MỞ ĐẦU Loài dầu giun còn gọi là rau muối rừng hay kinh giới đất có tên khoa học là Dysphania ambrosioides (L. Loài này là thực vật mọc hoang ở khắp miền đồng bằng, ven các triền sông, miền trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, vùng Tây Nguyên, đặc biệt là Đà Lạt. ambrosioides còn được phân bố các nước châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ. ambrosioides được biết đến là một loại thực vật quan trọng không chỉ trong y học cổ truyền mà còn được sử dụng làm thực phẩm, gia vị,….
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Dysphania ambrosioides. Năm 2019, Zago và cộng sự chỉ ra rằng chiết suất cồn 70% trong 48 tiếng chứa tannin, flavonoid, alkaloid, anthraquinon. ambrosioides cũng chứa saponin (ở toàn bộ loài), axit hữu cơ (butyric, citric, ferulic, malic, succinic, tartaric, vanillic), tannin (phần trên mặt đất), atethole, kaempferol, quercetin, santonin (quả), betain, chenopodiosides, heterosides (rễ) (Ehiabhi và cộng sự, 2012). Các nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng tinh dầu D.
ambrosioides bao gồm một hỗn hợp phức tạp của monoterpen và sesquiterpenes, và nhiều loại andehit, axit, rượu và xeton (Koba và cộng sự, 2009). Đặc biệt ở một số nước trên thế giới, D. ambrosioides đã được sử dụng làm thuốc diệt giun sán (Kliks, 1985; Jiménez-Osornio và cộng sự, 1996). Tại Mỹ, loài đã được sử dụng như một loại thuốc tẩy giun (Zamilpa và cộng sự, 2019) và điều trị bệnh lỵ amip (Ávila-Blanco và cộng sự, 2014).
Ở Philippines, người dân địa phương đã sử dụng lá để điều trị chứng khó tiêu ở trẻ em trong nhiều thế kỷ (Cantoria, 1976). Nước sắc của lá cũng đã được sử dụng ở Trung Mỹ như một loại thuốc chống co thắt và điều trị loét (Hurrell và cộng sự, 2018). Tại Việt Nam, nghiên cứu gần nhất về thành phần tinh dầu D. ambrosioides của Ngân và cộng sự (2020) tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai chỉ ra hiệu suất chưng cất đạt 0,8435% với các thành phần chính của tinh dầu thu được chủ yếu gồm 2,3-dehydro-1,4- cineole, α -terpinene, isoascaridole và p-cymene.
ambrosioides là một loài phân bố rộng và là một loài có tiềm năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như y học, sinh học, thực phẩm, mỹ phẩm, …. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về loài ở Việt Nam còn hạn chế do vậy việc nghiên cứu về thành phần hóa học của loài này là rất cần thiết, có thể làm tiền đề cho các nghiên cứu khoa học khác. 1 Từ những vấn đề trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Bước đầu đánh giá sơ bộ thành phần hóa học loài Dầu giun (Dysphania ambrosioides (L.) Mosyakin & Clemants) phân bố ở Đà Lạt.” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhằm bước đầu làm sáng tỏ các cơ sở khoa học của loài loài này, phát huy giá trị kinh tế và bảo tồn nguồn gen thực vật. Nội dung nghiên cứu: - Tách chiết và định tính hợp chất thứ cấp chính có trong loài dầu giun Dysphania ambrosioides (L.) Mosyakin & Clemants ở Đà Lạt.
- Phân tích thành phần tinh dầu của loài dầu giun Dysphania ambrosioides (L.) Mosyakin & Clemants ở Đà Lạt. Khái quát về chi Dysphania Chi Dysphania thuộc họ Amaranthaceae, có nguồn gốc từ miền Trung và Nam Mỹ, phân bố hầu hết các nước trên thế giới bao gồm Bắc Mỹ (Stohlgren và cộng sự, 2013), Châu Âu (Pace và Tammaro, 2001), Châu Á (Liu và cộng sự, 2006; Mito và Uesugi, 2004), và Châu Phi (Brown và cộng sự, 1985). Tại Úc và New Zealand, Dysphania được ghi nhận có 20 loài (Wilson, 1984; Shepherd và Wilson, 2008). Đến nay, Dysphania là một trong những chi lớn nhất trong phân họ Chenopodioideae, bao gồm 50 loài (Sukhorukov và cộng sự, 2018), tuy nhiên theo The Plant List (2013) chi Dysphania bao gồm 53 loài.
Năm 2013, ở dãy Himalaya và Tây Tạng đã phát hiện 8 loài bản địa và 2 loài ngoại lai của chi Dysphania (Perth, 2011; Sukhorukov, 2014; Sukhorukov và Kushunina, 2014; Sukhorukov và cộng sự, 2015). Năm 2021, Uotila và cộng sự nghiên cứu phát sinh loài dựa trên phân tử, dẫn đến họ Dysphanieae được thành lập và chi Dysphania là một trong số chi thuộc họ này. Trong đó, loài Dysphania ambroisioides (L.) Mosyakin & Clemants đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu thành phần hóa học của chi Dysphania Theo nghiên cứu của Morteza vào năm 2015 thì Dysphania botrys có chứa flavonoid, alcaloid và một số terpenoid.
Bên cạnh đó theo nghiên cứu của Khan và cộng sự (2019) kết quả định tính thành phần hóa học của Dysphania botrys bằng chiết xuất MCE (methanolic crude extract) cho thấy sự hiện diện của alkaloid, phenol, flavonoid, saponin, tannin và sterol. Tuy nhiên, trong chiết xuất phân đoạn n-hexan (HxF) chỉ ghi nhận được flavonoid và saponin (Khan và Jan, 2019). Trong phân tích định lượng (HPLC) của tất cả các dung môi, phần etyl axetat (EAF) có lượng phenol cao nhất là 27,4 mg/g, các hoạt chất khác như flavonoid là 15,5 mg/g và alkaloid là 3,14 mg/g, theo MCE hiển thị thì lượng saponin tối đa là 34,3 mg/g (Khan và Jan, 2019). Một số thành phần đã được phân lập từ Dysphania graveolens bao gồm stigmasterol, stigmast-22-en-3-ol and 3-sitosteryl glucoside), flavonoids (pinostrobin, pinocembrin, chrysin, rutin and narcissin), sesquiterpenoids ((+)-8-hydroxyelemol, (+)-8-cetoxycryptomeridiol và cryptomeridiol một dẫn xuất của axit o-coumaric (Mata và cộng sự, 1986; Calzada và cộng sự, 2003).
Bên cạnh đó bằng phương pháp HPLC 3 nghiên cứu vào năm 2012 của Rivero đã định lượng ba hoạt chất flavonoid. Đối với mỗi hợp chất, phản ứng tuyến tính được đánh giá trong khoảng 0,5–2,0 mg / mL đối với pinostrobin , 0,25–1,25 mg / mL đối với pinocembrin (2) và 0,05–0,5 mg / mL đối với chrysin. Các thành phần chính trong D. graveolens là p-cymene (84,85%) và eucalyptol (11,26%).
Các nghiên cứu dược lý được thực hiện trên các chất chiết xuất và hợp chất từ cây đã cho thấy chúng có tác dụng tẩy giun sán (Camacho và cộng sự, 1991), khử trùng (Rojas và cộng sự, 1992), chống động vật nguyên sinh (Calzada và cộng sự, 2003) và hoạt động co thắt (Meckes và cộng sự, 1998). Độc tính và đặc tính tẩy giun sán của D. multifida là do sự hiện diện của monoterpene peroxide ascaridole (Gadano, Gurni, và Carballo, 2007; Gastaldi và cộng sự, 2018). Hàm lượng flavonoid và diterpenes trong D.
multifida cao nên loài có khả năng ứng dụng trong y học., được chứng minh là có chứa nồng độ cyanid cao (McKenzie và cộng sự, 2007). Đặc biệt là trong mùa khô nồng độ cyanid trong thực vật thuộc chi Dysphania đủ cao để giết gia súc và cừu sau khi tiêu thụ hơn 200 g thực vật tươi (McKenzie và cộng sự, 2007). botrys sau khi chiết suất có thể thu được 0,08-2% tinh dầu nên loài này chủ yếu được sử dụng để đặt trong quần áo vì mùi của nó giúp xua đuổi côn trùng gây hư hỏng quần áo (Kay, 1996). Mùi đặc trưng của cây là do monoterpenes và sesquiterpenes (Kletter và Kriechbaum, 2001).
Thành phần tinh dầu của D. Botrys gồm có monoterpenes (camphor, δ-3-carene, fenchone, linalool, menthone, nerol, β-pinene, pulegone, terpineol-4 and thujone) và sesquiterpenes (β-elemene, elemol và β-eudesmo) (Buchbauer, Jirovetz, Wasicky, Walter, và Nikiforov, 1995). Theo một số nghiên cứu, tinh dầu đa dạng về số lượng và thành phần (Kletter và Kriechbaum, 2001). Các sesquiterpenoid hai vòng được tìm thấy ở D.
Botrys có khả năng kháng nấm (Kokanova- Nedialkova, Nedialkov, và Nikolov, 2009). Tinh dầu từ các bộ phận trên không của D.botrys được thu thập từ tỉnh Tây Azerbaijan của Iran được thu nhận bằng hai phương pháp, chưng cất thủy lực và chiết xuất dung môi sử dụng n-hexan. Bằng phương pháp chưng cất thủy lực các thành phần chính của D.botrys là α eudesmol (15,2%), epi-α- muurolol (11,1%) và cubenol (10,2%). Các hợp chất chính là α chenopodiol axetat 4 (35,0%) và eudesma 3,11-dien-6-α-ol (18,9%) được xác định bằng phương pháp chiết xuất dung môi sử dụng n-hexan (Chalabian, Monfared, Larijani và Saldouzi, 2006).
Đối với tinh dầu của Dysphania schraderiana chứa nhiều hợp chất sesquiterpenes có giá trị y học. Đồng thời trong quá trình sinh tổng hợp đã thu nhận được terpene Farnesyl pyrophosphate synthase (FPPS) là một enzyme điểm nhánh quan trọng (Fu và cộng sự, 2019). Theo nghiên cứu của Yossen và cộng sự (2019) một trong những thành phần terpenoid chính của tinh dầu D. multifida là α-terpinene đã xua đuổi thành công loài ong bắp cày Vespula germanica trên cánh đồng cày trong điều tự nhiên ở Patagonia Argentina (Yossen và cộng sự, 2019).
Multifida còn chứa ascaridole, chất đã được ghi nhận có chức năng an thần, giảm đau và kháng nấm (Retamar, de Iglesias, Di Giacomo, và Calvarano, 1975). Ascaridole cũng cho thấy hoạt động chống lại các dòng tế bào khối u khác nhau trong ống nghiệm (Efferth và cộng sự, 2002). Kết luận đầu tiên là gợi ý đầu tiên rằng ascaridole có thể là một loại thuốc tiềm năng để điều trị ung thư. Tinh dầu của chi Dysphania được đánh giá cao trong nhiều năm để trị giun sán cho người và động vật (Bye, 1986; Githiori và cộng sự, 2006); do đó thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về thành phần tinh dầu của một số loài trong chi.
Sau khi phân tích các nghiên cứu cho thấy rằng ascaridole là thành phần hoạt động có liên quan đến việc để trị giun cho người và động vật (Sagrero-Nieves và Bartley, 1995; Owolabi và cộng sự, 2009; Jardim và cộng sự, 2010; Monzote và cộng sự, 2011). Bên cạnh đó cũng có nghiên cứu cho rằng tinh dầu D. graveolens chứa eucalyptol (42.5%) và không có cis-ascaridole (Rivero-Cruz, 2012). Khái quát về loài Dysphania ambroisioides Dysphania ambroisioides L.
Mosyakin & Clemants còn được gọi là Chenopodium ambroisioides, họ Rau muối (Chenopodiaceae), trên thế giới thường được gọi là cỏ ngọt hoặc chè Mexico (Hurrell và cộng sự, 2018), ở Việt Nam được gọi với tên dầu giun, cỏ hôi, kinh giới đất, rau muối dại,. Loài này là một loại thảo mộc sống lâu năm, hàng năm hoặc ngắn ngày (Soares và cộng sự, 2017) có lông, mùi thơm nồng (Grozeva và Stoeva, 2006). ambroisioides có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ, phân bố chủ yếu từ khí hậu ôn đới đến cận nhiệt đới và nhiệt đới ở Bắc bán cầu 5 (Uotila, 1990; Clemants và Mosyakin, 2008). Tại Việt Nam, D.
ambroisioides mọc khắp Bắc Bộ, Trung Bộ nhưng ở Bắc Bộ loài này phát triển mạnh và phân bố rộng hơn (Lợi, 2006). Năm 2006, theo Đỗ Tất Lợi Dysphania ambroisioides thích hợp trồng ở đất phù sa; ở Bắc bộ, loài mọc tự nhiên ở hai bên bờ sông Hồng, từ Vĩnh Phúc tới Nam Hà, ven biển tỉnh Thái Bình, Hải Phòng, Đồ Sơn và những nơi cao mát như Sapa, Đà Lạt. ambroisioides mọc dại từ đầu mùa xuân đến giữa mùa hè thì ra hoa kết quả, đến tháng 8-9, quả chín hạt rụng xuống đất, những cây bị đất phù sa tràn ngập thì thối chết nhưng hạt bị vùi xuống đất đến mùa xuân lại mọc lên (Lợi, 2006).