Báo cáo khóa luận tốt nghiệp: Quy trình chế biến bột nước cốt dừa - ĐH Mở TP.HCM

Nghiên cứu chi tiết quy trình chế biến bột nước cốt dừa đạt tiêu chuẩn công nghiệp. Tài liệu khóa luận tốt nghiệp phân tích phương pháp tối ưu sản xuất bột

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2014

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu quy trình chế biến bột nước cốt dừa

Bột nước cốt dừa là sản phẩm dạng bột khô, thu được từ quá trình chế biến nước cốt dừa tươi. Sản phẩm này có khả năng hòa tan nhanh trong nước, thuận tiện cho bảo quản và vận chuyển. Nghiên cứu quy trình chế biến bột nước cốt dừa đạt chuẩn nhằm tối ưu hóa các thông số kỹ thuật. Các yếu tố chính bao gồm hàm lượng nước thêm vào, lượng tinh bột biến tính bổ sung, nhiệt độ sấy và chất chống oxy hóa. Quá trình sản xuất bắt đầu từ việc chọn nguyên liệu dừa tươi chất lượng. Cơm dừa được xay và ép để thu nước cốt dừa. Sau đó, nước cốt dừa được trộn với tinh bột biến tính và các phụ gia. Hỗn hợp được sấy phun hoặc sấy ở nhiệt độ thích hợp để tạo bột. Sản phẩm đạt chuẩn phải đảm bảo độ ẩm, hàm lượng chất béo và chỉ số acid trong giới hạn cho phép. Nghiên cứu này được thực hiện tại Trường Đại học Mở TP.HCM từ năm 2013 đến 2014.

1.1. Đặc điểm và thành phần của nước cốt dừa

Nước cốt dừa là phần dịch trắng đục, thu được từ việc ép cơm dừa trưởng thành. Thành phần chính bao gồm nước, chất béo, protein và các khoáng chất. Hàm lượng chất béo trong nước cốt dừa chiếm khoảng 17-24%. Chất béo chủ yếu là các acid béo bão hòa như acid lauric và acid myristic. Protein trong nước cốt dừa giúp tạo độ sánh và ổn định nhũ tương. Nước cốt dừa tươi có thời gian bảo quản ngắn, thường chỉ 1-2 ngày ở nhiệt độ thường. Do đó, việc chế biến thành dạng bột giúp kéo dài thời gian sử dụng đáng kể.

1.2. Vai trò của tinh bột biến tính trong chế biến bột nước cốt dừa

Tinh bột biến tính được sử dụng làm chất mang và ổn định trong sản xuất bột nước cốt dừa. Loại phụ gia này giúp cải thiện khả năng hòa tan của sản phẩm trong nước. Tinh bột biến tính có khả năng hấp thụ và giữ nước tốt hơn tinh bột thường. Quá trình biến tính làm thay đổi cấu trúc phân tử tinh bột, tăng tính kháng nhiệt và kháng acid. Trong nghiên cứu, hàm lượng tinh bột biến tính bổ sung ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bột thành phẩm. Lượng tinh bột phù hợp giúp sản phẩm có độ mịn, khả năng chảy tự do và dễ hòa tan.

II. Các vấn đề trong quy trình chế biến bột nước cốt dừa

Quy trình chế biến bột nước cốt dừa đối mặt với nhiều thách thức kỹ thuật. Vấn đề đầu tiên là hiệu suất thu hồi chất khô từ nước cốt dừa. Hàm lượng nước thêm vào quá nhiều hoặc quá ít đều ảnh hưởng đến sản lượng. Nhiệt độ sấy là yếu tố quan trọng thứ hai. Nhiệt độ quá cao làm biến đổi protein và phá hủy chất béo, gây mùi ôi. Nhiệt độ quá thấp dẫn đến thời gian sấy kéo dài và nguy cơ nhiễm vi sinh. Chỉ số acid của sản phẩm tăng nhanh trong quá trình bảo quản. Hiện tượng oxy hóa chất béo làm giảm chất lượng cảm quan. Mùi ôi và vị chua là dấu hiệu phổ biến của sản phẩm kém chất lượng. Bao bì đóng gói cũng ảnh hưởng lớn đến thời hạn sử dụng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sản phẩm không bổ sung chất chống oxy hóa có chỉ số acid cao hơn đáng kể. Các nghiệm thức đối chứng cho thấy điểm cảm quan về mùi đạt giá trị thấp nhất chỉ 1,93 điểm.

2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến chất lượng sản phẩm

Nhiệt độ sấy quyết định trực tiếp đến chất lượng bột nước cốt dừa thành phẩm. Sấy ở nhiệt độ cao giúp rút ngắn thời gian chế biến nhưng gây tổn hại đến thành phần dinh dưỡng. Chất béo trong nước cốt dừa dễ bị oxy hóa ở nhiệt độ trên 70 độ C. Protein bị biến tính làm giảm khả năng hòa tan của bột. Ngược lại, sấy ở nhiệt độ thấp quá trình kéo dài, tăng chi phí năng lượng. Độ ẩm sản phẩm khó đạt tiêu chuẩn nếu nhiệt độ không phù hợp. Nghiên cứu cần xác định khoảng nhiệt độ tối ưu để cân bằng giữa chất lượng và hiệu suất.

2.2. Vấn đề oxy hóa và bảo quản bột nước cốt dừa

Chất béo trong bột nước cốt dừa rất dễ bị oxy hóa trong quá trình bảo quản. Oxy hóa lipid tạo ra các hợp chất aldehyde và ketone gây mùi ôi khó chịu. Chỉ số acid tăng dần theo thời gian, phản ánh mức độ phân hủy chất béo. Độ ẩm môi trường và ánh sáng là yếu tố thúc đẩy quá trình oxy hóa. Bao bì không kín làm tăng tiếp xúc với oxy trong không khí. Sản phẩm không được bổ sung chất chống oxy hóa có tuổi thọ ngắn. Nghiên cứu cho thấy chỉ số acid của nghiệm thức đối chứng cao nhất trong các nghiệm thức thử nghiệm.

III. Giải pháp tối ưu quy trình chế biến bột nước cốt dừa đạt chuẩn

Nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp để tối ưu quy trình chế biến bột nước cốt dừa. Giải pháp thứ nhất là điều chỉnh hàm lượng nước thêm vào phù hợp. Tỷ lệ nước ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly chất khô từ nguyên liệu. Giải pháp thứ hai là bổ sung tinh bột biến tính với hàm lượng thích hợp. Tinh bột biến tính cải thiện cấu trúc bột và khả năng hòa tan. Giải pháp thứ ba liên quan đến việc sử dụng chất chống oxy hóa. Kết hợp vitamin E và vitamin C cho hiệu quả chống oxy hóa vượt trội. Nghiên cứu cho thấy nghiệm thức D3 bổ sung cả vitamin E và vitamin C đạt điểm cảm quan mùi cao nhất 3,26 điểm. Chỉ số acid của nghiệm thức này cũng thấp hơn đáng kể so với đối chứng. Bao bì đóng gói kín và điều kiện bảo quản mát giúp kéo dài thời hạn sử dụng. Quy trình tối ưu phải đảm bảo cân bằng giữa chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm.

3.1. Tối ưu hóa hàm lượng tinh bột biến tính và nhiệt độ sấy

Hàm lượng tinh bột biến tính bổ sung cần được tối ưu hóa chính xác. Quá ít tinh bột khiến bột không đạt độ mịn và khó hòa tan. Quá nhiều tinh bột làm giảm hàm lượng nước cốt dừa thực tế trong sản phẩm. Nghiên cứu tiến hành khảo sát nhiều mức bổ sung khác nhau để tìm tỷ lệ tối ưu. Về nhiệt độ sấy, cần xác định khoảng nhiệt độ phù hợp với từng loại thiết bị. Mục tiêu là đạt độ ẩm tiêu chuẩn dưới 5% mà không làm hỏng cấu trúc bột. Thời gian sấy cũng cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả kinh tế.

3.2. Ứng dụng chất chống oxy hóa trong bảo quản sản phẩm

Chất chống oxy hóa đóng vai trò quan trọng trong việc kéo dài tuổi thọ bột nước cốt dừa. Vitamin C có khả năng chống oxy hóa nhanh, được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm. Vitamin E bảo vệ chất béo khỏi quá trình oxy hóa bằng cơ chế dọn gốc tự do. Khi kết hợp vitamin E và vitamin C, hiệu quả chống oxy hóa được cải thiện rõ rệt. Nghiên cứu chứng minh nghiệm thức D3 có chỉ số acid thấp nhất và điểm mùi cao nhất. Liều lượng sử dụng vitamin C an toàn, không hạn chế theo quy định phụ gia thực phẩm. Việc bổ sung chất chống oxy hóa là bước không thể thiếu trong quy trình sản xuất đạt chuẩn.

IV. Kết luận và ứng dụng quy trình chế biến bột nước cốt dừa

Nghiên cứu đã xác định được quy trình chế biến bột nước cốt dừa đạt chuẩn. Các yếu tố ảnh hưởng chính bao gồm hàm lượng nước, tinh bột biến tính, nhiệt độ sấy và chất chống oxy hóa. Kết quả cho thấy sự kết hợp vitamin E và vitamin C cho hiệu quả bảo quản tốt nhất. Sản phẩm đạt tiêu chuẩn có độ ẩm thấp, chỉ số acid trong giới hạn cho phép. Điểm cảm quan về mùi và vị đạt mức chấp nhận được đối với người tiêu dùng. Bao bì đóng gói kín giúp duy trì chất lượng trong thời gian dài. Quy trình này có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất công nghiệp quy mô lớn. Bột nước cốt dừa thành phẩm có thể sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Ứng dụng chính là làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống. Sản phẩm cũng phù hợp để xuất khẩu sang các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao.

4.1. Kết quả đạt được từ quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận về quy trình chế biến. Hiệu suất thu hồi chất khô được cải thiện khi điều chỉnh đúng tỷ lệ nước thêm vào. Chất lượng bột nước cốt dừa tăng rõ rệt khi bổ sung hàm lượng tinh bột biến tính phù hợp. Nghiên cứu xác định được nhiệt độ sấy tối ưu cho từng loại nguyên liệu. Kết hợp vitamin E và vitamin C giúp giảm chỉ số acid đáng kể so với đối chứng. Điểm cảm quan mùi của nghiệm thức D3 đạt 3,26 điểm, cao nhất trong các nghiệm thức. Sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng về độ ẩm, hàm lượng chất béo và độ hòa tan.

4.2. Tiềm năng ứng dụng và phát triển sản phẩm thương mại

Bột nước cốt dừa có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong ngành thực phẩm. Sản phẩm được sử dụng làm nguyên liệu cho nấu ăn, làm bánh và pha chế đồ uống. Ngành công nghiệp sản xuất cà phê, trà sữa sử dụng bột nước cốt dừa như thành phần chính. Sản phẩm dạng bột giúp giảm chi phí vận chuyển và bảo quản so với nước cốt dừa tươi. Quy trình chế biến đạt chuẩn mở ra cơ hội xuất khẩu sang thị trường quốc tế. Các nước Đông Nam Á và châu Âu có nhu cầu cao về sản phẩm từ dừa. Việc thương mại hóa sản phẩm cần đầu tư vào dây chuyền sản xuất hiện đại và hệ thống kiểm soát chất lượng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp đề tài nghiên cứu quy trình chế biến bột nƣớc cốt dừa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 1.1 Khát quát về dừa [1,3,7] 1.1 Nguồn gốc - đặc điểm thực vật Cây dừa có tên khoa học là Cocos nucifera L, thuộc ngành Hiển hoa bí tử, nhóm Đơn tử diệp, bộ Spacidiflorales, họ Palmae, chi Cocos, loài Nucifera. Đặc điểm của bộ này là thân tròn, suông, không nhánh, có mo bao lấy phát hoa. Hoa đuợc mang trên một gié to, gọi là buồng, hoa dừa là loại tạp tính (có cả hoa đực, hoa cái lẫn hoa luống tính). Cây dừa đuợc trồng và mọc hoang ở nhiều nơi ở những vùng nhiệt đới, gần bờ biển và các hải đảo nhu các nuớc thuộc Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh nhu Indonesia, Philppines, Ản Độ, Việt Nam, Mexico, Côte dTvoire.

Trong đó, Indonesia và Phillipines là hai quốc gia có sản luợng dừa nhiều nhất thế giới. Cây dừa là cây công nghiệp dài ngày, sống trong vùng nhiệt đới, thích nghi dễ dàng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau. Dừa là loài ít kén chọn đất, có thể mọc trên nhiều loại đất khác nhau: đất cát ven biển, đất sét nặng ven biển, đất phù sa ven sông, đất giồng cát, đất quanh vùng thổ cu. Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây dừa phát triển là 27 - 29°C, nhiệt độ duới 20°C kéo dài sẽ làm giảm năng suất dừa, nhung nếu nhiệt độ thấp hơn 15 °C sẽ làm dừa bị rối loạn sinh lý, gây rụng trái non.

Độ ẩm không khí thích hợp cho dừa vào khoảng 60 - 90%, khi độ ẩm thấp duới 60%, dừa sẽ bị rụng trái non vì quá khô hạn. Ngoài ra, dừa là cây ua sáng, nên nếu trồng trong bóng râm thì sẽ lâu cho trái. Dừa sẽ mọc và cho trái tốt khi có tổng số giờ chiếu sáng trong năm tối thiểu là 2. SVTH: Trần Thị Thu Chi Trang 2 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lý Thị Minh Hiền Phân loại dừa Có thể phân loại các giống dừa theo đặc tính của trái, theo hoa tự hay theo phương pháp thụ phấn.

Nếu phân loại theo phương pháp thụ phấn, có thể chia thành ba nhóm dừa sau: dừa cao, dừa lùn và dừa lai. Đặc tính của các nhóm dừa được thể hiện trong bảng 1.1: Đặc điểm các giống dừa Dừa cao Dừa lùn Dừa lai Thân cao 18 - 20m, ở Thân cao trung bình, cao Thân nhỏ, cao khoảng 5m, phần gốc cách mặt đất hơn dừa lùn nhưng thấp không có phần phình ở 50cm có phần phình ra, hơn dừa cao, gốc có phần gốc, tán lá ít (20 - 22 lá). phình ra. Cho trái muộn (sau 5 - 7 Cho trái sớm, sống Thời gian cho trái xấp xỉ năm trồng), sống lâu (90 khoảng 30 - 40 năm.

nhóm dừa lùn. Trái nhỏ, cây cho nhiều Cơm, dầu dừa tốt như Trái to, phẩm chất cơm, trái, nhưng chất lượng nhóm dừa cao, nhưng cho xơ, dầu dừa tốt. cơm, dầu, xơ dừa không số trái và sản lượng cơm tốt bằng nhóm dừa cao. Thụ phấn chéo.

Tự thụ phấn. Thụ phấn nhân tạo. Không chịu được điều Chống chịu được điều kiện khắc nghiệt của khí Mẫn cảm với sự thay đổi kiện khắc nghiệt của khí hậu, đất đai (dễ bị kiến độ ẩm của đất, nhưng hậu, đất đai, không vương, đuông phá hoại), kháng được các bệnh kháng được các bệnh nhưng kháng được các nguy hiểm như Lethal nguy hiểm như Lethal bệnh nguy hiểm như yellow, Cadang cadang. yellow, Cadang cadang.

Lethal yellow, Cadang SVTH: Trần Thị Thu Chi Trang 3 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lý Thị Minh Hiền cadang. (Hoàng Văn Đức, 1991) Ở nước ta, cây dừa được trồng nhiều ở Bến Tre (đồng bằng sông Cửu Long) và các tỉnh ven biển miền Trung: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Việt Nam có những giống dừa rất tốt, không kém gì các giống dừa tốt trên thế giới. Ở đồng bằng sông Cửu Long, có thể xếp các giống dừa thành 3 nhóm: Nhóm có hiệu quả kinh tế cao: Đây là các giống cho năng suất và hàm lượng dầu cao, phẩm chất cơm và xơ dừa tốt, thích hợp cho công nghiệp dầu và xơ dừa, bao gồm các giống sau: - Dừa Ta: thuộc nhóm dừa cao, trái cỡ trung bình, 3 khía rõ rệt, cơm dày 1,1 - 1,2 cm, sau khi trồng 5 năm thì cho trái, khoảng 4.500 trái cho 1 tấn cơm dừa khô.

Dừa ta chống chịu rất tốt với các điều kiện khắc nghiệt của khí hậu, đất đai. Tùy theo màu sắc của vỏ trái, ta có giống dừa Ta xanh và Ta vàng. - Dừa Lửa: thuộc nhóm dừa cao, cỡ trái trung bình đến to, dạng trái tròn. Sản lượng cơm dừa tương đương với giống dừa Ta.

- Dừa Nhím: thuộc nhóm dừa cao, dạng trái hơi dài, có 3 khía rõ rệt, đầu có núm, trái từ nhỏ đến trung bình, cơm dày 1,1 - 1,2 cm. Sản lượng xấp xỉ giống dừa Ta. Tùy theo màu sắc vỏ trái, ta có giống Nhím xanh và Nhím vàng. - Dừa Dâu: thuộc nhóm dừa lai, trái cỡ hơi nhỏ, dạng trái tròn, 3 khía không rõ.

Trái tuy hơi nhỏ nhưng xơ mỏng nên hàm lượng cơm dừa trong trái khá cao, đặc biệt hàm lượng dầu cao nhất trong các giống dừa hiện nay (66%). Dừa Dâu trồng tốt mỗi năm cho 14 - 16 buồng, mỗi buồng từ 10 - 15 trái, khoảng 4.000 trái cho 1 tấn cơm dừa khô. Tùy theo màu sắc của vỏ trái, ta có các giống dừa Dâu xanh, Dâu đỏ và Dâu vàng. Nhóm cho nước dừa tươi: Gồm các giống cho trái nhỏ, lượng cơm dừa thấp nhưng nước rất ngọt: SVTH: Trần Thị Thu Chi Trang 4 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lý Thị Minh Hiền - Dừa Ẻo: thuộc nhóm dừa cao, cỡ trái nhỏ nhất trong các giống hiện nay, mỗi buồng cho 30 - 50 trái.

- Dừa Xiêm: thuộc nhóm dừa lùn, mỗi năm cho 16 - 18 buồng, trung bình mỗi buồng 20 trái. Tùy theo màu sắc vỏ trái, ta có các giống Xiêm xanh và Xiêm đỏ. - Dừa Tam Quan: thuộc nhóm dừa lùn, trái có kích thước trung bình và có màu vàng ngà. Nhóm có hiệu quả kinh tế thấp: Gồm các giống có lượng cơm dừa thấp, tỉ lệ đậu trái thấp, ít có hiệu quả kinh tế: dừa Dứa (hay dừa Bông), dừa Sáp (dừa đặc ruột, không có nước), dừa Dang, dừa Bị.

Trong các giống dừa được trồng ở Việt Nam, giống dừa Ta là giống được trồng nhiều nhất (chiếm 65 - 75% diện tích), hơn nữa, chúng cho sản lượng cơm dừa cao bên ngoài là vỏ hạt (lớp màng mỏng màu nâu đỏ, dính chặt vào gáo); bên trong chứa phôi nhũ (còn gọi là cơm dừa) trắng bóng, dày 1-2 cm và nước dừa, có màu trắng đục, chiếm % lòng gáo. cũng như chất lượng cơm dừa tốt nên phù hợp để sản xuất bột nước cốt dừa.2 Cấu tạo của trái dừa Trái dừa là một quả nhân cứng đơn mầm, bao gồm một gáo cứng bao bọc phần cơm dừa bên trong và bên ngoài là lớp xơ dừa dày. Cấu tạo cắt ngang trái dừa già từ ngoài vào trong gồm có hai phần, là lớp biểu bì và hạt. Lớp biểu bì được chia thành nhiều phần: phía ngoài là lớp biểu bì nhẵn, có sáp, kế đến là lớp trung bì (vỏ quả giữa) chứa xơ màu nâu, trong cùng là lớp gỗ màu vàng nâu rất cứng, gọi là lớp nội bì Hình 1.2: Cấu tạo của trái (vỏ quả trong hay gáo dừa).

Dưới lớp nội bì là hạt dừa. Cấu tạo của hạt dừa như sau: SVTH: Trần Thị Thu Chi Trang 5 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lý Thị Minh Hiền Vỏ dừa: gồm xơ và bụi xơ. Xơ dừa dùng để se chỉ hay đan lưới, xoắn hay tẩm cao su làm nệm giường, bọc ghế, thảm, màng lọc không khí, chất cách nhiệt.Nhưng hiệu quả kinh tế kém khi triển khai ở qui mô lớn. Gáo dừa: nằm dưới lớp vỏ, hình cầu, có bề dày 3-5mm.

Thành phần chính của gáo dừa là lignin, cellulose, pentosan giống như gỗ. Được ứng dụng làm chất đốt (cháy đều, không khói). Cơm dừa: chất rắn màu trắng, bề dày khoảng 10mm, bên ngoài có một lớp vỏ nâu mỏng. Cơm dừa được ứng dụng làm thực phẩm dưới nhiều dạng sản phẩm khác nhau (cơm dừa khô, cơm dừa nạo sấy, sữa dừa đóng hộp.

Nước dừa: trung bình một trái dừa có chứa 300ml nước, chiếm 25% trọng lượng trái dừa. Nước dừa là loại nước giải khát phổ biến vì chứa nhiều chất dinh dưỡng như: đường, protein, lipid, vitamin, và khoáng nhưng với nồng độ rất loãng. Một trái dừa chín có thành phần trung bình như sau (theo phần trăm khối lượng trái): cơm dừa 30%, vỏ dừa 33,5%, gáo dừa 15% và nước dừa 21%.3 Cơm dừa Thu hoạch dừa khô khi độ tuổi của nó được 10-12 tháng gọi là dừa khô. Trong thành phần dừa khô cơm dừa là phần có giá trị dinh dưỡng nhất.

SVTH: Trần Thị Thu Chi Trang 6 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lý Thị Minh Hiền Bảng 1.2: Thành phần hóa học của cơm dừa Hàm lượng (% theo khối Thành phần lượng) Nuớc 44,0 - 52,5 Protein 3,0 - 4,3 Carbohydrate tổng 9,0 - 10,0 Cellulose 2,1 - 3,4 Lipid 34,7 - 38,2 Tro 0,8 - 1,3 (Chee C. Gwee, 1997) Từ cơm dừa qua các quá trình phơi sấy, nghiền hoặc trích ly, ép nguời ta đã tạo ra đuợc ra nhiều sản phẩm khác nhau nhu: bột cơm dừa, bột sữa dừa, nuớc cốt dừa (những sản phẩm này thuờng dùng trong công nghệ sản xuất bánh kẹo và các thực phẩm khác), dầu dừa (chủ yếu dùng trong công nghệ hóa học: xà phòng, bột giặt, dầu chải tóc,. Ngoài ra bã cơm dừa còn đuợc dùng làm thức ăn cho gia súc.2 Nước cốt dừa [7] Nuớc cốt dừa là một dạng nhũ tuơng có màu trắng đục, nhận đuợc khi ép cơm dừa tuơi nạo nhuyễn trong điều kiện có hay không bổ sung nuớc. Thành phần hóa học trong nuớc cốt dừa khi ép từ cơm dừa tuơi thay đổi tùy theo giống dừa, vị trí địa lý, độ chín của trái dừa, phuơng pháp trích ly và mức độ sử dụng dung môi (thuờng là nuớc) để trích ly.

Nuớc cốt dừa là một trong những thành phần không thể thiếu đuợc sử dụng phổ biến ở quy mô gia đình và quy mô công nghiệp thực phẩm của nguời châu Á nói chung cũng nhu nguời Việt Nam nói riêng. Nó là nguyên liệu cần thiết để chế biến các món ăn truyền thống ở các nuớc châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia,. SVTH: Trần Thị Thu Chi Trang 7 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lý Thị Minh Hiền (Pichivittayakarn). Ở Việt Nam dừa được sử dụng phổ biến trong các món ăn như cà ri, các món tráng miệng,.Ngoài ra nước cốt dừa còn là nguyên liệu sản xuất các sản phẩm như mứt dừa, syrup dừa, “phô mai” dừa, đậu hủ dừa và một số sản phẩm nước uống như “cocosoy milk”,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ