Giáo trình Tâm lý học xã hội - ThS Vũ Mộng Đóa, Trường Đại học Đà Lạt

Trường đại học

Trường Đại học Đà Lạt

Chuyên ngành

Tâm lý học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2007

164
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình tâm lý học xã hội ThS

Giáo trình Tâm lý học xã hội của ThS. Vũ Mộng Đóa là tài liệu giảng dạy dành cho sinh viên Khoa Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng tại Trường Đại học Đà Lạt. Giáo trình gồm 164 trang, được biên soạn năm 2007, chia thành ba chương chính. Chương 1 trình bày bản chất, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học xã hội với tư cách một khoa học. Chương 2 phân tích các hiện tượng tâm lý xã hội cơ bản. Chương 3 tập trung vào tâm lý nhóm nhỏ. Mục tiêu cốt lõi của giáo trình là cung cấp kiến thức nền tảng về lịch sử hình thành ngành, giúp sinh viên nhận diện các hiện tượng tâm lý trong hoạt động giao tiếp giữa cá nhân. Đồng thời, giáo trình trang bị kỹ năng nắm bắt đặc điểm tâm lý nhóm xã hội phục vụ thực hành công tác xã hội. Đây là nguồn tham khảo quan trọng cho sinh viên ngành công tác xã hội tại Việt Nam.

1.1. Cấu trúc nội dung giáo trình

Giáo trình được xây dựng theo ba chương logic. Chương 1 giới thiệu khái niệm, bản chất và phương pháp nghiên cứu tâm lý học xã hội. Chương 2 đi sâu vào các hiện tượng tâm lý xã hội như định kiến, tuân thủ, phục tùng và ảnh hưởng xã hội. Chương 3 phân tích tâm lý nhóm nhỏ, bao gồm khái niệm nhóm, các giai đoạn phát triển và đặc điểm tâm lý tập thể. Cách sắp xếp này giúp người học tiếp cận kiến thức từ tổng quan đến chi tiết, từ lý thuyết đến ứng dụng thực tiễn.

1.2. Đối tượng và mục tiêu sử dụng

Giáo trình phục vụ chính cho sinh viên Khoa Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng. Nội dung hướng đến việc trang bị kiến thức cơ bản về bản chất tâm lý xã hội, nhận diện hiện tượng tâm lý trong giao tiếp liên cá nhân và nắm vững đặc điểm phát triển nhóm xã hội. Sinh viên có thể vận dụng kiến thức vào thực hành công tác xã hội với các nhóm cụ thể như nhóm tự lực, nhóm hỗ trợ cộng đồng.

II. Phân tích bản chất và phương pháp nghiên cứu tâm lý học xã hội

Tâm lý học xã hội là phân ngành của tâm lý học, tập trung nghiên cứu các quy luật khách quan của sự tác động qua lại giữa yếu tố tâm lý và xã hội trong hoạt động cá nhân cũng như nhóm người. Bản chất của tâm lý học xã hội xuất phát từ hoạt động và giao tiếp, phản ánh thực tại đời sống của một nhóm người cụ thể. Giáo trình của ThS. Vũ Mộng Đóa trình bày các phương pháp nghiên cứu đa dạng. Phương pháp quan sát tự nhiên giúp ghi nhận hành vi trong môi trường thực tế. Phương pháp phỏng vấn sâu thu thập thông tin chi tiết từ cá nhân. Phương pháp trắc nghiệm xã hội đo lường thái độ và mối quan hệ trong nhóm. Phương pháp nghiên cứu tài liệu phân tích dữ liệu thứ cấp. Các phương pháp này được sử dụng kết hợp tùy theo mục đích nghiên cứu cụ thể, đảm bảo tính khoa học và toàn diện trong quá trình thu thập dữ liệu tâm lý xã hội.

2.1. Định nghĩa tâm lý học xã hội theo các học giả

Theo Arthur S. Reber và Emily Reber, tâm lý học xã hội là phân ngành nghiên cứu khía cạnh hành vi con người bao gồm cá nhân, nhóm, tổ chức và xã hội tổng thể. Theo từ điển của Vũ Dũng, ngành này nghiên cứu quy luật tác động qua lại giữa yếu tố tâm lý và xã hội trong hoạt động cá nhân và nhóm người. Cả hai định nghĩa đều nhấn mạnh tính tương tác xã hội làm nền tảng hình thành hành vi con người.

2.2. Phương pháp trắc nghiệm xã hội trong nghiên cứu

III. Các hiện tượng tâm lý xã hội và ảnh hưởng xã hội

Giáo trình phân tích chi tiết các hiện tượng tâm lý xã hội cơ bản xuất hiện trong đời sống cộng đồng. Định kiến xã hội là thái độ tiêu cực đối với nhóm người dựa trên đặc điểm chung, dẫn đến phân biệt đối xử. Tuân thủ là sự thay đổi hành vi để phù hợp với kỳ vọng nhóm. Phục tùng là sự chấp nhận yêu cầu từ người có thẩm quyền. Ảnh hưởng xã hội là cơ chế căn bản mà tâm lý học xã hội quan tâm, chỉ cách hành vi của một người trở thành định hướng cho hành vi người khác. Ảnh hưởng xã hội bao trùm mọi thay đổi hành vi dựa trên sức ép chi phối trong bối cảnh nhất định. Loại ảnh hưởng trực tiếp xảy ra khi cá nhân tương tác mặt đối mặt, đặc điểm tâm lý, phong cách ứng xử của người này tác động đến người kia. Ví dụ điển hình là học sinh bị ảnh hưởng lẫn nhau về cách nói chuyện, ăn mặc và hành vi hàng ngày.

3.1. Định kiến và phân biệt đối xử trong xã hội

Định kiến xã hội là thái độ tiêu cực được hình thành dựa trên sự khái quát hóa quá mức về một nhóm người. Định kiến dẫn đến phân biệt đối xử, tức là hành vi bất công đối với thành viên nhóm bị định kiến. Cơ chế hình thành định kiến bao gồm quá trình xã hội hóa, kinh nghiệm cá nhân và ảnh hưởng truyền thông. Giáo trình nhấn mạnh vai trò của công tác xã hội trong việc giảm thiểu định kiến thông qua giáo dục và tăng cường hiểu biết liên văn hóa.

3.2. Cơ chế tuân thủ và phục tùng trong nhóm

Tuân thủ xảy ra khi cá nhân thay đổi hành vi để phù hợp với áp lực nhóm, ngay cả khi không có mệnh lệnh trực tiếp. Phục tùng là sự chấp hành yêu cầu từ người có quyền lực hoặc thẩm quyền cao hơn. Cả hai cơ chế này đều phản ánh sức mạnh của ảnh hưởng xã hội đối với hành vi cá nhân. Trong thực hành công tác xã hội, hiểu rõ các cơ chế này giúp chuyên gia xây dựng phương pháp can thiệp hiệu quả.

IV. Ứng dụng giáo trình tâm lý học xã hội trong thực hành công tác xã hội

Giáo trình Tâm lý học xã hội của ThS. Vũ Mộng Đóa có giá trị ứng dụng cao trong thực hành công tác xã hội. Kiến thức về tâm lý nhóm nhỏ giúp chuyên gia hiểu rõ quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm tâm lý của nhóm mục tiêu. Nhận diện các hiện tượng tâm lý xã hội như định kiến, ảnh hưởng xã hội hỗ trợ xây dựng chương trình can thiệp phù hợp. Phương pháp nghiên cứu tâm lý xã hội cung cấp công cụ đánh giá nhu cầu cộng đồng chính xác. Giáo trình còn giúp sinh viên phát triển kỹ năng làm việc nhóm, quản lý xung đột và thúc đẩy sự gắn kết xã hội.Ứng dụng thực tiễn bao gồm tư vấn nhóm, tổ chức nhóm tự lực, hỗ trợ cộng đồng khó khăn và đào tạo kỹ năng sống. Đây là tài liệu nền tảng không thể thiếu cho người làm công tác xã hội tại Việt Nam.

4.1. Vai trò của giáo trình trong đào tạo sinh viên

Giáo trình cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho sinh viên công tác xã hội. Sinh viên được trang bị kiến thức về bản chất tâm lý xã hội, phương pháp nghiên cứu và kỹ năng phân tích nhóm. Giáo trình giúp sinh viên chuyển đổi từ kiến thức sách vở sang thực hành chuyên nghiệp. Nội dung cập nhật và gần gũi với bối cảnh Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập và ứng dụng.

4.2. Hướng phát triển và bổ sung nội dung

22/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI ThS. VŨ MỘNG ĐÓA LỜI MỞ ĐẦU Cuốn giáo trình Tâm lý học xã hội này được biên soạn dành cho sinh viên Khoa Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng - Trường Đại học Đà Lạt. Nội dung của cuốn giáo trình bao gồm 3 chương: - Chương 1: Tâm lý học xã hội là một khoa học - Chương 2: Các hiện tượng tâm lý xã hội - Chương 3: Tâm lý nhóm nhỏ Mục tiêu của giáo trình nhằm: - Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về bản chất và lịch sử hình thành tâm lý học xã hội. - Giúp sinh viên nhận thức rõ bản chất của các hiện tượng tâm lý xã hội trong quá trình hoạt động và giao tiếp giữa các cá nhân. - Giúp sinh viên nắm vững những đặc điểm tâm lý và các giai đoạn phát triển của nhóm xã hội. Từ đó có thể vận dụng vào trong quá trình thực hành công tác xã hội với nhóm xã hội cụ thể. Trong quá trình biên soạn giáo trình này tác giả đã cố gắng rất nhiều để hoàn thành kịp thời cung cấp cho sinh viên. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định. Tác giả kính mong nhận được sự đóng góp và bổ sung ý kiến của bạn đọc. Đà Lạt, ngày 21 tháng 06 năm 2007 Tác giả Vũ Mộng Đóa Chương 1. TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI LÀ MỘT KHOA HỌC I. Bản chất, đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học xã hội 1. Khái niệm tâm lý học xã hội Bản chất của Tâm lý học xã hội: + Đó là tâm lý chung của nhiều người. Nó được hình thành từ một hệ thống động cơ của một nhóm xã hội cụ thể (nhu cầu xã hội, tâm thế, niềm tin xã hội, v.) + Tâm lý xã hội luôn luôn phản ánh thực tại đời sống của một nhóm người. Tồn tại nào thì tâm lý ấy. + Tâm lý học xã hội có bản chất từ hoạt động và giao tiếp (tính duy vật của tâm lý học xã hội). Theo Từ điển tâm lý học Tiếng Anh của Arther S. Rebel and Emily Rebel, tâm lý học xã hội được định nghĩa là một phân ngành của tâm lý học, nó tập trung nghiên cứu các khía cạnh của hành vi con người bao gồm các cá nhân, các nhóm, các tổ chức xã hội và xã hội mang tính tổng thể. Theo từ điển Tâm lý học xã hội do Vũ Dũng chủ biên, tâm lý học xã hội là một phân ngành của tâm lý học, nghiên cứu các quy luật khách quan của sự tác động qua lại giữa các yếu tố tâm lý và xã hội trong hoạt động của cá nhân và các nhóm người. Tâm lý học xã hội nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các nhóm xã hội, các tầng lớp và các giai cấp khác nhau trong xã hội, nghiên cứu các đặc tính (giai cấp, dân tộc, v.v) và các quy luật hình thành những loại hình nhân cách mang tính lịch sử, xã hội, nghiên cứu các cơ chế quan hệ qua lại về mặt tâm lý xã hội trong các nhóm xã hội khác nhau, nghiên cứu các hình thức giao tiếp khác nhau trong tập thể. Tóm lại, theo chúng tôi, tâm lý học xã hội là một phân ngành của tâm lý học, nó tập trung nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của một nhóm xã hội cụ thể, nảy sinh từ sự tác động qua lại trong hoạt động và trong giao tiếp giữa các cá nhân ở trong nhóm. Nó chi phối thái độ, hành vi, cử chỉ của cá nhân khi họ ở trong nhóm đó. Đối tượng của Tâm lý học xã hội Tâm lý học xã hội cũng giống như nhiều ngành khoa học khác, việc xác định đối tượng nghiên cứu là một vấn đề phức tạp và khó khăn nhất. Hiện nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau giữa các nhà tâm lý học của các trường phái tâm lý học về đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội. Trong đó, đặc biệt là có sự khác nhau khá rõ nét giữa tâm lý học Xô viết (cũ) và tâm lý học phương Tây. Các nhà tâm lý học Xô viết cho rằng, đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội của nhóm. Tuy nhiên, trong số những nhà tâm lý học Xô viết cũng có những quan điểm cụ thể không hoàn toàn đồng nhất nhau. Các nhà tâm lý học Xô viết (cũ), tiêu biểu như: E. Sôrôkhôva cho rằng đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội là nhân cách “phân loại kiểu người về mặt xã hội - lịch sử”, “các đặc điểm tâm lý của nhân cách”, “sự quy định của xã hội đối với tâm lý của cá nhân”. Một số tác giả khác như V. Kovaliop cho rằng đối tượng của tâm lý học xã hội là “những hiện tượng tâm lý của những khối người đông đảo”, “là tâm lý của tập thể”, “sự cộng đồng về tâm lý”. Manxurop cho rằng tâm lý học xã hội vừa nghiên cứu tâm lý của nhóm, của khối người đông đảo, vừa nghiên cứu đặc điểm hành vi của nhân cách, của cá nhân khi ở trong nhóm. Kovaliop thì cho rằng “đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu những nét đặc trưng tâm lý của các nhóm xã hội, các tập thể, cũng như những quy luật hình thành và quy luật hoạt động của các tập thể, các nhóm trong quá trình tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá nhân”. Khác với quan điểm của các nhà tâm lý học Xô viết trước đây và các nhà tâm lý học Nga hiện nay, các nhà tâm lý học phương tây lại tiếp cận từ góc độ khác. Các nhà tâm lý học phương tây cho rằng, đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu hành vi của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh và môi trường xã hội. Đó là nhận định khái quát, tuy nhiên, nếu xem xét một cách cụ thể cũng có một số vấn đề sau đây: + Quan điểm của Jones và Gerard (1967) cho rằng đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu hành vi cá nhân như là chức năng kích thích xã hội. Ở đây, các tác giả đã nhấn mạnh đến ảnh hưởng qua lại giữa các cá nhân trong nhóm. + Quan điểm của các nhà tâm lý học M. cho rằng tâm lý học xã hội cần nghiên cứu kinh nghiệm và hành vi của cá nhân trong môi trường xã hội nhất định. + Quan điểm thứ ba cho rằng đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa cá nhân và môi trường xã hội (các nhà tâm lý học đại diện như: Jack H. Curtis Richard Dewey, David G. Myer) Cách tiếp cận thứ nhất (trường phái tâm lý học Xô viết) mang tính khái quát hơn, chúng có phạm vi rộng. Cách tiếp cận thứ hai mang tính cụ thể, rõ ràng: nhận thức - thái độ - tình cảm - hành vi. Như vậy, có thể hiểu rằng: Đối tượng của tâm lý học xã hội nằm ở bản chất các hiện tượng tâm lý xã hội đã được phân tích ở trên. Đó là cái tâm lý của những nhóm xã hội cụ thể, bao gồm những nét tâm lý chung nhất, đặc trưng nhất của nhóm được tạo nên từ sự tác động qua lại giữa các cá nhân trong nhóm. Nó không phải là cái tâm lý như là sản phẩm hoạt động của chủ thể mỗi người dưới những tác động của hiện thực khách quan. Nó cũng không phải là cái tổng số đơn giản những đặc điểm tâm lý của tất cả những cá nhân trong nhóm hợp thành. Nhiệm vụ của Tâm lý học xã hội Tâm lý học xã hội có hai nhiệm vụ chính là nghiên cứu lý luận và nghiên cứu ứng dụng. 1) Nghiên cứu lý luận - Xác lập được hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học riêng nằm trong cấu trúc hợp lý, mang đặc thù của khoa học mình. Hiện nay một số khái niệm, phạm trù cấu trúc của tâm lý học xã hội còn chưa rõ ràng để có thể phân biệt được ranh giới của nó với những khoa học lân cận. - Phát hiện được các quy luật hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội, chỉ ra cách sử dụng chúng vào việc phát huy nhân tố con người trong các điều kiện hoạt động khác nhau. Cụ thể là những quy luật của sự tác động qua lại trong nhóm, vai trò của cá nhân, vai trò của nhóm trong quá trình này, những điều kiện chủ quan và khách quan của sự hình thành nên những hiện tượng tâm lý xã hội và những hình thái biến động trong tâm lý xã hội. 2) Nghiên cứu ứng dụng Những quy luật chung của Tâm lý học xã hội được vận dụng vào một số lĩnh vực khoa học khác cũng như trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội. Từ đó tạo nên những chuyên ngành khác nhau của tâm lý học xã hội. - Tâm lý học dân tộc: Đây là một chuyên ngành quan trọng của tâm lý học xã hội. Nó nghiên cứu tâm lý dân tộc và những biến đổi của tâm lý dân tộc gắn với những chuyển biến lịch sử diễn ra trong đời sống các dân tộc. Nhận thức được tính phong phú, đa dạng hay độc đáo của một dân tộc là yêu cầu cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, con người của một quốc gia. Việc nghiên cứu tâm lý dân tộc còn góp phần quan trọng trong sự hiểu biết giữa các dân tộc, là cơ sở của mối quan hệ hợp tác và liên kết giữa các nước với nhau. - Tâm lý học xã hội trong công tác lãnh đạo và quản lý xã hội. Đây là một chuyên ngành mới của tâm lý học xã hội, nó đi sâu vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong hệ thống quản lý, chỉ ra các đặc điểm, cơ chế và quy luật tâm lý đang có ảnh hưởng tới hoạt động này trên cơ sở đó nêu ra những yêu cầu về phẩm chất và năng lực tâm lý cần thiết của những người lãnh đạo và bị lãnh đạo quản lý. - Tâm lý học xã hội trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh Chuyên ngành này nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, nghệ thuật bán hàng, thông tin quảng cáo v.Trên cơ sở đó, nêu ra yêu cầu đối với cơ sở sản xuất về số lượng và chất lượng, hình thức của các loại hàng hoá, dịch vụ. - Tâm lý học xã hội trong tín ngưỡng tôn giáo, trong thông tin đại chúng, trong giáo dục y tế, trong đời sống gia đình, trong dư luận xã hội và tâm trạng quần chúng. Phạm vi ứng dụng của tâm lý học xã hội rất rộng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ