Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài “Đặc điểm sử thi dân tộc Xơ Đăng” (Mã số: 9220121) do nghiên cứu sinh Lê Ngọc Bính thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Hồng Phong, bảo vệ tại Trường Đại học Đà Lạt năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sử thi Tây Nguyên được thế giới và giới nghiên cứu trong nước biết đến từ những thập niên đầu thế kỷ XX qua việc L. Sabatier công bố sử thi khan Đăm San của dân tộc Êđê (1927). Trải qua nhiều giai đoạn điền dã và nghiên cứu, kho tàng sử thi của các dân tộc Êđê, M’nông, Bahnar liên tục được sưu tầm và công bố rộng rãi. Từ năm 2001, trong khuôn khổ Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) chủ trì, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận 106 tác phẩm sử thi của người Xơ Đăng (gọi là các hơ m’uan) tại tỉnh Kon Tum.

Tuy nhiên, đến thời điểm thực hiện luận án, Viện Nghiên cứu Văn hóa mới chỉ biên dịch và xuất bản được 06/106 tác phẩm. So với sử thi Êđê, M’nông, Bahnar, việc sưu tầm, xuất bản sử thi Xơ Đăng được tiến hành muộn hơn, số lượng văn bản công bố còn hạn chế, các công trình nghiên cứu trước đó chủ yếu dừng lại ở mức độ nhận diện bước đầu trên các bài báo, tạp chí chuyên ngành. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống để làm sáng tỏ các giá trị nội dung, thi pháp nghệ thuật và xác định vị trí của sử thi Xơ Đăng trong diện mạo chung của vùng sử thi Tây Nguyên.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ các đặc điểm về nội dung phản ánh của sử thi Xơ Đăng trên các bình diện lịch sử, xã hội và văn hóa truyền thống của tộc người.
  2. Khảo sát, giải mã các đặc trưng nghệ thuật của sử thi Xơ Đăng trên cả ba phương diện loại hình: tính tự sự, tính trữ tình và tính kịch gắn liền với phương thức diễn xướng dân gian.
  3. Đặt sử thi Xơ Đăng vào không gian vùng thể loại sử thi Tây Nguyên, tiến hành so sánh, đối chiếu với sử thi các dân tộc Êđê, Bahnar, M’nông nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó luận giải nguyên nhân và khẳng định tính thống nhất trong đa dạng của sử thi khu vực này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của sử thi Xơ Đăng; mối tương quan loại hình giữa sử thi Xơ Đăng với sử thi các dân tộc Êđê, Bahnar, M’nông.
  • Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát trực tiếp 06 tác phẩm sử thi Xơ Đăng đã được Viện Nghiên cứu Văn hóa xuất bản thành sách:
    1. Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ (Dăm Duông brọ dek wi) (NXB Khoa học Xã hội, 2006).
    2. Dăm Duông cứu nàng Bar Mă (Dăm Duông dong bia Bar Mă) (NXB Khoa học Xã hội, 2006).
    3. Dăm Duông hóa cọp (Dăm Duông jiâng kla bring brông) (NXB Khoa học Xã hội, 2007).
    4. Dăm Duông trong lốt ông già (Dăm Duông bă akar kră) (NXB Khoa học Xã hội, 2007).
    5. Duông đi theo thần Tung Gur (Duông tiụ Tung Gur) (NXB Khoa học Xã hội, 2009).
    6. Duông làm thủ lĩnh (Duông bro tơnôl) (NXB Khoa học Xã hội, 2009).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Không gian văn hóa địa bàn cư trú của người Xơ Đăng tại tỉnh Kon Tum (tập trung khảo sát điền dã tại huyện Đăk Hà, Đắc Tô, Sa Thầy, Kon Plông, Tu Mơ Rông); thời gian điền dã thực địa được tác giả tiến hành bổ sung tư liệu gần nhất vào tháng 7 năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu sử thi Tây Nguyên

Tiến trình nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trải qua các dấu mốc chính:

  • Giai đoạn trước 1975: Khởi đầu với bản dịch Đăm San của L. Sabatier (1927), Đăm Di do D. Antomarchi dịch và G. Condominas giới thiệu (1955), bản dịch Việt ngữ Bài ca chàng Đăm San (1959), bản dịch tiếng Nga của N. Niculin (1970), tập Trường ca Tây Nguyên (1975) giới thiệu các tác phẩm Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Đroăn, Y Ban, Y Prao. Các nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên, Cao Huy Đỉnh, Đinh Gia Khánh bước đầu định danh thể loại và xác lập giá trị văn học dân gian.
  • Giai đoạn 1975 - 2000: Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại và từng vùng sử thi ra đời, tiêu biểu là luận án của Võ Quang Nhơn (1982) về thể loại sử thi anh hùng Tây Nguyên, luận án của Phan Đăng Nhật về sử thi Êđê cùng các công trình Vùng sử thi Tây Nguyên (1999), Nghiên cứu sử thi Việt Nam (2001); các công trình nghiên cứu sử thi M'nông của Đỗ Hồng Kỳ (Sử thi thần thoại Mơ-nông, 1996), sử thi Bahnar của Tô Ngọc Thanh (Hơmon Ba Na, 1998).
  • Giai đoạn từ năm 2001 đến nay: Dự án tổng thể của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã ghi âm 801 tác phẩm, phiên âm 123 tác phẩm, dịch nghĩa 115 tác phẩm và xuất bản 75 tác phẩm trong 62 tập sách. Tiếp sau đó là các công trình nghiên cứu nhóm sử thi Bahnar của Phan Thị Hồng (2006), nhóm sử thi Dăm Giông của Nguyễn Tiến Dũng (2018).

Lịch sử nghiên cứu sử thi Xơ Đăng và vị trí của luận án

Đối với sử thi Xơ Đăng, việc sưu tầm và nghiên cứu diễn ra muộn hơn. Đến năm 2006, 2007 và 2009, Viện Nghiên cứu Văn hóa mới lần lượt giới thiệu 06 tác phẩm trong hệ thống sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên và Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (Tập 8). Trước luận án này, các công bố về sử thi Xơ Đăng chỉ là những bài viết giới thiệu sơ lược, điểm sách hoặc khảo sát một khía cạnh hẹp về diễn xướng.

Luận án của NCS. Lê Ngọc Bính là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện 06 văn bản sử thi Xơ Đăng đã xuất bản trên cả hai trục nội dung và thi pháp nghệ thuật, kết hợp liên ngành với dân tộc học, văn hóa học và thi pháp học so sánh. Luận án giải quyết khoảng trống trong việc phân loại thể loại sử thi Xơ Đăng (thuộc nhóm sử thi thiết chế xã hội, cấu trúc chuỗi liên hoàn về người anh hùng Dăm Duông), đồng thời xác lập hệ tiêu chí so sánh giữa sử thi Xơ Đăng với các sử thi Êđê, Bahnar, M'nông lân cận.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Lý thuyết folklore và thi pháp học tự sự: Vận dụng quan điểm thi pháp văn học dân gian của V.Ia. Propp, lý thuyết thần thoại và sử thi của E.M. Meletinsky để nhận diện yếu tố thần kỳ, sự tha hóa lốt nhân vật; lý thuyết cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu.M. Lotman và lý thuyết đối thoại của M. Bakhtin.
  • Lý thuyết loại hình học sử thi: Sử dụng cách phân loại chức năng của Đinh Gia Khánh để xác định sử thi Xơ Đăng thuộc loại hình sử thi thiết chế xã hội (khác với sử thi sáng thế); tiếp thu quan điểm của Võ Quang Nhơn về tính nguyên hợp tự nhiên của sử thi (tự sự, trữ tình và kịch tính diễn xướng).
  • Lý thuyết liên ngành văn hóa học, dân tộc học và nhân học: Kế thừa các kết quả nghiên cứu dân tộc học Tây Nguyên của J. Dournes, G. Condominas, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Từ Chi, Tô Ngọc Thanh, Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật, cùng lý thuyết xã hội học văn học (L. Goldmann, R. Escarpit) và sinh thái học văn học (W. Rueckert).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính văn bản học và liên ngành:

  1. Phương pháp thống kê, phân loại, tổng hợp: Khảo sát toàn bộ văn bản 06 tác phẩm để lập danh mục thống kê về tần số xuất hiện lốt nhân vật, hệ thống nhân vật, các mô hình kết cấu cốt truyện, các dạng xung đột và mâu thuẫn kịch.
  2. Phương pháp liên ngành (Văn học - Dân tộc học - Văn hóa học - Lịch sử - Sinh thái học): Giải mã các tầng văn hóa tộc người, phong tục hôn nhân, tang ma, lễ hội, cấu trúc làng buôn và hoạt động kinh tế nương rẫy, săn bắn phản ánh trong văn bản.
  3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh đồng đại và lịch đại giữa sử thi Xơ Đăng với sử thi các dân tộc Êđê, Bahnar, M'nông về nhân vật, cốt truyện, không gian nghệ thuật và thủ pháp tu từ.
  4. Phương pháp điền dã thực địa: Khảo sát tại các làng người Xơ Đăng thuộc tỉnh Kon Tum (như làng Kon Gu 1, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà), phỏng vấn nghệ nhân, già làng và cán bộ quản lý văn hóa để đối chiếu văn bản với không gian diễn xướng sống.
  5. Phương pháp thi pháp học và loại hình học: Phân tích đặc trưng thể loại trên 3 phương diện: tính tự sự, tính trữ tình và tính kịch.

Nguồn ngữ liệu và tư liệu khảo sát

  • Nguồn dữ liệu văn bản chính: 06 tác phẩm sử thi Xơ Đăng in song ngữ/đối dịch trong các ấn phẩm của NXB Khoa học Xã hội (2006, 2007, 2009).
  • Nguồn tư liệu điền dã: Ảnh tư liệu, lời kể của nghệ nhân tại huyện Đăk Hà, Kon Tum và số liệu điều tra nhân khẩu học 53 dân tộc thiểu số năm 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về dân tộc Xơ Đăng, tình hình sưu tầm và nghiên cứu sử thi Xơ Đăng

Chương 1 cung cấp bức tranh tổng thể về địa bàn cư trú, tổ chức xã hội, văn hóa truyền thống của người Xơ Đăng và lịch sử tiếp cận thể loại sử thi của tộc người này.

1. Tổng quan về dân tộc và văn hóa Xơ Đăng

Người Xơ Đăng thuộc ngữ hệ Môn – Khơme, cư trú chủ yếu ở phía Bắc Tây Nguyên (tỉnh Kon Tum) và vùng núi các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắk Lắk. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân số người Xơ Đăng là 212.887 người, gồm 5 nhóm địa phương chính:

  • Xơ Teng: Nhóm đông nhất, cư trú tại Đắc Tô, Bắc thị xã Kon Tum, Trà My; có tinh thần thượng võ, săn bắn.
  • Tơ Đrá (Hơđrá, Téhđa, Xơrạ): Cư trú ở Đắc Hà, Kon Plông, nổi tiếng với nghề rèn luyện thép từ quặng.
  • Mơ Nâm (Bơ Nâm): Cư trú tại Kon Plông quanh núi Ngọc Linh, chuyên canh tác ruộng nước bậc thang.
  • Ca Dong: Cư trú tại Sa Thầy, Kon Plông, Sơn Hà, Trà My.
  • Hà Lăng (Xơlang): Cư trú tại Đắc Tô, Sa Thầy, đánh cá phát triển.

Sinh hoạt kinh tế truyền thống bao gồm săn bắn, hái lượm, làm nương rẫy (déc, diếc chọc lỗ tra hạt, đốt tro bón đất), làm ruộng nước (Mơ Nâm), làm vườn (tdum/ktrum quanh nhà, diang brạ xa làng), chăn nuôi trâu thả rông và các nghề thủ công (đan lát, dệt vải vỏ cây/bông, làm gốm không bàn xoay, nghề rèn). Hệ thống đo lường dân gian sử dụng gùi (teo/kchang), nắm tay (ktú), sải tay; thời gian tính theo mùa rẫy, tháng nghỉ ngơi (ning nơng kéo dài 2 tháng cuối năm) và các thời điểm trong ngày (hi ló, phong ló, hi hẹ, hi pe, hi lẹ, irk to, xê, măng me, ir roong).

2. Tổ chức xã hội và văn hóa vật chất, tinh thần

  • Tổ chức xã hội: Đơn vị cư trú cơ sở là làng (plei/plây/plê). Trung tâm làng là nhà rông (giông, cượt, mnao). Gia đình theo chế độ song hệ. Cư trú truyền thống trong các nóc nhà dài gồm nhiều thế hệ. Cấu trúc nhà dài của nhóm Tơ Đrá có 13 bộ phận chức năng:
STT Bộ phận cấu trúc Chức năng / Ý nghĩa trong đời sống
1 Thổ chên (mnghe ting spoong) Buồng ngủ của bà chủ nhà (mẹ lúa)
2 Tiu kui Chỗ ngủ của các thành viên gia đình
3 Tiu tmoi kui Chỗ ngủ dành cho khách
4 Chỗ tiếp khách và hội họp Nơi sinh hoạt chung, đặt các ché rượu cần
5 Hchúc, càn Nơi đặt các cối giã gạo
6 Mang pệ Cửa ra vào chính
7 Mang chên Cửa cữ (cấm khách; nơi đưa người chết ra ngoài)
8 Mang skôi Cửa ra vào phụ
9 Bếp cũ Bếp thiêng do bà chủ nóc trông coi, đặt hòn đá thiêng dmoong
10 Bếp chung Bếp nấu tạp thức ăn săn bắn, sinh hoạt hàng ngày
11 Chỗ đặt ống nước Nơi lưu trữ nước sinh hoạt của gia đình
12 Gian cấm khách Không gian thiêng kiêng kỵ người ngoài
13 Cột chính (chrang xem ting) Cột làm lễ cúng bái của gia đình, treo sọ trâu hiến tế
  • Tín ngưỡng và phong tục: Thờ đa thần (Yang, Bốc, Dạ), thần tối cao là thần sấm sét (Bốc Brốc/Bốc Kđrê), thần núi, thần lúa; tin vào ba loại hồn (mhoa cơn xoang, mhoa plo, mhoa mngô mnghiêng) và ma rừng dữ (atâo, chóc vóc, rgíp). Phong tục hôn nhân một vợ một chồng luân phiên cư trú 3-5 năm mỗi bên; tục cưa răng (xneng), xăm mép (pết trùm); tang lễ không có lễ bỏ mả như Bahnar/Gia Rai mà có tục chia của. Các lễ hội lớn gồm: lễ rước đón hồn lúa, lễ cúng máng nước (tết giọt nước), lễ ăn trâu (Ka pô), lễ mừng nhà rông mới (jông).

3. Vấn đề thuật ngữ và thể loại sử thi Xơ Đăng

Người Xơ Đăng gọi sử thi là hơ m’uan. Luận án xác định sử thi Xơ Đăng thuộc loại hình sử thi thiết chế xã hội, phản ánh nhiệm vụ lao động, đấu tranh ổn định cộng đồng, củng cố thị tộc bộ lạc, không thuộc nhóm sử thi sáng tạo thế giới (sáng thế).


Chương 2: Đặc điểm nội dung của sử thi Xơ Đăng

Chương 2 phân tích sâu hai mảng nội dung phản ánh trung tâm của sử thi Xơ Đăng: bức tranh lịch sử - xã hội và diện mạo văn hóa tộc người.

1. Nội dung lịch sử - xã hội

  • Hiện thực chiến tranh: Chiến tranh trong sử thi Xơ Đăng không mang quy mô liên minh bộ lạc hàng vạn người mà chủ yếu là những cuộc xung đột đơn lẻ giữa các buôn làng hoặc giữa cá nhân các tù trưởng anh hùng. Nguyên nhân chiến tranh xuất phát từ việc trừng trị kẻ bạo tàn (Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ tiêu diệt Duông Nâng), giải cứu người đẹp bị bắt cóc (Dăm Duông cứu nàng Bar Mă đánh quỷ Te Tô, đười ươi Gluih, Tre Wet Krong Bung), trả thù và bảo vệ buôn làng (Duông làm thủ lĩnh đánh quân Tur Gôk). Chiến tranh được miêu tả mang tính chất kỳ ảo thần thoại (khiên biến hóa tạo bão tố, sấm sét, đất đá vỡ nát). Đồng thời, văn bản phản ánh dấu vết lịch sử về nạn bắt cóc tù binh bán sang Lào làm nô lệ.
  • Tổ chức xã hội và sự cố kết cộng đồng: Phản ánh giai đoạn cuối của công xã nguyên thủy đang chuyển sang xã hội có giai cấp. Xã hội phân hóa giàu nghèo dựa trên kết quả lao động nương rẫy, săn bắn (người giàu krọ, pđrong, mrọng nhiều chiêng ché, trâu bò). Đứng đầu làng là chủ làng (can plây), thủ lĩnh quân sự (tnul tnú). Tính cộng đồng được củng cố dựa trên 4 yếu tố: cộng cư, cộng lợi, cộng mệnh và cộng cảm. Người anh hùng Dăm Duông luôn gắn bó hữu cơ với dân làng, chiến đấu bảo vệ và chia sẻ của cải cho người nghèo.
  • Quan hệ tộc người: Phản ánh mối quan hệ giao lưu, buôn bán hoặc xung đột giữa người Xơ Đăng (Hơ Dang, Mơ Nâm) với các xứ láng giềng như xứ Lào, xứ Yuăn (người Kinh), xứ Nur.

2. Nội dung văn hóa

  • Sinh hoạt kinh tế nương rẫy: Miêu tả tỉ mỉ chu trình sản xuất nông nghiệp cổ truyền từ phát rẫy, đốt rẫy, chọc lỗ tra hạt, làm cỏ đến thu hoạch lúa.
  • Tín ngưỡng, lễ hội và ẩm thực: Tái hiện các nghi thức hiến tế thần linh, lễ mừng chiến thắng, cảnh uống rượu cần tập thể, các món ăn đặc trưng (cơm lam, thịt nướng, rau rừng hming, rau diệu).

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của sử thi Xơ Đăng

Chương 3 khảo sát thi pháp sử thi Xơ Đăng dựa trên tính nguyên hợp của ba loại hình nghệ thuật: tự sự, trữ tình và kịch.

1. Tính tự sự

  • Hệ thống nhân vật:
    • Nhân vật trung tâm: Người anh hùng Dăm Duông xuất hiện xuyên suốt 06 tác phẩm tạo thành chuỗi sử thi liên hoàn. Dăm Duông mang sức mạnh thể chất phi thường, tài năng lao động, lòng dũng cảm và gắn bó với cộng đồng.
    • Nhân vật thần linh và hỗ trợ: Thần Tung Gur, các chiến binh đồng minh (Măng Lăng, Ding Grang, Ring Rông).
    • Nhân vật phản diện: Duông Nâng, Tre Wet Krong Bung, quỷ Te Tô, đười ươi Gluih, thủ lĩnh Tur Gôk.
    • Thủ pháp hóa thân qua lốt: Nhân vật biến hình nhập lốt (lốt cọp, lốt ông già, lốt ba ba khổng lồ Tơ Pa Bring Brông) để thực hiện các thử thách hoặc che giấu thân phận.
  • Kết cấu cốt truyện: Cốt truyện xây dựng theo mô hình phiêu lưu - chiến công liên hoàn; các xung đột phát triển theo đường thẳng từ nguyên nhân mâu thuẫn -> thử thách/biến hình -> giao tranh quyết liệt -> chiến thắng -> mở hội ăn mừng.
  • Nghệ thuật trần thuật và không gian - thời gian: Nghệ thuật kể chuyện kết hợp mô tả khoa trương, phóng đại. Không gian nghệ thuật đa tầng (mặt đất, bầu trời, không gian dưới nước lòng hồ làng Tur Gôk). Thời gian nghệ thuật là thời gian thần thoại hòa lẫn thời gian sinh hoạt nông nghiệp.

2. Tính trữ tình

  • Biểu hiện trữ tình: Thể hiện qua các khúc hát đối đáp giao duyên (hơ nguăi), tình cảm vợ chồng chung thủy giữa Dăm Duông và Bar Mă, tình mẫu tử, lòng trắc ẩn của cộng đồng đối với người nghèo khó.
  • Ngôn ngữ và biện pháp tu từ: Sử dụng ngôn ngữ giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh so sánh ví von gắn liền với thế giới tự nhiên rừng núi Tây Nguyên (ví của cải nhiều như lá rừng, chiêng ché nhiều như lá cây đa, trâu bò đông như kiến mối); điệp từ, điệp ngữ, cấu trúc song hành trùng điệp.

3. Tính kịch

  • Mâu thuẫn và xung đột kịch: Xung đột gay gắt giữa cái thiện và cái ác, giữa ý chí bảo vệ buôn làng và hành vi xâm lấn, cướp bóc của kẻ thù.
  • Hành động nhân vật và kịch tính: Kịch tính đẩy lên cao trào trong các pha giao tranh đối kháng trực diện (cảnh Ding Grang và Tre Wet Krong Bung vật nhau làm bật gốc cây đa, cây sung; cảnh Măng Lăng tung Duông Nâng lên chín tầng mây).
  • Ngôn ngữ đối thoại mang tính kịch: Lời thoại khẩu chiến, đối đáp thách thức giữa hai chiến tuyến bộc lộ trực tiếp hành động và tâm lý nhân vật.

Chương 4: Sử thi Xơ Đăng trong vùng thể loại sử thi Tây Nguyên

Chương 4 định vị sử thi Xơ Đăng trong mối quan hệ so sánh loại hình với sử thi các dân tộc Êđê, Bahnar, M’nông.

1. Tính thống nhất của vùng sử thi Tây Nguyên

Sử thi Xơ Đăng cùng chia sẻ những hằng số văn hóa - thể loại của sử thi Tây Nguyên: phản ánh bối cảnh công xã thị tộc bước vào thời kỳ phân hóa, đề cao mẫu hình tù trưởng anh hùng đại diện cho sức mạnh và danh dự của cộng đồng, sử dụng thi pháp phóng đại, trùng điệp và phương thức diễn xướng truyền khẩu kết hợp kể, ngâm, hát.

2. Những tương đồng và khác biệt cụ thể

Tiêu chí so sánh Sử thi Xơ Đăng (Hơ m’uan) Sử thi Êđê (Khan) Sử thi Bahnar (Hơmon) Sử thi M’nông (Ot Ndrông)
Cấu trúc tác phẩm Sử thi liên hoàn chuỗi về nhân vật Dăm Duông Thường là tác phẩm độc lập hoặc chuỗi ngắn Chuỗi liên hoàn về nhân vật Dăm Giông Sử thi chuỗi phổ hệ rộng lớn về Bon Tiăng, Lênh
Yếu tố thần thoại & biến hình Đậm nét; nhân vật thường xuyên biến hình qua lốt (cọp, ông già) Yếu tố thực tế xã hội rõ hơn, ít yếu tố hóa thân lốt Có yếu tố biến hình nhưng mức độ vừa phải Đậm đặc chất thần thoại sáng thế và cổ sơ
Quy mô chiến tranh Xung đột quy mô nhỏ, đơn lẻ giữa cá nhân, gia tộc, làng xóm Chiến tranh bảo vệ buôn làng, quy mô mở rộng Chiến tranh mở rộng của cải, phạm vi vừa Chiến tranh liên minh quy mô lớn giữa các bon làng
Cơ sở tổ chức xã hội Chế độ song hệ (kết hợp yếu tố phụ quyền và mẫu quyền) Chế độ mẫu hệ thuần túy, vai trò người phụ nữ quyết định Chế độ song hệ / phụ quyền Chế độ mẫu hệ
Phương thức diễn xướng Nghệ nhân hát kể hơ m’uan, kết hợp điệu bộ kịch Hát kể khan bên bếp lửa nhà dài Kể ngâm hơmon tại nhà rông Hát kể ot ndrông đối đáp, quy mô trường thiên

3. Nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt

  • Nguyên nhân tương đồng: Cùng tồn tại trong không gian địa lý - sinh thái Trường Sơn - Tây Nguyên; có chung tiến trình lịch sử kinh tế nương rẫy; trải qua quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa lâu đời giữa các tộc người láng giềng.
  • Nguyên nhân khác biệt: Người Xơ Đăng thuộc ngữ hệ Môn – Khơme cư trú biệt lập ở vùng núi cao phía Bắc Tây Nguyên (khối núi Ngọc Linh), bảo lưu nhiều tầng văn hóa cổ sơ; cấu trúc gia đình song hệ chi phối quan hệ ứng xử và hôn nhân trong tác phẩm; môi trường sống khắc nghiệt tạo nên tâm thức ứng xử và các mô típ thần thoại hóa hiện thực đặc thù.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án khẳng định sử thi Xơ Đăng (hơ m’uan) là một bộ sử thi liên hoàn (chuỗi sử thi) với nhân vật trung tâm xuyên suốt là người anh hùng Dăm Duông, giải quyết các mối quan hệ xã hội, lao động sản xuất và đấu tranh sinh tồn của tộc người.
  2. Xác định sử thi Xơ Đăng thuộc loại hình sử thi thiết chế xã hội cổ sơ, ghi lại giai đoạn công xã nguyên thủy đang chuyển hóa sang xã hội có giai cấp; chứng minh tác phẩm mang đậm tính chất tự sự anh hùng ca dù dung chứa nhiều lớp trầm tích thần thoại và cổ tích.
  3. Xác lập mô hình phân tích thi pháp nguyên hợp của sử thi Xơ Đăng trên cả 3 trục loại hình: tính tự sự, tính trữ tình và tính kịch, gắn kết văn bản văn học với môi trường diễn xướng sống của nghệ nhân dân gian.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu đầu tiên về 06 tác phẩm sử thi Xơ Đăng đã xuất bản, góp phần bổ sung tư liệu khoa học chuẩn xác cho chuyên ngành Văn học Việt Nam và Văn học dân gian các dân tộc thiểu số.
  2. Bổ sung nguồn tư liệu điền dã thực địa tại tỉnh Kon Tum, phản ánh chân thực hiện trạng không gian diễn xướng và đời sống nghệ nhân.
  3. Luận án đề xuất các khuyến nghị thực tiễn:
    • Kiến nghị các cơ quan chức năng (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum) tiếp tục đẩy mạnh tiến độ biên dịch và xuất bản 100 tác phẩm sử thi Xơ Đăng còn lại trong kho lưu trữ.
    • Xây dựng chính sách đãi ngộ vật chất và tôn vinh danh hiệu cụ thể đối với các nghệ nhân hát kể sử thi Xơ Đăng cao tuổi.
    • Bảo tồn không gian diễn xướng gắn liền với sinh hoạt nhà rông và các lễ hội truyền thống; đưa các trích đoạn sử thi tiêu biểu vào chương trình giáo dục địa phương tại Kon Tum và các tỉnh Tây Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án mới chỉ tiếp cận và xử lý được 06 tác phẩm sử thi Xơ Đăng đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản chính thức. Số lượng 100 tác phẩm còn lại mới dừng ở dạng băng ghi âm, bản chép tay hoặc chưa được dịch nghĩa, do đó chưa thể bao quát toàn bộ quy mô đồ sộ của kho tàng hơ m’uan.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả xác định sẽ tiếp tục cập nhật các văn bản mới ngay khi được Viện Nghiên cứu Văn hóa biên dịch và công bố; đồng thời mở rộng hướng so sánh loại hình sử thi Xơ Đăng với sử thi của các cư dân ngữ hệ Môn – Khơme khác ở khu vực Đông Nam Á lục địa.

Giá trị tham khảo

Luận án mang giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Cung cấp khung lý thuyết thi pháp học sử thi, phương pháp tiếp cận liên ngành văn học - dân tộc học và phương pháp so sánh loại hình văn học dân gian.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo trong giảng dạy học phần Văn học dân gian Việt Nam, Văn học các dân tộc thiểu số, Văn hóa học Tây Nguyên.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác kiểm kê, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, hỗ trợ xây dựng đề án bảo tồn sử thi và chính sách đối với nghệ nhân dân gian tại tỉnh Kon Tum.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khảo cứu 13 bộ phận cấu trúc nhà dài Tơ Đrá và hệ thống lễ hội nông nghiệp (Chương 1); phân tích cấu trúc xung đột kịch và thi pháp hóa thân qua lốt (Chương 3); ma trận so sánh đối chiếu giữa sử thi Xơ Đăng với sử thi Êđê, Bahnar, M'nông (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Đồng bào Xơ Đăng gọi sử thi bằng thuật ngữ gì và kho tàng này hiện đã sưu tầm được bao nhiêu tác phẩm?

Người Xơ Đăng gọi sử thi là hơ m’uan. Trong khuôn khổ Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được 106 tác phẩm sử thi Xơ Đăng tại tỉnh Kon Tum, trong đó có 06 tác phẩm đã được dịch và xuất bản chính thức thành sách tính đến thời điểm hoàn thành luận án.

2. Nhân vật trung tâm xuyên suốt các tác phẩm sử thi Xơ Đăng là ai và mang đặc điểm gì?

Nhân vật trung tâm xuyên suốt là chàng Dăm Duông. Dăm Duông là hình tượng người anh hùng sử thi tiêu biểu, đại diện cho ý chí, sức mạnh và khát vọng của cộng đồng Xơ Đăng. Nhân vật xuất hiện trong chuỗi sử thi liên hoàn qua nhiều biến cố: bị bắt làm tôi tớ, giải cứu vợ, hóa thân trừ yêu quái, trở thành thủ lĩnh quân sự tài ba và luôn chia sẻ của cải, bảo vệ dân làng nghèo khó.

3. Thủ pháp nghệ thuật nào thể hiện đậm nét dấu ấn thần thoại và cổ tích trong sử thi Xơ Đăng?

Đó là thủ pháp hóa thân và biến hình qua lốt nhân vật. Các nhân vật trong sử thi Xơ Đăng thường xuyên biến đổi hình dạng (Dăm Duông biến thành cọp trong Dăm Duông hóa cọp, biến thành lốt ông già xấu xí trong Dăm Duông trong lốt ông già, hay thủ lĩnh đối phương biến thành ba ba khổng lồ Tơ Pa Bring Brông trong Duông làm thủ lĩnh). Đây là dấu vết của tư duy thần thoại cổ sơ kết hợp với thi pháp truyện cổ tích còn bảo lưu đậm đặc trong sử thi Xơ Đăng.

4. Cấu trúc nhà dài truyền thống của nhóm Tơ Đrá (dân tộc Xơ Đăng) được luận án miêu tả gồm bao nhiêu bộ phận chức năng?

Luận án dẫn chứng tư liệu dân tộc học chỉ ra rằng kết cấu nhà dài cổ truyền của nhóm Tơ Đrá gồm 13 bộ phận chức năng cơ bản, bao gồm: thổ chên (buồng ngủ bà chủ nóc), tiu kui (chỗ ngủ gia đình), tiu tmoi kui (chỗ khách ngủ), chỗ tiếp khách/hội họp, hchúc/càn (chỗ giã gạo), mang pệ (cửa chính), mang chên (cửa cữ/đưa tang), mang skôi (cửa phụ), bếp cũ (bếp thiêng đặt hòn đá thiêng dmoong), bếp chung, chỗ đặt ống nước, gian cấm khách và cột chính (chrang xem ting).

5. Tính kịch trong thi pháp sử thi Xơ Đăng được biểu hiện qua những yếu tố nào?

Tính kịch được biểu hiện tập trung qua 3 yếu tố: mâu thuẫn và xung đột nhân vật gay gắt một mất một còn giữa phe chính nghĩa và phe phi nghĩa; hành động nhân vật và kịch tính dồn dập trong các trường đoạn giao tranh tay đôi quyết liệt; ngôn ngữ đối thoại mang tính kịch với các màn khẩu chiến, thách thức trực diện, phản ánh trực tiếp cá tính và tâm lý nhân vật trong không gian diễn xướng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ “Đặc điểm sử thi dân tộc Xơ Đăng” của tác giả Lê Ngọc Bính là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về kho tàng hơ m’uan của người Xơ Đăng trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Luận án đã làm sáng tỏ bức tranh lịch sử, xã hội, văn hóa cổ truyền của tộc người, đồng thời xác lập vị trí của sử thi Xơ Đăng như một bộ sử thi liên hoàn mang tính chất thiết chế xã hội và tính nguyên hợp loại hình (tự sự, trữ tình, kịch). Thông qua việc so sánh đối chiếu với sử thi các dân tộc Êđê, Bahnar, M’nông, công trình đã khẳng định giá trị riêng biệt của sử thi Xơ Đăng, góp phần chứng minh tính thống nhất trong sự đa dạng phong phú của không gian sử thi Tây Nguyên.