghiên cứu văn học (tiền thân của Tạp chí Văn học).
Từ cuối những năm 60 cho đến những năm 70 trở đi, đến những năm cuối thế kỉ XX có nhiều bài báo, công trình khoa học, giáo trình đại học viết về truyền thuyết. Năm 1970, trong giáo trình Văn học dân gian của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Đỗ Bình Trị đã định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện cổ dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu - là lịch sử hoang đƣờng - hoặc là những truyện tƣởng tƣợng ít nhiều gắn với lịch sử” [102]. Năm 1971, trong một bài tiểu luận “Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến”, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đƣa ra một quan niệm về truyền thuyết mà cho đến nay vẫn đƣợc nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Theo ông: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó kể lại truyện tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phƣơng theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trƣơng, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hƣ ảo, thần kì nhƣ cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thƣờng phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải là hoàn toàn trong trí tƣởng tƣợng và bằng trí tƣởng tƣợng” [16].
Năm 2001, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lê Chí Quế đã đƣa ra định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hƣ cấu nghệ thuật thần kì” [97,49]. Vấn đề phân loại truyền thuyết có nhiều khuynh hƣớng khác nhau. Các nhà folklore Nhật Bản cũng có nhiều cách phân loại khác nhau đối với thể loại truyền thuyết. Trong đó có quan niệm của Seki Keigo, đứng trên lập trƣờng nghiên cứu so sánh để phân loại truyền thuyết.
Ông căn cứ vào hình thái tồn tại và chức năng của 10 truyền thuyết làm tiêu chuẩn phân loại. Theo cách phân loại của ông thì truyền thuyết đƣợc chia làm 3 loại: “Truyền thuyết thuyết minh (giải thích sự đời); truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết tín ngƣỡng. Loại thứ nhất - truyền thuyết thuyết minh bao gồm những loại truyền thuyết về các hiện tƣợng tự nhiên có liên quan đến thiên thể; những truyền thuyết về nguồn gốc động thực vật; những truyền thuyết về nham thạch, tảng đá, núi, hang núi, đèo dốc, đỉnh nủi, ao chuôm, đầm vực; những truyền thuyết về nguồn gốc các di tích kiến trúc văn hóa, các từ đƣờng v.v… Loại thứ hai - truyền thuyết lịch sử bao gồm những truyền thuyết về các nhân vật lịch sử và những truyền thuyết về các sự kiện lịch sử. Loại thứ ba - truyền thuyết tín ngƣỡng bao gồm những truyền thuyết phản ánh tín ngƣỡng nảy sinh trong quần chúng về phép ma, về thần núi, thủy thần, thủy quái, về những tinh linh ở ao hồ, long vƣơng, thần rắn, về thần tổ tiên trong các gia đình, về yêu ma, quỷ quái các loại, về ngƣời khổng lồ”[52,94].
Đối với giới folklore Trung Quốc tình hình phân loại truyền thuyết cũng chƣa có đƣợc tiếng nói chung: Có tài liệu thì chia truyền thuyết thành 6 loại (truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết địa phƣơng, truyền thuyết sản vật, truyền thuyết phong tục, truyền thuyết thời sự). Có tài liệu phân loại truyền thuyết gọn gàng hơn, chỉ gồm 3 loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết sự kiện lịch sử, truyền thuyết phong vật địa phƣơng v.v… Ở Việt Nam vấn đề phân loại truyền thuyết cũng có khá nhiều ý kiến khác nhau. Đỗ Bình Trị căn cứ vào sự khác biệt của đối tƣợng đƣợc truyện kể đến và chức năng cụ thể của từng bộ phận để chia thành ba biến thể đƣợc định danh gồm: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ và truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử. Tác giả Lê Chí Quế lại có cách phân loại khác khi chia truyền thuyết thành ba loại: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết về ác danh nhân văn hóa.
Tác giả Kiều Thu Hoạch đƣa ra một cách phân loại khác. Theo ông, truyền thuyết có thể chia làm hai loại lớn: truyền thuyết nhân vật và truyền thuyết phong vật (phong tục và sản vật). Trong từng loại lại bao gồm nhiều tiểu loại. Truyền thuyết về nhân vật có thể căn cứ vào tính chất của câu chuyện mà chia thành những tiểu loại khác nhau nhƣ: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện, truyền thuyết tôn giáo (theo nghĩa rộng).
Trong giáo trình Văn học dân gian của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội do NXB Giáo dục xuất bản năm 2012, chƣơng truyền thuyết do Vũ Anh Tuấn chấp bút đã nhóm truyền thuyết thành hai nhóm chính: truyền thuyết danh nhân văn hóa, truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo. 11 Để giải quyết đƣợc yêu cầu và nhiệm vụ của luận án, chúng tôi dựa vào quan điểm và cách phân loại truyền thuyết của nhà nghiên cứu Nhật Bản Seki Keigo và nhà nghiên cứu folklore Việt Nam Kiều Thu Hoạch. Theo ý của các nhà nghiên cứu thì sự tồn tại của truyền thuyết không phải chỉ để phản ánh lịch sử và tôn vinh những nhân vật anh hùng. Truyền thuyết ra đời và tồn tại còn vì những lí do tâm lí xã hội khác, nhằm phản ánh tín ngƣỡng dân gian về lực lƣợng thần linh, ma quỷ, về thế lực có quyền năng và ảnh hƣởng trực tiếp tới đời sống văn hóa của con ngƣời.
Sau này trong công trình nghiên cứu về Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, tác giả Trần Thị An đã lí giải về sự tồn tại của tiểu loại “truyền thuyết tín ngƣỡng” hay “truyền thuyết tôn giáo” nhƣ sau: “Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam cũng nhƣ truyền thuyết thế giới, có một bộ phận truyền thuyết đang đƣợc lƣu truyền, đang tiếp tục đƣợc sáng tạo, tiếp tục nảy sinh không dựa trên nhu cầu bày tỏ sự tôn vinh các biểu tƣợng lịch sử mà dựa trên nhu cầu tâm lý về sự sùng bái lực lƣợng siêu hình (mà truyện kể Việt Nam gọi là ma, quỷ, hồn…) hoặc khát vọng giải mã những bí ẩn của đời sống (sự hiện hữu của lực lƣợng siêu hình trong đời thực) [1,58]. Điều đó càng cho thấy mối liên hệ máu thịt giữa truyền thuyết và các hoạt động tín ngƣỡng dựa trên niềm tin vào phép màu nhiệm của thế giới tâm linh. Các truyền thuyết về những nhân vật có phép lạ, có khả năng đặc biệt không cần phải là những anh hùng danh nhân, đôi khi chỉ là những hồn ma, những quỷ thần có thể mang đến vận may hoặc sự trừng phạt đối với ngƣời trần.