chương 1 Chương một của luận án đặt giải quyết hai vấn đề: tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài. Về cơ sở lý thuyết, luận án đã hệ thống một cách khái quát lý thuyết “phê bình sinh thái”, để nhận ra rằng tinh thần cốt lõi của nghiên cứu xanh chính là “sinh thái trung tâm luận” và nhà phê bình sinh thái là thúc đẩy/ giám sát việc dùng văn chương để bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo vệ trái đất. Luận án xác định người Mường cổ đã có cảm quan sinh thái khi sáng tác Đẻ đất đẻ nước và các cây bút Mường hiện đại cũng đã có trực giác sinh thái khi viết về không gian văn hóa của quê hương mình. Qua khảo sát thực tiễn, luận án nhận thấy, đến nay vẫn chưa có công trình chuyên sâu và hệ thống vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái để tiếp cận và nghiên cứu Mo Đẻ đất đẻ nước và tác phẩm của các tác giả Mường hiện đại.
NGƯỜI MƯỜNG VÀ MO “ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC” (TẺ TẤT TẺ RÁC) 2. Người Mường và những tập tục đậm nét văn hóa sinh thái 2. Cộng đồng dân tộc Mường Người Mường tự nhận mình là “Ngươn” (Nguồn) và vẫn luôn tự hào về nguồn gốc của dân tộc mình, con cháu của Dịt Dàng (Dịt Dáng) cai quản thế giới ba tầng trời: Mường Trời, Mường Giữa và 8 Mường Trần Gian. Vậy “Mường” là gì? Đã từng xuất hiện ba cách hiểu.
Luận án nghiêng về sự kết hợp nghĩa của hai quan điểm: “Mường”, vừa chỉ địa giới cư trú (Mường Bi, Mường Ổn, Mường Thạch, v.), vừa chỉ cộng đồng dân tộc có bản sắc văn hóa riêng (người Mường). Người Mường quần cư chủ yếu ở Hoà Bình và Thanh Hóa. Người Mường thích sống quần cư nơi đầu nguồn nước, dưới các thung lũng, ven các tán rừng, môi trường sống, sinh hoạt của người Mường hòa lẫn vào thiên nhiên. người Mường đã tạo dựng cho mình một không gian sống - sinh hoạt đậm sắc thái văn hóa sinh thái.
Những tập tục đậm nét văn hóa sinh thái của người Mường 2. Tập tục tôn trọng và thờ cúng các thần trong thế giới tự nhiên Môi trường sống của người Mường gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên, vì vậy, đã hình thành trong cộng đồng này những phong tục, tập quán, tuân theo những quy tắc, quy định nghiêm ngặt để vừa khai thác vừa bảo vệ thiên nhiên. Trí tuệ của người Mường cổ đã hình thành cho con cháu mình niềm tin tín ngưỡng trước thiên nhiên, đấy là cách thức tốt nhất để bảo vệ nòi giống, cộng đồng. Những tập tục trong đời sống văn hóa - xã hội - Tục “cúng vía” (bao gồm: xin vía, làm vía, buộc vía, gọi vía).
Tục ngữ Mường: Muốn giàu trồng dâu/ Muốn sống lâu phải làm vía. - Tục “mo” cho người chết (bao gồm: Mo Vải (Mo Vía), Mo Trêu (Mo T’lêu), Mo lên trời, Mo nhắn). Các bước trong đám mo vừa bộc lộ giá trị nhân văn, vừa bộc lộ cảm quan sinh thái sâu sắc của người Mường cổ. Tục “xin” và “cho”: Người Mường dạy con: Cái ăn mấy cũng hết, cái ở mới lâu dài; Ăn nên ẻ (phân) dẻ (chia) nên ún nên mạng.
Với người Mường, tục xin cho vẫn là một nét văn hóa đẹp, nó góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa bà con dân bản, tạo nên 9 không gian nồng ấm, thân thiện, một nền tảng vô cùng cần thiết và qua trọng đối với bà con dân tộc ít người trong điều kiện, hoàn cảnh sống rải rác, dựa vào thiên nhiên và dựa vào cộng đồng cư dân gần gũi cùng chung thói quen, tập tục, tín ngưỡng… 2. “Đẻ đất đẻ nước” trong mối quan hệ với Mo Mường 2. Khái niệm “Mo” và ý nghĩa của mo trong đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của người Mường 2. Khái niệm “Mo” “Mo” là gì? Theo khảo sát của chúng tôi, từ “mo” ba cách hiểu sau: là thứ lời khấn, bài khấn trước thần linh; Là “bài ca tang lễ” và “mo” chỉ nghi lễ diễn xướng cúng thần linh.
Theo quan điểm của luận án, “Mo” là toàn bộ nghi lễ trong buổi cúng thần linh, bao gồm cả phần lời cúng và phần diễn xướng. Ý nghĩa của “Mo” và “Mo Lễ tang” trong đời sống tín ngưỡng người Mường “Mo” là nghi lễ tâm linh giống như liều thuốc tinh thần vô cùng cần thiết và ý nghĩa trong đời sống tinh thần của đồng bào Mường từ bao đời nay. Lời mo (bài khấn) không chỉ là lời ước vọng mà còn lời giao kết với thần linh và với chính người trong cuộc. Cùng với niềm tin trong nghi lễ, lời mo giúp cho cộng đồng người củng cố đời sống tinh thần, làm tăng niềm tin và nghị lực sống cho mỗi con người trước những thử thách của cuộc sống, giúp con người biết hướng thiện.
Trong các cuộc mo thì “Mo Lễ tang” là nghi lễ cuối cùng trong hệ thống nghi lễ vòng đời người Mường, cũng là nghi lễ quan trọng nhất. Hành trình đến với Mường Ma đồng thời là hành trình nhận thức của người Mường cổ. Đó là nhận thức về sống - chết, nhận thức về vũ trụ ba tầng trời, nhận thức về thế giới vĩnh hằng. Vị trí của “Đẻ đất đẻ nước” (Tẻ Tất Tẻ Rác) trong Mo Mường “Đẻ đất đẻ nước” (Tẻ Tất Tẻ Rác) không phải “rằng mo” bắt buộc trong lễ tang, vì vậy, có tính độc lập tương đối trong Mo.
Nó chỉ là phần “thêm” trong những trường hợp cần kéo dài các đêm mo ở 10 những gia đình có điều kiện, tăng thêm phần bề thế, “sang trọng” cho gia chủ, hoặc được dùng trong các cuộc mo giữ vía người già. Tuy nhiên, vẫn là bộ phận có sự thống nhất chặt chẽ trong Mo Mường, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa có giá trị nhân văn sâu sắc. “Đẻ đất đẻ nước” - thiên sử thi cổ sơ hùng vĩ Đẻ đất đẻ nước dài đến 476 trang với ngót ngàn câu, những câu chuyện dài kể quá trình hình thành thế giới tự nhiên và muôn loài trong đó có con người. Mặc dù không có sự trùng khít về cách san định các chương trong các bản sưu tầm, song, các bản đã công bố đều có các nội dung thể hiện diễn biến “đẻ đất đẻ nước” hình thành nên thế giới và xã hội loài người.
Tính chất “anh hùng ca” trong Đẻ đất đẻ nước thể hiện trong quá trình tạo lập, xây dựng luôn phải cần đến bản lĩnh táo bạo, tiên phong, phẩm chất xả thân anh hùng. Ở đó có những anh hùng của cộng đồng, đại diện cho sức mạnh cộng đồng, đem lại lợi ích cho cộng đồng. Đấy chính là thước đo phẩm chất người anh hùng sử thi. Tiểu kết chương 2 Cùng với người Kinh - Việt, người Mường đã hiện diện từ rất sớm trên đất Việt Nam và đã hình thành những phong tục, tập quán lâu đời được đúc kết trong quá trình tổ chức cuộc sống, sinh hoạt.
Những phong tục, tập quán ấy gắn bó chặt chẽ với môi trường sống, được chắt ra từ hoàn cảnh sống, vì vậy, vừa là những kinh nghiệm quý báu trong đời sống thực tiễn cộng đồng, vừa có giá trị văn hóa nhân văn và văn hóa sinh thái sâu sắc. Đẻ đất đẻ nước, thiên sử thi cổ sơ được vận dụng vào phong tục tín ngưỡng thờ cúng của người Mường được coi là minh chứng về nếp sống văn minh - văn hóa của người Mường cổ. Thiên sử thi ấy bộc lộ nhận thức và tư duy biện chứng của cộng đồng ấy thời cổ xưa về tính cố kết chặt chẽ, hợp lý và hài hòa trong thế giới muôn loài. Bảo vệ sự tôn nghiêm của sự cố kết chặt chẽ ấy là đấng “Thần Linh”, con người biết sợ Thần Linh chính là để bảo vệ trật tự, môi trường sống của chính mình.
CẢM QUAN SINH THÁI TRONG ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC 3. Tự nhiên và con người có chung nguồn gốc 3. Quan niệm về vũ trụ và sự hình thành thế giới tự nhiên Chuyện "đẻ đất" là chuyện "đẻ" ra muôn loài, muôn hiện tượng, sự việc. Từ cách giải thích việc hình thành ra vạn vật trên mặt đất, người Mường cổ đã nhận thức về vũ trụ và thế giới tự nhiên với một tinh thần sinh thái sâu sắc.
Đó là tinh thần bản nguyên hóa tự nhiên, có chung nguồn gốc, cùng “huyết thống tự nhiên”. Chuyện "Đẻ nước" là nhận thức về tầm quan trọng của môi trường sinh thái. “Nước” là biểu tượng của môi trường sinh thái trong duy trì sự sống. "Đẻ nước" đưa ra thông điệp về sự hài hòa.
Chuyện "đẻ người" là nhận thức về vị trí của con người trong thế giới vạn vật. Qua chuyện "đẻ người” cho thấy cả một quá trình nhận thức của người Mường về vũ trụ và sự sống muôn loài trong thế giới tự nhiên, về loài người, đồng thời, nhận thức về xã hội loài người, về các thành phần trong xã hội loài người. Người Mường cổ muốn tìm cách giải thích cấu trúc vận hành bên trong của vũ trụ, tìm ra quy luật và ghi nhớ quy luật tự nhiên, "Chia năm tháng". Nhu cầu tìm ra quy luật của tự nhiên để thích ứng với môi trường là mong muốn thiết yếu của người dân thời cổ đại.
Như vậy, trong nhận thức của người Mường, vũ trụ khởi nguyên là khối thống nhất, quá trình hình thành vũ trụ, hình thành sự sống diễn ra từng chặng, từng bước theo quy luật. Vạn vật đều chung nguồn gốc do "Mẹ - Thiên nhiên" sinh ra, có mối liên hệ “huyết thống tự nhiên”. Nhận thức ấy gửi đi thông điệp mang tinh thần sinh thái: hãy kính trọng Mẹ - Thiên nhiên, hãy biết ơn Mẹ - Thiên nhiên và từ đây xác lập, chuyển tải những thông điệp về đạo đức sinh thái mà luận án sẽ trình bày ngay sau đây. "Đẻ đất đẻ nước"chuyển tải thông điệp đạo đức sinh thái 3.
Tôn trọng trật tự thế giới tự nhiên Tôn trọng trật tự thế giới tự nhiên là thông điệp trước nhất mà nhận thức về vũ trụ mang tinh thần sinh thái của Đẻ đất đẻ nước 12 muốn truyền dạy cho mai sau. Mỗi loài đều là một phần, có "vị trí" trong thế giới tự nhiên. Đây chính là tiền đề của đạo đức sinh thái. Người Mường cổ đã truyền dạy đạo đức sinh thái cho thế hệ sau bằng sự lý giải lớp lang về sự tôn nghiêm, ngôi thứ: cái gì ra trước, cái gì đến sau; cái đến trước ở "ngôi" trên, là anh, đến sau là "em", ngôi dưới.
Trong thế giới tự nhiên do Mẹ - Thiên nhiên sinh ra, con người đến sau cùng. Loài người cần nhận thức được trật tự này, hãy tôn trọng và bảo vệ trật tự ấy.