Luận án tiến sĩ về văn học dân gian: Truyền thuyết Phạm Nhân và tín ngưỡng thờ ác thần ở Bắc Bộ

Luận án tiến sĩ văn học phân tích văn học dân gian truyền thuyết phạm nhan và tín ngưỡng thờ ác thần của người việt ở bắc bộ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Văn Học Dân Gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

222
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.4. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2. KHẢO SÁT HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT PHẠM NHAN

2.1. Nhận diện truyền thuyết Phạm Nhan

2.2. Số lượng truyền thuyết

2.3. Sự phân bố truyền thuyết

2.4. Nhân vật Bá Nhan và Phạm Nhan

2.5. Nhân vật Phạm Nhan trong truyền thuyết

2.6. Tên gọi Phạm Nhan. Hoàn cảnh xuất hiện và đặc điểm nhân vật

2.7. Hành trạng nhân vật

2.8. Về sự tái sinh gây hại

2.9. Cốt truyện Phạm Nhan

2.10. Những môtip chính trong truyền thuyết Phạm Nhan

2.11. Kết cấu truyền thuyết Phạm Nhan

3. TRUYỀN THUYẾT PHẠM NHAN VÀ KIỂU TRUYỆN VỀ ÁC THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

3.1. Kiểu truyện về ác thần của người Việt. Ác thần và truyền thuyết về ác thần trong văn hóa Việt

3.2. Sự tương quan giữa kiểu truyện về ác thần của người Việt với truyền thuyết Phạm Nhan

3.3. Cặp đôi nhân vật Phạm Nhan - Đức Thánh Trần trong truyền thuyết về ác thần và phúc thần

3.4. Tương phản về môtip. Tương phản về kết cấu

3.5. Truyền thuyết Phạm Nhan trong đời sống văn hóa dân gian

3.6. Truyền thuyết về tục chữa bệnh

3.7. Truyền thuyết về tục cầu con

3.8. Truyền thuyết về tục che mặt của người phụ nữ

4. TỤC THỜ PHẠM NHAN TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ ÁC THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

4.1. Hiện tượng Phạm Nhan trong văn hóa tín ngưỡng người Việt

4.2. Một số quan niệm khác nhau về việc thờ cúng Phạm Nhan

4.3. Những dấu tích thờ cúng Phạm Nhan

4.4. Những hèm tục có liên quan đến Phạm Nhan trong dân gian

4.5. Phạm Nhan - Đức Thánh Trần: hai loại hình tín ngưỡng

4.6. Tín ngưỡng, tục thờ ác thần của người Việt

4.7. Quan niệm về việc thờ ác thần

4.8. Di tích thờ ác thần

4.9. Những nghi lễ và tập tục thờ cúng ác thần của người Việt

4.10. Những tục hèm có liên quan đến Phạm Nhan trong dân gian ở

4.11. Những đặc điểm có tính chất quy luật trong tín ngưỡng thờ Phạm Nhan và tục thờ ác thần của người Việt

4.12. Đặc điểm về nguồn gốc của việc thờ cúng ác thần. Đặc điểm về bản chất của việc thờ ác thần

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về văn học dân gian và truyền thuyết Phạm Nhân

Văn học dân gian là một phần không thể tách rời của văn hóa dân gian, phản ánh đời sống, tâm tư và tín ngưỡng của người dân. Trong đó, truyền thuyết là thể loại tiêu biểu, mang lại nhiều giá trị cho lịch sử văn học dân tộc. Truyền thuyết Phạm Nhân, một nhân vật phản diện trong văn học dân gian, không chỉ là một câu chuyện mà còn là một phần của tín ngưỡng thờ ác thần của người Việt Bắc Bộ. Nhân vật này gắn liền với những biến cố lịch sử, thể hiện sự tương tác giữa văn học và tín ngưỡng dân gian. Theo Gorki, “Không thể nào hiểu được lịch sử chân chính của nhân dân lao động nếu không hiểu biết sáng tác dân gian truyền miệng.” Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu văn học dân gian trong việc hiểu biết về lịch sử và văn hóa dân tộc.

1.1. Đặc điểm của truyền thuyết Phạm Nhân

Truyền thuyết Phạm Nhân không chỉ đơn thuần là một câu chuyện mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa sâu sắc. Nhân vật Phạm Nhân được mô tả như một kẻ phản diện, có hành động gây hại cho nhân dân. Sự tồn tại của nhân vật này trong văn hóa dân gian phản ánh những nỗi sợ hãi và lo lắng của cộng đồng về các thế lực xấu. Truyền thuyết này không chỉ mang tính giải trí mà còn có chức năng giáo dục, nhắc nhở người dân về những giá trị đạo đức và sự cần thiết phải đấu tranh chống lại cái ác. Qua đó, truyền thuyết Phạm Nhân cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam.

II. Tín ngưỡng thờ ác thần trong văn hóa dân gian

Tín ngưỡng thờ ác thần là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Những nhân vật như Phạm Nhân thường được thờ cúng trong các nghi lễ dân gian, thể hiện sự tôn kính và sợ hãi đối với những thế lực siêu nhiên. Tín ngưỡng này không chỉ phản ánh sự đa dạng trong văn hóa dân gian mà còn cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa tín ngưỡngvăn học dân gian. Các nghi lễ thờ cúng thường đi kèm với những câu chuyện truyền thuyết, tạo nên một hệ thống tín ngưỡng phong phú và đa dạng. Việc thờ cúng ác thần không chỉ là một hình thức tôn thờ mà còn là một cách để người dân thể hiện sự kháng cự đối với cái ác, đồng thời cầu mong sự bình an cho cộng đồng.

2.1. Các hình thức thờ cúng ác thần

Hệ thống tín ngưỡng thờ ác thần của người Việt rất phong phú, bao gồm nhiều hình thức khác nhau như lập đền, miếu, và tổ chức các lễ hội. Những nghi lễ này thường diễn ra vào những dịp đặc biệt, nhằm cầu mong sự bảo vệ và che chở từ các vị thần. Các hình thức thờ cúng này không chỉ mang tính chất tôn giáo mà còn là một phần của văn hóa dân gian, thể hiện sự kết nối giữa con người với thế giới siêu nhiên. Qua đó, người dân có thể bày tỏ lòng biết ơn và cầu xin sự tha thứ cho những lỗi lầm trong quá khứ. Điều này cho thấy sự phức tạp và đa dạng trong tín ngưỡng của người Việt, đồng thời khẳng định vai trò của văn học dân gian trong việc lưu giữ và truyền tải những giá trị văn hóa này.

III. Phân tích mối quan hệ giữa truyền thuyết Phạm Nhân và tín ngưỡng thờ ác thần

Mối quan hệ giữa truyền thuyết Phạm Nhân và tín ngưỡng thờ ác thần là một chủ đề thú vị trong nghiên cứu văn hóa dân gian. Truyền thuyết không chỉ đơn thuần là một câu chuyện mà còn là một phần của hệ thống tín ngưỡng, phản ánh những giá trị và niềm tin của người dân. Nhân vật Phạm Nhân, với những hành động gây hại, trở thành biểu tượng cho cái ác, đồng thời cũng là đối tượng để người dân thể hiện sự kháng cự. Qua việc thờ cúng, người dân không chỉ cầu mong sự bảo vệ mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với những giá trị văn hóa và lịch sử. Điều này cho thấy sự tương tác giữa văn học dân giantín ngưỡng dân gian là rất mạnh mẽ, tạo nên một hệ thống văn hóa phong phú và đa dạng.

3.1. Tác động của truyền thuyết đến tín ngưỡng

Truyền thuyết Phạm Nhân đã có tác động lớn đến tín ngưỡng thờ ác thần trong cộng đồng. Những câu chuyện về Phạm Nhân không chỉ giúp người dân hiểu rõ hơn về các thế lực siêu nhiên mà còn tạo ra những nghi lễ và phong tục thờ cúng đặc trưng. Qua đó, truyền thuyết này đã góp phần hình thành nên những giá trị văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của người Việt. Sự kết hợp giữa văn học dân gian và tín ngưỡng thờ cúng không chỉ làm phong phú thêm đời sống tâm linh mà còn giúp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; Luận án của chúng tôi đƣợc kết cấu làm 4 chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1. Tổng quan về cơ sở lí thuyết và tình hình nghiên cứu của đề tài Chƣơng 2. Khảo sát hệ thống truyền thuyết Phạm Nhan Chƣơng 3.

Truyền thuyết Phạm Nhan và kiểu truyện về ác thần của ngƣời Việt Chƣơng 4. Tục thờ Phạm Nhan trong tín ngƣỡng thờ ác thần của ngƣời Việt. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan và tín ngƣỡng thờ ác thần của ngƣời Việt là một hƣớng khai thác vấn đề mới. Ngƣời viết đã tìm hiểu những bài viết, những công trình chuyên luận nghiên cứu riêng về vấn đề này, nhƣng kết quả thu đƣợc rất ít.

Những bài viết về truyền thuyết Phạm Nhan hầu nhƣ đƣợc triển khai trong những nội dung nhỏ lẻ, không mang tính hệ thống. Phạm Nhan chỉ đƣợc nhắc đến nhƣ một sự liên hệ, mở rộng vấn đề trong các công trình nghiên cứu về Đức Thánh Trần. Đây cũng là một trong những khó khăn của chúng tôi trong quá trình sƣu tầm tƣ liệu. Tuy nhiên, để thực hiện đề tài này chúng tôi đã dựa vào một số lí thuyết cơ sở và những nghiên cứu nhỏ lẻ trƣớc đó về nhân vật.

Trong nội dung chƣơng 1, chúng tôi triển khai ba vấn đề: - Cơ sở lí thuyết của đề tài - Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan và tín ngƣỡng thờ ác thần - Đánh giá tình hình nghiên cứu và định hƣớng của đề tài 1. C sở lí thuyết của đề tài 1. Xác định một số thuật ngữ, khái niệm 1. Truyền thuyết Truyền thuyết đƣợc gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau trên thế giới: tiếng Anh gọi là legend; tiếng Pháp dùng chữ légende và tiếng Đức dùng chữ sage.

Truyền thuyết là từ gốc Hán, nhƣng không phải thuật ngữ đã có từ xa xƣa ở Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch cho biết: “Theo giới nghiên cứu Folklore Trung Quốc thì đây là một danh từ đƣợc chuyển dịch từ thuật ngữ sage trong tiếng Đức” [52,132]. Chữ sage trong tiếng Đức có nghĩa là truyện ngắn về sự kiện trong quá khứ mà không cần có sự đảm bảo về lịch sử. Ở Việt Nam, có lẽ Đào Duy Anh là ngƣời sớm sử dụng từ truyền thuyết khi ông viết về vấn đề “Những truyền thuyết đời thƣợng cổ nƣớc ta”.

Đến những năm 50 của thế kỉ XX, thuật ngữ truyền thuyết đã đƣợc sử dụng nhiều hơn. Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn trong công trình Lƣợc thảo lịch sử văn học Việt Nam, khi xác định ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết, bƣớc đầu định nghĩa truyền thuyết nhƣ sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lƣu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Nhƣ vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có những 9 truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi Vọng Phu…) hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện bánh chƣng bánh giầy, Chuyện Trầu Cau), hoặc giải thích phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác” [27, 60]. Đến những năm 60, danh từ truyền thuyết cũng nhƣ nội dung truyền thuyết dân gian đã trở nên quá quen thuộc với nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, qua cuộc tranh luận khá sôi động về một truyền thuyết cụ thể: truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy diễn ra trên Tập san Nghiên cứu văn học (tiền thân của Tạp chí Văn học).

Từ cuối những năm 60 cho đến những năm 70 trở đi, đến những năm cuối thế kỉ XX có nhiều bài báo, công trình khoa học, giáo trình đại học viết về truyền thuyết. Năm 1970, trong giáo trình Văn học dân gian của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Đỗ Bình Trị đã định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện cổ dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu - là lịch sử hoang đƣờng - hoặc là những truyện tƣởng tƣợng ít nhiều gắn với lịch sử” [102]. Năm 1971, trong một bài tiểu luận “Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến”, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đƣa ra một quan niệm về truyền thuyết mà cho đến nay vẫn đƣợc nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Theo ông: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó kể lại truyện tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phƣơng theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trƣơng, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hƣ ảo, thần kì nhƣ cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thƣờng phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải là hoàn toàn trong trí tƣởng tƣợng và bằng trí tƣởng tƣợng” [16].

Năm 2001, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lê Chí Quế đã đƣa ra định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hƣ cấu nghệ thuật thần kì” [97,49]. Vấn đề phân loại truyền thuyết có nhiều khuynh hƣớng khác nhau. Các nhà folklore Nhật Bản cũng có nhiều cách phân loại khác nhau đối với thể loại truyền thuyết. Trong đó có quan niệm của Seki Keigo, đứng trên lập trƣờng nghiên cứu so sánh để phân loại truyền thuyết.

Ông căn cứ vào hình thái tồn tại và chức năng của 10 truyền thuyết làm tiêu chuẩn phân loại. Theo cách phân loại của ông thì truyền thuyết đƣợc chia làm 3 loại: “Truyền thuyết thuyết minh (giải thích sự đời); truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết tín ngƣỡng. Loại thứ nhất - truyền thuyết thuyết minh bao gồm những loại truyền thuyết về các hiện tƣợng tự nhiên có liên quan đến thiên thể; những truyền thuyết về nguồn gốc động thực vật; những truyền thuyết về nham thạch, tảng đá, núi, hang núi, đèo dốc, đỉnh nủi, ao chuôm, đầm vực; những truyền thuyết về nguồn gốc các di tích kiến trúc văn hóa, các từ đƣờng v.v… Loại thứ hai - truyền thuyết lịch sử bao gồm những truyền thuyết về các nhân vật lịch sử và những truyền thuyết về các sự kiện lịch sử. Loại thứ ba - truyền thuyết tín ngƣỡng bao gồm những truyền thuyết phản ánh tín ngƣỡng nảy sinh trong quần chúng về phép ma, về thần núi, thủy thần, thủy quái, về những tinh linh ở ao hồ, long vƣơng, thần rắn, về thần tổ tiên trong các gia đình, về yêu ma, quỷ quái các loại, về ngƣời khổng lồ”[52,94].

Đối với giới folklore Trung Quốc tình hình phân loại truyền thuyết cũng chƣa có đƣợc tiếng nói chung: Có tài liệu thì chia truyền thuyết thành 6 loại (truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết địa phƣơng, truyền thuyết sản vật, truyền thuyết phong tục, truyền thuyết thời sự). Có tài liệu phân loại truyền thuyết gọn gàng hơn, chỉ gồm 3 loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết sự kiện lịch sử, truyền thuyết phong vật địa phƣơng v.v… Ở Việt Nam vấn đề phân loại truyền thuyết cũng có khá nhiều ý kiến khác nhau. Đỗ Bình Trị căn cứ vào sự khác biệt của đối tƣợng đƣợc truyện kể đến và chức năng cụ thể của từng bộ phận để chia thành ba biến thể đƣợc định danh gồm: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ và truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử. Tác giả Lê Chí Quế lại có cách phân loại khác khi chia truyền thuyết thành ba loại: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết về ác danh nhân văn hóa.

Tác giả Kiều Thu Hoạch đƣa ra một cách phân loại khác. Theo ông, truyền thuyết có thể chia làm hai loại lớn: truyền thuyết nhân vật và truyền thuyết phong vật (phong tục và sản vật). Trong từng loại lại bao gồm nhiều tiểu loại. Truyền thuyết về nhân vật có thể căn cứ vào tính chất của câu chuyện mà chia thành những tiểu loại khác nhau nhƣ: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện, truyền thuyết tôn giáo (theo nghĩa rộng).

Trong giáo trình Văn học dân gian của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội do NXB Giáo dục xuất bản năm 2012, chƣơng truyền thuyết do Vũ Anh Tuấn chấp bút đã nhóm truyền thuyết thành hai nhóm chính: truyền thuyết danh nhân văn hóa, truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo. 11 Để giải quyết đƣợc yêu cầu và nhiệm vụ của luận án, chúng tôi dựa vào quan điểm và cách phân loại truyền thuyết của nhà nghiên cứu Nhật Bản Seki Keigo và nhà nghiên cứu folklore Việt Nam Kiều Thu Hoạch. Theo ý của các nhà nghiên cứu thì sự tồn tại của truyền thuyết không phải chỉ để phản ánh lịch sử và tôn vinh những nhân vật anh hùng. Truyền thuyết ra đời và tồn tại còn vì những lí do tâm lí xã hội khác, nhằm phản ánh tín ngƣỡng dân gian về lực lƣợng thần linh, ma quỷ, về thế lực có quyền năng và ảnh hƣởng trực tiếp tới đời sống văn hóa của con ngƣời.

Sau này trong công trình nghiên cứu về Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, tác giả Trần Thị An đã lí giải về sự tồn tại của tiểu loại “truyền thuyết tín ngƣỡng” hay “truyền thuyết tôn giáo” nhƣ sau: “Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam cũng nhƣ truyền thuyết thế giới, có một bộ phận truyền thuyết đang đƣợc lƣu truyền, đang tiếp tục đƣợc sáng tạo, tiếp tục nảy sinh không dựa trên nhu cầu bày tỏ sự tôn vinh các biểu tƣợng lịch sử mà dựa trên nhu cầu tâm lý về sự sùng bái lực lƣợng siêu hình (mà truyện kể Việt Nam gọi là ma, quỷ, hồn…) hoặc khát vọng giải mã những bí ẩn của đời sống (sự hiện hữu của lực lƣợng siêu hình trong đời thực) [1,58]. Điều đó càng cho thấy mối liên hệ máu thịt giữa truyền thuyết và các hoạt động tín ngƣỡng dựa trên niềm tin vào phép màu nhiệm của thế giới tâm linh. Các truyền thuyết về những nhân vật có phép lạ, có khả năng đặc biệt không cần phải là những anh hùng danh nhân, đôi khi chỉ là những hồn ma, những quỷ thần có thể mang đến vận may hoặc sự trừng phạt đối với ngƣời trần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu văn học dân gian: Truyền thuyết Phạm Nhân và tín ngưỡng thờ ác thần của người Việt Bắc Bộ" khám phá sâu sắc về truyền thuyết Phạm Nhân, một phần quan trọng trong văn hóa dân gian Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Bắc Bộ. Tác giả phân tích các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng và tâm linh liên quan đến việc thờ cúng ác thần, từ đó làm nổi bật vai trò của những câu chuyện dân gian trong việc hình thành bản sắc văn hóa và tâm lý của người dân. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về truyền thuyết mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa văn học dân gian và tín ngưỡng trong đời sống hàng ngày.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về văn học dân gian, hãy tham khảo thêm bài viết Luận văn thạc sĩ ngữ văn bức tranh ngôn ngữ về thế giới qua ca dao tục ngữ nam bộ, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích thú vị về ngôn ngữ và văn hóa qua ca dao. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu ca dao dân ca dưới góc nhìn bối cảnh trường hợp ca dao dân ca đồng bằng sông cửu long sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh văn hóa của ca dao dân ca tại miền Tây Nam Bộ. Cuối cùng, bài viết Luận văn đặc điểm sử thi dân tộc chăm ở phú yên sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về sử thi và văn hóa của một dân tộc khác trong Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm về văn học dân gian Việt Nam.