mở đầu, các sang tác cua W. Yeats phủ kin thời ki này. Nhu vậy, trong quan niệm của các nhà văn hoc sử Ireland, W. Yeats đóng vai trò khởi động và duy trì phong trào Phục hưng bang các đóng góp nồi bật về thơ ca.
Vai trò của W. Yeats trong văn học Ireland được ghi nhận ở hai điểm. Thứ nhất, các học giả Cambridge đã đồng ý với lời tôn vinh của Viện Hàn lâm Thuy Điền: (1) W. Yeats có ý thức mạnh mẽ về dat nước Ireland trong hoạt động sáng tác.
Thứ hai, việc bộ Lich sử văn hoc Ireland của Cambridge, tập 2 xếp W. Yeats vào tiêu mục về tho, dù ông có đóng góp không nhỏ ở các thể loại văn xuôi và kịch, đã cho thấy quan điểm đồng tình của Cambridge với Uỷ ban Nobel ở điểm thứ hai: (2) W. Yeats trước hết là một nhà thơ. Đây cũng là một quan điểm tôn trọng Nha tho, bởi trong thư gửi thủ lĩnh phong trào dân tộc John O’ Leary (1891-1907), W.
Yeats đã viết rằng thơ ca là mục đích tối hậu của cuộc đời ông [cd. Xin lưu ý, trong công trình này, chúng tôi sử dung khái niệm Ireland và “tính Ireland” trên quan điểm của nhóm học giả Cambridge (đến từ Anh, Ireland và Mỹ). Chúng không bị giới hạn bởi ranh giới lãnh thé, quốc tịch hay sự phải phép chính trị. Nhắc tới Ireland, chúng tôi đề cập tới một khái niệm mở đang vận động, với xã hội da văn hoá và không ngừng thay đổi.
Chúng tôi chủ trương không thừa nhận một định nghĩa bản chất luận nảo về tính Ireland, mà đi tìm sự tương tác giữa văn học và chính trị Ireland, một quá trình với nhiều lực đây biến động, phức tạp và đa dạng cùng tồn tai. Đến đây, khi đã xác định tìm hiểu sự tương tac giữa văn hoc Ireland và chính tri Ireland, chúng tôi tiếp tục gặp hai khái niệm: văn học Ireland và chính trị Ireland. Vẫn dựa trên giáo trình Cambridge, chúng tôi xác định văn hoc Ireland là một nên văn học được sáng tác bởi những tác giả sinh ra và/hoặc sống một phan đời đáng kê trên đảo Ireland. Còn chính trị Ireland bao gồm diễn biến lịch sử trên hòn đảo này.
Nhìn chung, nếu cần một ranh giới, thì quan điểm của chúng tôi là nhìn từ đảo Ireland. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi bao hàm lãnh thô Bắc Ireland như một phần của nước Ireland truyền thống, một vấn đề cho đến nay vẫn còn vô cùng nhạy cảm, hay thậm chí “không có lời giải” như lời của Richard Rose dự cảm từ năm 1972 [53, tr. Góc nhìn từ phạm vi đảo Ireland chỉ nhằm bảo lưu tính da dạng, biến động của truyền thống văn hoá Gaelic đã hình thành một cách khu biệt trên đảo, khi so sánh với những vùng văn hoá Celtic lân cận. Trở lại hai luận điểm chính mà cả Uỷ ban Nobel và nhóm học giả Cambridge viết Lịch sử văn học Ireland đã thông nhất, chúng tôi nhận thấy chúng là hai điểm căn cốt không thay đổi theo thời gian hay không gian.
Do đó, chúng tôi quyết định nghiên cứu W. Yeats trên hai bình diện: (1) cảm hứng đất nước với lối vào là chất liệu văn hoá dân gian Ireland; và (2) bộ phận sáng tác của W. Yeats dưới hình thức thơ ca. Khi đi đến quyết định như vậy, chúng tôi cũng xác định cảm hứng Ireland trong thơ W.
Yeats không đại diện cho một “tính Ireland” bản chất luận, mà chỉ đóng vai trò như một trong nhiều chiều kích của nó. “Tính Ireland” trong thơ W. Yeats có sự lưỡng phân, vừa đa nghĩa như một biểu tượng thơ ca, vừa đa diện như chính con người Thi sĩ. Ông sử dụng chất liệu dân gian Ireland truyền thống, cho chúng tương tác với chất liệu đến từ cái mà ông gọi là “nhà kho tỉnh thần của nhân loại” — Anima Mundi, kết hợp với thiên hướng lãng mạn bam sinh của minh, dé sáng tạo nên một “tính Ireland” độc đáo, thứ đã và sẽ còn là chủ đề đáng chú ý cho giới học giả văn chương.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu W. Yeats trên thế giới Theo thời gian, phê bình Yeats có nhiều thay đổi. Ngay từ khi W. Yeats còn sông, các đánh giá về ông đã vượt quá khuôn khổ báo chí.
Nghiên cứu đầu tiên về W. Yeats xuất hiện vào năm 1904 trong cuốn sách William Butler Yeats and the Irish Literary Revival của Horatio Sheafe Krans [59], nhưng phải đến những năm 1930s- 1940s các đánh giá nghiêm túc mới bắt đầu nở rộ. Nhóm “Nhà thơ tuổi 30” (đến từ Anh và Ireland, cùng tốt nghiệp đại học Oxford và Cambridge, có quen biết, hoạt động cùng nhau, nhưng chưa bao giờ chính thức đứng chung một nhóm) đánh giá W. Yeats dựa trên quan điểm thế tục và thiên tả.
Giống như nhóm “Nha thơ tuôi 30”, phái Phê bình Mới ở Mĩ cũng đặt lên ban cân xu hướng chính tri va tôn giáo lạc long của W. Yeats bên cạnh nghệ thuật kì khôi của ông. Hầu hết các phê bình đều nghiêng về phía nghệ thuật của nhà thơ, băng cách dùng phương pháp hình thức “đọc kĩ” (close reading) dé phân tích thơ mà không đặt trong ngữ cảnh lịch sử. Tóm lại, trong khoảng thời gian này, phê bình W.
Yeats chủ yếu tập trung vào nghệ thuật của Nhà thơ, tách rời văn bản khỏi ngữ cảnh lịch sử - xã hội. Sau Thế chiến Hai, bức tranh “Yeats học” nhiều gam mau hon. Các công trình về tiểu sử, niềm tin thần bi của W. Yeats nồi lên trên văn dan.
Bên cạnh xu hướng phê bình trên phạm vi rộng, đặt W. Yeats trong sự chuyên dich từ chủ nghĩa Lãng mạn sang chủ nghĩa Hiện dai, chúng ta có The Identity (1954) của Richard Ellmann nghiên cứu các mẫu hình tư duy và cảm xúc ngầm ân của W. Yeats để phác hoạ một cái tôi nghệ sĩ của tác giả. Ellmann đã thuyết phục được giới han lâm răng những niềm tin thần bí của W.
Yeats là rất mạch lạc và có hệ thống [38]. Henn, với cuốn The Lonely Tower (1950), đã tìm hiểu truyền thống triết học phương Tây, huyền học, văn học và hội họa trong sáng tác của W. Với tư cách một người Ireland, T. Henn cũng nhắn mạnh vào phản ứng của W.
Yeats đối với sự kiện Cuộc Phan loạn Phục sinh năm 1916 ở Dublin (Easter Rising) và các hệ quả của nó [48]. Thomas Parkinson, với hai cuốn W. Yeats, Self-Critic (1961) và W. Yeats, the Later Poetry (1964), thi lại tập trung đối chiếu các bản in sau này (với sự chỉnh sửa của chính tác giả) của những bài thơ giai đoạn đầu, và đi đến kết luận rằng hoạt động kịch trường vào giai đoạn sau của W.
Yeats đã ảnh hưởng đến phong cach thơ ca của ông [67]. Nhu vậy, sau năm 1945, xu hướng phê bình Yeats đã mở rộng ra ngoài phạm vi văn bản, đặt chúng trong tông thé cuộc đời và sáng tác của W. Yeats dé rút ra những kết luận mang tính hệ thống, bởi sau khi W. Yeats qua đời các nhà phê bình mới có điều kiện và nhu cầu cho một cái nhìn khái quát hơn.
Thập niên 40, phê bình Yeats cũng bắt đầu hướng đến mối liên hệ của nhà thơ với truyền thống văn học Anh thế ki XIX. Xu hướng này xuất hiện giao thoa với xu hướng đánh giá lại một cách khái quát về mối quan hệ của hai chủ nghĩa Hiện đại - Lãng mạn trong sáng tác của Nhà thơ. Cũng trong thời gian này, giới phê bình quan tâm đến một loạt các vấn đề khác bên lề thơ ca. Đó là các vẫn đề: lịch sử văn bản các tác phẩm của W.
Yeats, lí thuyết hội hoa do chính Nha tho phát triển, đối thoại của Nha thơ với lich sử, các hoạt động với người đương thời vào những năm 1890s, thần bí học, và sự tương đồng giữa W. Yeats và Carl Jung đối với triết học Plato và tiền Socrates. Ngoài thơ ca, kịch của W. Yeats cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Trong khoảng thập niên 60 và 70 xuất hiện nhiều tác phẩm viết về các van dé xoay quanh hoạt động kịch trường của Nhà thơ. Sang khoảng giữa thập niên 70, một loạt sách viết về kịch của W. Yeats xuất hiện, cho thấy ảnh hưởng kịch của W. Yeats tới các tác giả khác, mối liên hệ với kịch Nô Nhật Bản, và những bí mật trong sự nghiệp sân khấu của ông.
Sang đến đầu thập niên 80, tư tưởng chính tri của W. Yeats được dem ra mồ xẻ. Elizabeth Cullingford trong cuén Yeats, Ireland, and Fascism (1981) đã đề cập đến sự ảnh hưởng của John O’ Leary, William Morris và phái Blueshirts đến W. Yeats va két luan rang: Về co ban, W.
Yeats tán thành “một thứ tu do quí tộc là sự kết hợp của tự do cá nhân và tôn trọng các nhóm xã hội hữu cơ” [33]. Paul Scott Stanfield trong cuốn Yeats and Politics in the 1930s (1988) đã hé lộ những chỉ tiết cuối đời W. Yeats và làm rõ quan điểm của Nhà thơ với Tổng thống E. Các nhà phê bình khác đặt W.
Yeats trong ngữ cảnh lịch sử xét lại của chủ nghĩa Hiện đại và văn học Ireland. Cairns Craig trong cuốn Yeats, Eliot, Pound, and the Politics of Poetry (1981) cho rằng cả ba nha thơ trên đều coi nghệ thuật không tương thích với nền dan chủ [32]. Said mới giảng bài “Yeats và Giải thuộc địa hoá” ở Trường hè Quốc tế Sligo. Về sau bài giảng này được xuất bản trong cuốn Culture and Imperialism (1993), được dich tai Việt Nam với tựa đề Văn hóa và Chủ nghĩa bá quyền.
Said nhắc nhở các tác giả của nhiều quốc gia hậu thuộc địa rằng W. Yeats là một hình mẫu không hoàn hảo nhưng đầy cảm hứng cho việc đối đầu với áp bức thực dân [19]. Cùng lúc đó, những tranh luận về quan điểm chính trị của W. Yeats đi đến kết hợp với những phê bình nữ quyền về thái độ của Nhà thơ đối với giới và dục tính.
Từ 1983 đến 1998, các tác gia Gloria C. Kline, Elizabeth Cullingford, Marjorie Howes, Deirdre Toomey, va Vicki Mahaffey đã xuất bản những tập sách ban về van đề giới, 10 dục tính, dân tộc và giai cấp bằng các lí thuyết nữ quyên, hậu thực dân và phương pháp tiểu sử. Có một xu hướng nghiên cứu W. Yeats cũng trải dài theo thời gian, đó là xem xét các cuốn sách của nhà thơ như một chỉnh thé.
Hugh Kenner là người đề xuất xu hướng này vào năm 1955 với tiểu luận The Sacred Book of the Arts trong tập Gnomon: Essays on Contemporary Literature (1958) [55]. Trong bài luận của minh, Kenner mô tả su liên kết giữa các bài thơ về mặt chủ dé và hình tượng như một cầu trúc tỉ mi có diễn tiến kịch tính đầy chủ ý.