CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TÌNH HÌNH SƯU TẦM VÀ NGHIÊN CỨU SỬ THI XƠ ĐĂNG Dân tộc Xơ Đăng nằm trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, vừa có những tương đồng và những đặc trưng về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội với các dân tộc anh em. Sinh hoạt kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào Xơ Đăng thể hiện quá trình tồn tại và phát triển lâu đời trên mảnh đất Trường Sơn – Tây Nguyên vô cùng độc đáo, đa dạng. Cùng với đó, trong quá trình ấy, người dân Xơ Đăng đã sáng tạo ra nhiều giá trị văn hoá, trong đó sử thi là một thành tựu đáng ghi nhận trong kho tàng văn hoá dân gian, bổ sung thêm vào bộ sưu tập sử thi Tây Nguyên nói riêng, sử thi Việt Nam và thế giới nói chung. Sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên thực sự đã rất công phu, tuy nhiên sưu tầm sử thi Xơ Đăng mới chỉ được tiến hành trong vài thập niên gần đây, tình hình nghiên cứu sử thi dân tộc này vẫn còn khá hạn chế, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải có những công trình nghiên cứu để giải mã giá trị của sử thi Xơ Đăng, đặt sử thi Xơ Đăng trong vùng sử thi Tây Nguyên để thấy được sự thống nhất và đặc trưng của sử thi từng dân tộc, khẳng định vị trí của sử thi của người Xơ Đăng trên bản đồ sử thi.
Tổng quan về dân tộc và văn hoá Xơ Đăng Dân tộc Xơ Đăng sống ở phía bắc Tây Nguyên theo ngữ hệ Môn – Khơme. Theo Đặng Nghiêm Vạn, tên gọi Xơ Đăng là tên gọi của người Bana gọi chệch tên tự gọi của nhóm địa phương đông đảo và chủ yếu nhất của dân tộc Xơ Đăng là Xơ – Teng hay Xơ Đang. Vào thời điểm những năm 80 của thế kỷ XX, dân tộc Xơ Đăng có khoảng 60.000 người ở Tây Nguyên và có khoảng 15.000 người cư trú rải rác ở các huyện Trà My (Quảng Nam – Đà Nẵng), huyện Sơn Hà (tỉnh Nghĩa Bình cũ) (Đặng Nghiêm Vạn & ctg, 1981, tr. Năm 1998 Đặng Nghiêm Vạn lại cho biết dân tộc Xơ Đăng ở Tây Nguyên đến lúc này đã có khoảng 100.000 ở các địa phương khác (Đặng, 1998).
Theo tài liệu của Viện Dân tộc học thì Dân tộc Xơ Đăng có gần 127.000 người, cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam (Viện Dân tộc học, 2008, tr. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019 dân tộc Xơ Đăng có 212. Người Xơ Đăng ở Tây Nguyên bao gồm 5 nhóm địa phương chính: Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Ca Dong, Hà Lăng sống ở 6 huyện: Đắc Tô, Sa Thầy, Đắc Glây, Kon Plông, Ngọc Hồi và Đắc Hà thuộc phía bắc 8 tỉnh Kon Tum với dân số 133.117 người, các huyện Bắc Trà My, Nam Trà My của tỉnh Quảng Nam và huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi với số dân 66.958, các huyện Krong Pách, Ea Kar, Cư M’gar của tỉnh Đăk Lăk với 9.818 người, một số ít sinh sống ở tỉnh Gia Lai. Nhóm Xơ Teng tự nhận là Xơ Teng, Xtang, Hđang, Rtiêng… cư trú đông nhất ở huyện Đắc Tô, một phần ở phía bắc thị xã Kon Tum và cư trú ở huyện Trà My (Quảng Nam).
Nhóm này nổi tiếng với tinh thần thượng võ, săn bắn (Vũ Hùng, 1986, tr. Nhóm Mơ Nâm (gần với tên gọi Bơ Nâm – một nhóm người Bahnar), sinh sống đông nhất ở huyện Công Plông (Kon Tum), một số cư trú ở Trà My (Quảng Nam), nhóm này chủ yếu làm ruộng nước bậc thang. Nhóm Tơ Đrá còn gọi là Hơđrá, Téhđa, Xơrạ cư trú ở phía bắc và đông bắc thị xã Kon Tum, ở huyện Công Plông và một phần ở huyện Trà Bồng (Nghĩa Bình cũ), nổi tiếng với nghề rèn. Nhóm Ca Dong là tên tự gọi của một nhóm ở Sa Thầy và Công Plông và chỉ phổ biến ở Trà My, đây là nhóm đông đảo nhất cư trú ở Sa Thầy, Công Plông, Đắc Tô (Gia Lai – Kon Tum), Sơn Hà (Nghĩa Bình cũ), Trà My (Quảng Nam).
Nhóm Hà Lăng còn gọi là Xơlang, Xalang sinh sống nhiều ở huyện Đắc Tô và thị xã Kon Tum, là nhóm hay di chuyển. Trong các nhóm trên thì Xơ Teng, Mơ Nâm và Tơ Đrá là những nhóm có nhiều điểm giống nhau về ngôn ngữ, văn hóa nhất, được coi là nhóm “trung tâm” của cộng đồng Xơ Đăng. Tuy nhiên, dù phân chia ra nhiều nhóm nhỏ do điều kiện lịch sử, địa lý và có những sắc thái riêng thì dân tộc Xơ Đăng vẫn là một cộng đồng người thống nhất về ngôn ngữ, nhân chủng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Về mặt nhân chủng, người Xơ Đăng có tầm vóc thấp, đại bộ phận tóc đen và thẳng, gò má dô trung bình, mặt ngắn, hơi dô, mũi rộng trung bình, môi dày vừa phải, nước da ngăm đen (Đặng Nghiêm Vạn, 1998, tr.
Người Xơ Đăng không chọn thung lũng để cư trú vì họ quan niệm: Thung lũng là lối đi của ma quỷ. Người ta cũng không cư trú trên sống lưng của quả núi vì đấy là đường đi của các thần. Giữa hai khe núi hẹp cũng không phải là không gian của con người… họ chỉ “ngủ” ở lưng chừng núi. Đó là không gian họ được quyền sở hữu mà không xâm hại đến các thế giới khác cần sự tôn trọng… (Nhiều tác giả, 1998, tr.
Kinh tế chiếm đoạt Sinh kế truyền thống của cư dân Xơ Đăng trước đây chủ yếu là săn bắn, hái lượm, đời sống của họ lệ thuộc rất lớn vào thiên nhiên, tận dụng sự trù phú của các sản vật từ núi rừng, sông suối. Săn bắn ở người Xơ Đăng phát triển hơn đánh cá và hái lượm (nhất 9 là ở thanh niên các nhóm người có tinh thần thượng võ như Xơ Teng, Ca Dong, Hà Lăng). Săn bắn có hai loại: săn tập thể (săn đuổi đón, săn vây) và săn cá nhân; ngoài bẫy còn sử dụng các phương tiện như nỏ, dáo, mác. Đánh cá có các hình thức như duốc cá, phóng lao, đơm, đó, đăng, tát cạn, lặn bắt tay không; người Hà Lăng nghề đánh cá phát triển hơn cả nên có nhiều hình thức như chài, chặng, li… Nghề hái lượm kém phát triển hơn nhưng việc thu nhặt lâm thổ sản lại phát đạt có giá trị sử dụng, trao đổi cao.
Người Xơ Đăng thường đi lấy mật ong, trầm hương, quế rừng, sâm… và tìm gỗ quý, mây song để làm nhà hay đan lát. Kinh tế nương rẫy, trồng trọt, chăn nuôi Trước Cách mạng tháng Tám vùng người Xơ Đăng chủ yếu có ba hình thức trồng trọt là nương rẫy, vườn, ruộng. Rẫy (déc, diếc, chiếc) có độ dốc nhất định, sử dụng một đến hai năm rồi bỏ hóa nhiều năm, sau đó lại tiếp tục được sử dụng. Hình thức phát đốt rồi chọc lỗ tra hạt.
Nông cụ hết sức thô sơ, cư dân chưa dùng cuốc mà dùng rìu; suốt lúa bằng tay. Trên nương rẫy, người ta thường xen canh gối vụ, ngoài lúa ra còn trồng xen các loại cây trồng khác như bầu, bí, dưa, kê, rau, đậu… Việc chăm sóc nương rẫy cũng đơn giản, ngoài làm cỏ một vài lần trong vụ thì người Xơ Đăng không bón phân mà chủ yếu là tận dụng tro đốt rừng làm rẫy; thông thường lúa được trồng ở trung tâm của rẫy, các loại cây khác như rau đậu, hoa màu, sắn trồng xung quanh, và ngoài cùng là hệ thống hàng rào với những chông, bẫy, thò hay người Tơ Đrá dùng thêm đàn mõ, quả lắc bằng đá, mõ tre, mõ gỗ… để chống chim, thú rừng phá hoại. Lúa nương chủ yếu là lúa tẻ, lúa nếp trồng ít hơn nhưng người Xơ Đăng ở Ngọc Hồi – Kon Tum giống lúa nếp là chủ yếu bên cạnh vai trò khiêm tốn của lúa tẻ (Nguyễn Thị Kim Vân, 2007, tr. Công việc nương rẫy theo một chu trình từ phát, dọn, trỉa và thu hoạch.
Do đất đai màu mỡ, thời tiết ổn định nên năng suất lúa ở đây khá cao (80 đến 100 kg chỉ với 1 kg lúa giống, có khi trúng vụ có thể lên đến 150 đến 200 kg), nhưng đôi khi do những yếu tố như sâu bọ, bệnh tật ở cây lúa có những năm mất mùa, năng suất giảm đáng kể (40 đến 50 kg). Nhóm Mơ Nâm ở các xã Mường Hoong (Đắc Glây), xã Hiếu, Măng Búc, Măng Cành (Công Plông), Ngọc Lay, Măng Xang (Đắc Tô) quanh núi Ngọc Linh lại canh tác ruộng nước. Họ đắp đập dẫn nước vào các con mương vào ruộng, sau đó người và trâu cùng quần, sục cho bùn lầy và gieo. Công cụ đơn giản chưa có cày, bừa, thường lúa được gieo thẳng không ngâm, không bón phân cũng không làm cỏ, điều đó cho ta thấy thời kỳ canh tác nguyên thủy, giản đơn.
Gần đây do tiếp xúc nhiều với các cư dân lân cận, sự vận 10 động của Đảng và Nhà nước, kỹ thuật canh tác đã có những biến chuyển: nay gieo mạ sau đó bốc lên cấy, dùng liềm (hái). Ngoài nương rẫy và ruộng, người Xơ Đăng ở các địa phương đều biết làm vườn. Vườn ở nhóm Ca Dong ở Trà My gọi là tmấc, ở Đắc Toan gọi là tố là những mảnh nương bằng phẳng. Vườn ở các nhóm Xơ Đăng ở Gia Lai, Kon Tum có hai loại: Loại vườn thứ nhất ở xa làng (diang brạ, đêu) trồng các loại cây như bông, gai, lanh, chàm (dùng để dệt), cây thuốc hút, cây thực phẩm như ớt, bí đỏ, bí trắng, cà, kiệu, rau thơm… các cây ăn trái như chuối, thơm, đu đủ, dưa… cây mía đường, đôi khi trồng cả ngô.
Loại vườn thứ hai (gọi là tdum, ktrum) ở cạnh nhà, các cây trồng giống như loại vườn đã nêu nhưng có trồng thêm các cây ăn trái lâu năm như mít, muỗm… Vườn trở thành nguồn cung cấp các loại thực phẩm khác nhau ngoài trồng trọt và hái lượm. Cư dân Xơ Đăng còn chăn nuôi, gia súc thường thả rong là ngựa, trâu, lợn và gia cầm là gà: Nói đến gia súc ăn cỏ, ở Gia Lai – Kon Tum trước hết phải kể đến con trâu. Trước 1975 chúng được nuôi ở mọi nơi, gia đình ít cũng có 1 – 2 con, nhiều đến vài chục con. Ở Gia Lai – Kon Tum, trâu được nuôi nhiều hơn cả so với Tây Nguyên, các tù trưởng thường có đàn trâu lớn.
Đến nay trong dân gian vẫn truyền tụng về ông Hia, một tù trưởng Xơ Đăng cách đây nhiều đời mà tên gọi được đặt cho làng Kon Hia (Đăk Tơ Kan, Đăk Tô, Kon Tum) có đàn trâu tới 500 con… (Nguyễn Thị Kim Vân, 2007, tr.