Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Cảm quan sinh thái trong văn học Mường (khảo sát qua Mo Đẻ đất đẻ nước và các tác phẩm văn học hiện đại tiêu biểu)" do nghiên cứu sinh Cao Thị Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoả Diệu Thuý, bảo vệ năm 2023 tại Trường Đại học Hồng Đức (UBND Tỉnh Thanh Hóa - Bộ Giáo dục và Đào tạo), thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9220121).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Phê bình sinh thái (ecocriticism), hay còn gọi là "nghiên cứu xanh", là khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học xuất hiện tại Mĩ vào những thập niên cuối thế kỷ XX (thập niên 70) và lan rộng sang các quốc gia phương Tây trong thập niên 80. Khuynh hướng này hướng đến việc nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, đánh giá tác phẩm văn chương nhằm thức tỉnh trách nhiệm của con người trước nguy cơ suy thoái môi trường tự nhiên và khủng hoảng sinh thái tinh thần. Tại Việt Nam, phê bình sinh thái bắt đầu được tiếp cận từ năm 2011 và dần thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật.
Người Mường là cộng đồng dân tộc thiểu số có dân số đứng thứ ba tại Việt Nam, cư trú lâu đời cùng người Kinh. Dù không có hệ thống chữ viết riêng, người Mường lưu giữ một di sản văn hóa truyền khẩu đồ sộ gồm xường, rang, truyện thơ, tục ngữ, ca dao và nghi lễ Mo. Trong đó, sử thi Đẻ đất đẻ nước (thường diễn xướng trong tang lễ) và văn học Mường phản ánh trực giác sinh thái rõ nét do phương thức sinh sống gắn chặt với không gian rừng núi. Các cây bút Mường hiện đại kế thừa trực giác sinh thái này trong quá trình sáng tác. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án triển khai, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách hệ thống Mo Đẻ đất đẻ nước và văn học Mường hiện đại dưới hệ thống lý thuyết phê bình sinh thái. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án xác định giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác lập 03 mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ cảm quan sinh thái trong sử thi mo Đẻ đất đẻ nước và trong sáng tác của một số cây bút Mường tiêu biểu.
- Xác định sự ảnh hưởng và kế thừa của mo Đẻ đất đẻ nước đối với các tác phẩm của các tác giả Mường hiện đại ở phương diện cảm quan sinh thái.
- Khẳng định đóng góp của văn học Mường đối với nền văn học dân tộc trong việc lưu giữ những giá trị văn hóa cốt lõi.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án đặt ra 03 nhiệm vụ:
- Xác định cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho đề tài: hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến "cảm quan sinh thái" và tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan.
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ cảm quan sinh thái trong mo Đẻ đất đẻ nước và trong tác phẩm của các tác giả người Mường tiêu biểu.
- Đối chiếu, liên hệ nhằm chỉ ra sự kế thừa, tiếp nối từ mo Đẻ đất đẻ nước đến văn học Mường hiện đại trên phương diện cảm quan sinh thái.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cảm quan sinh thái trong văn học Mường, khảo sát qua mo Đẻ đất đẻ nước và tác phẩm văn học Mường hiện đại.
- Phạm vi lý thuyết: Tiếp cận dựa trên tư tưởng "sinh thái trung tâm luận" (ecocentrism) thuộc lý thuyết phê bình sinh thái.
- Phạm vi tư liệu khảo sát:
- Văn bản văn học dân gian: Luận án chọn ngôn bản Mo trong công trình Sử thi và thần thoại dân tộc Mường do nhóm Vương Anh biên soạn làm nguồn ngữ liệu khảo sát chính. Trong đó, tác giả tập trung khảo sát phần văn bản Mo Đẻ đất đẻ nước tương ứng với hai bộ phận: Mo trêu (Mo T’lêu) và Mo lên trời.
- Tác phẩm văn học hiện đại: Khảo sát các sáng tác tiêu biểu của các tác giả Mường, trọng tâm là tác phẩm của Vương Anh và Hà Thị Cẩm Anh.
- Phạm vi không gian - văn hóa: Địa bàn cư trú chủ yếu của cộng đồng người Mường tại Hòa Bình và Thanh Hóa (bao gồm các vùng mường truyền thống như Mường Bi, Mường Ổn, Mường Thạch).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được triển khai trên ba hướng nghiên cứu chính:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả, công trình và mốc thời gian tiêu biểu |
Đánh giá của luận án về kết quả và khoảng trống |
| Tiếp nhận phê bình sinh thái tại Việt Nam |
- Giới thiệu lần đầu vào tháng 3/2011 bởi Karen Thornber tại Hội thảo quốc tế “Tiếp cận văn học châu Á từ lí thuyết phương Tây hiện đại: Vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội”. - Các công trình dịch thuật, hội thảo khoa học chuyên đề diễn ra sau đó. |
Phê bình sinh thái nhanh chóng trở thành trào lưu nghiên cứu văn học tại Việt Nam, tuy nhiên phạm vi ứng dụng chủ yếu tập trung vào văn học hiện đại kinh điển, chưa mở rộng nhiều sang mảng văn học các dân tộc thiểu số. |
| Nghiên cứu Mo Mường và sử thi Đẻ đất đẻ nước |
- Bản sưu tầm, chuyển ngữ xuất bản chính thức năm 1973 của nhóm Vương Anh và Hoàng Anh Nhân. - Các bài báo khoa học của Phan Đăng Nhật. - Bài viết “Qua Đẻ đất Đẻ nước ta thấy cả một nền văn hóa cổ đại Việt Mường” của GS. Phan Ngọc. |
- Phan Đăng Nhật chỉ ra các bài học về tri thức, lịch sử và tình cảm đạo đức mang tinh thần sinh thái. - GS. Phan Ngọc và giới nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào loại thể, diễn xướng, cấu trúc nghi lễ tang ma và giá trị sử thi. - Chưa có công trình nào vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái để phân tích Mo Đẻ đất đẻ nước. |
| Nghiên cứu tác phẩm của các tác giả Mường hiện đại |
- Các bài nghiên cứu, phê bình về sáng tác của Vương Anh và Hà Thị Cẩm Anh (hai gương mặt đại diện tiêu biểu). - Các bài viết về một số cây bút Mường khác. |
Các nghiên cứu bước đầu ghi nhận phong cách nghệ thuật và cảm hứng quê hương bản mường, song chưa đặt sáng tác của họ trong mối liên hệ tiếp nối sinh thái với sử thi truyền thống. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án xác lập vị trí nghiên cứu bằng việc lấp đầy khoảng trống: chưa có công trình chuyên khảo nào vận dụng một cách hệ thống lý thuyết phê bình sinh thái để tiếp cận đồng thời sử thi dân gian Đẻ đất đẻ nước và các tác phẩm văn học Mường hiện đại, nhằm chỉ ra sợi dây tiếp nối về cảm quan sinh thái từ truyền thống đến đương đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
- Phê bình sinh thái (Ecocriticism / Nghiên cứu xanh): Là khuynh hướng phê bình văn học xem xét mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Luận án khái quát ba đặc trưng của lý thuyết này: (1) Đề cao và ngợi ca tự nhiên, đặc biệt là tự nhiên hoang dã; (2) Phân tích tác động tích cực của tự nhiên đối với đời sống và tâm lý con người; (3) Phản ánh nỗi bất an trước nguy cơ tự nhiên bị xâm hại.
- Sinh thái trung tâm luận (Ecocentrism): Hệ tư tưởng hạt nhân xem tự nhiên là trung tâm, bác bỏ quan điểm nhân loại trung tâm luận (anthropocentrism), khẳng định con người là một bộ phận bình đẳng trong mạng lưới sinh giới.
- Cảm quan sinh thái: Luận án giới thuyết "cảm quan sinh thái" đồng nghĩa với "trực giác sinh thái". Đó là khả năng con người cảm nhận bằng trực giác về vị trí, vai trò quan thiết của thế giới tự nhiên trong mối liên hệ hữu cơ với sự sinh tồn của cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp 04 phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp phân tích tác phẩm dân gian: Khảo sát cấu trúc ngôn bản, biểu tượng nghệ thuật, môtíp thần thoại và cốt truyện sử thi của Mo Đẻ đất đẻ nước.
- Phương pháp thực địa điền dã: Quan sát, phỏng vấn, khảo sát không gian sinh tồn và thực tế thực hành nghi lễ mo, phong tục tập quán tại các vùng người Mường cư trú ở Thanh Hóa và Hòa Bình.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh các chiều kích cảm quan sinh thái giữa sử thi dân gian cổ xưa và sáng tác hiện đại; so sánh hình tượng nghệ thuật giữa các giai đoạn.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp thi pháp học văn học với văn hóa học, dân tộc học và sinh thái học văn hóa.
Nguồn tư liệu khảo sát
- Bản phiên âm và biên soạn Sử thi và thần thoại dân tộc Mường của nhóm tác giả Vương Anh (tập trung vào 476 trang của Đẻ đất đẻ nước, khảo sát cụ thể ở hai phần Mo trêu và Mo lên trời).
- Văn bản các tập thơ, truyện ngắn của các nhà văn, nhà thơ Mường hiện đại: Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh và một số tác giả liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và 04 chương nội dung:
| Chương |
Tiêu đề chương trong luận án |
Nội dung cốt lõi |
| Chương 1 |
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu |
Cơ sở lý thuyết phê bình sinh thái và lịch sử nghiên cứu văn học Mường từ góc nhìn sinh thái. |
| Chương 2 |
Người Mường và Mo “Đẻ đất đẻ nước” (Tẻ Tất Tẻ Rác) |
Không gian địa văn hóa, phong tục sinh thái người Mường và vị trí của sử thi trong cấu trúc nghi lễ Mo. |
| Chương 3 |
Cảm quan sinh thái trong Đẻ đất đẻ nước |
Chiều kích nhận thức nguồn cội, đạo đức sinh thái, tính cộng đồng và hệ biểu tượng tự nhiên trong sử thi. |
| Chương 4 |
Cảm quan sinh thái trong các tác phẩm văn học Mường hiện đại |
Sự tiếp nối của cảm quan sinh thái, phương thức biểu đạt bản địa và nỗi đau trước khủng hoảng môi trường. |
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này giải quyết hai nội dung nền tảng:
- Cơ sở khoa học của đề tài: Hệ thống hóa các định nghĩa về "sinh thái", "phê bình sinh thái" và "cảm quan sinh thái". Khẳng định cơ sở tiếp cận: người Mường cổ nhận thức bản thân là một phần bé nhỏ của tự nhiên, hình thành triết lý sinh thái trực giác thô sơ trong Đẻ đất đẻ nước. Đến thời hiện đại, trực giác sinh thái chuyển hóa thành ý thức văn hóa bản mường và nhận thức về hệ lụy khi môi trường bị tàn phá.
- Tổng quan tình hình nghiên cứu: Phân tích thực trạng tiếp nhận lý thuyết sinh thái tại Việt Nam sau mốc giới thiệu của Karen Thornber (2011). Tổng thuật các thành tựu nghiên cứu về văn bản Mo năm 1973 của nhóm Vương Anh - Hoàng Anh Nhân, các bài viết của Phan Đăng Nhật, Phan Ngọc; điểm diện công trình nghiên cứu về các tác giả hiện đại Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh. Luận án khẳng định chưa có nghiên cứu hệ thống nào kết nối hai đối tượng này dưới góc nhìn sinh thái học.
Chương 2: Người Mường và Mo “Đẻ đất đẻ nước” (Tẻ Tất Tẻ Rác)
Chương 2 làm rõ bối cảnh địa văn hóa và tập tục sinh thái của người Mường:
- Cộng đồng và không gian cư trú: Người Mường tự nhận là "Ngươn" (Nguồn), lưu truyền quan niệm nguồn gốc con cháu Dịt Dàng (Dịt Dáng) cai quản vũ trụ ba tầng: Mường Trời, Mường Giữa và Mường Trần Gian. Khái niệm "Mường" vừa chỉ địa hạt hành chính - cư trú (Mường Bi, Mường Ổn, Mường Thạch...), vừa chỉ cộng đồng dân tộc có bản sắc văn hóa riêng. Người Mường phân bố chủ yếu ở Hòa Bình và Thanh Hóa, định cư ven đầu nguồn nước, thung lũng, chân núi, hình thành lối sống thích ứng với tự nhiên.
- Những tập tục đậm nét văn hóa sinh thái:
- Tục thờ cúng thần tự nhiên: Thiết lập quy tắc ứng xử để vừa khai thác vừa gìn giữ môi trường rừng, suối.
- Tục cúng vía: Thể hiện qua các bước xin vía, làm vía, buộc vía, gọi vía; tục ngữ Mường đúc kết: "Muốn giàu trồng dâu / Muốn sống lâu phải làm vía".
- Tục Mo tang lễ: Gồm các chặng Mo Vải (Mo Vía), Mo Trêu (Mo T'lêu), Mo lên trời, Mo nhắn; phản ánh nhận thức về vũ trụ và sinh tử.
- Tục "xin" và "cho": Gắn kết cộng đồng qua lời dạy: "Cái ăn mấy cũng hết, cái ở mới lâu dài; Ăn nên ẻ (phân) dẻ (chia) nên ún nên mạng".
- Vị trí của sử thi trong Mo Mường: Khái niệm "Mo" là toàn bộ nghi lễ cúng thần linh (bao gồm lời cúng và diễn xướng). Trong đó, Đẻ đất đẻ nước (Tẻ Tất Tẻ Rác) dài 476 trang với ngót ngàn câu. Đây không phải là "rằng mo" bắt buộc trong mọi đám tang, mà có tính độc lập tương đối; được dùng khi gia đình có điều kiện muốn kéo dài đêm mo để tăng tính bề thế, hoặc dùng trong lễ mừng thọ, giữ vía cho người già. Thiên sử thi miêu tả sự hình thành vũ trụ và tôn vinh phẩm chất xả thân vì cộng đồng của các nhân vật anh hùng.
Chương 3: Cảm quan sinh thái trong Đẻ đất đẻ nước
Chương 3 đi sâu phân tích văn bản sử thi Đẻ đất đẻ nước trên 04 bình diện:
- Tự nhiên và con người có chung nguồn gốc: Sử thi giải thích quá trình kiến tạo thế giới qua các giai đoạn: "đẻ đất", "đẻ nước", "đẻ người" và "chia năm tháng". Vạn vật và loài người đều sinh ra từ "Mẹ - Thiên nhiên" (Mẹ Tự nhiên - Mẹ Vũ trụ), cùng chia sẻ "huyết thống tự nhiên". Con người xuất hiện sau cùng, là một mắt xích phụ thuộc vào trật tự chung.
- Thông điệp đạo đức sinh thái:
- Tôn trọng trật tự thế giới tự nhiên: Thiết lập ngôi thứ theo thời gian xuất hiện; thực thể ra trước ở ngôi "anh", loài người đến sau ở ngôi "em". Sự tôn kính tự nhiên là tiền đề của đạo đức sinh thái.
- Từ trật tự tự nhiên sang trật tự xã hội: Nhu cầu bầu chọn thủ lĩnh dẫn dắt "chu chương mường nước" để bảo tồn sự ổn định xã hội tương thích với sự ổn định của vũ trụ.
- Nhận thức Tự nhiên là một cộng đồng lớn:
- Nhân cách hóa thực thể tự nhiên: Cây cối, muông thú có tiếng nói, suy nghĩ, tham gia đối thoại, trao đổi, mặc cả bình đẳng với con người, tạo nên tính chất dân chủ sinh thái.
- Tự nhiên là "thầy" của con người: Do xuất hiện muộn và thiếu kinh nghiệm sinh tồn, con người phải học hỏi loài vật cách làm nhà, lấy lửa, tìm nước, xin hạt giống, tìm cây tài nguyên.
- Hệ thống biểu tượng sinh thái:
- Cây Tổ - cây Mẹ: Khởi đầu từ "cây xanh xanh" khổng lồ trong cõi hỗn mang đến hình tượng "cây si" trong sự tích đẻ người, biểu trưng cho cội nguồn sự sống.
- Trứng Chiếng (trứng Tiếng): Biểu tượng cho sự sinh sôi nòi giống; dù muôn loài cùng sinh ra từ trứng nhưng phân chia thành các dòng nòi, phản ánh bước tiến trong tư duy phân loại của người Mường cổ.
- Cây Chu Đồng: Biểu tượng của tài nguyên khoáng sản ("cây chu tà, lá chu đồng, bông thau quả thiếc"). Chuyện tranh đoạt và đốn hạ cây chu để lại bài học về lòng tham và sự trả giá khi hủy hoại tài nguyên.
Chương 4: Cảm quan sinh thái trong các tác phẩm văn học Mường hiện đại
Chương 4 chỉ ra sự kế thừa và biến chuyển của cảm quan sinh thái trong văn học Mường hiện đại:
- Thiên nhiên là đối tượng thẩm mỹ đặc biệt:
- Thiên nhiên vùng cao xuất hiện với vẻ đẹp thơ mộng, gắn liền với tình yêu bản mường máu thịt.
- Thiên nhiên là bạn tâm giao, tri kỷ đồng hành cùng con người qua mọi biến cố buồn vui.
- Thiên nhiên định hình nhân cách và tâm hồn: hình ảnh người phụ nữ cần mẫn như con ong, người nam giới rắn rỏi, dũng mãnh; vẻ đẹp con người được quy chiếu và hòa nhập với phẩm chất của núi rừng.
- Thiên nhiên trong phong tục văn hóa và phương thức biểu đạt:
- Phản ánh các tập tục gắn với chu kỳ tự nhiên: cưới xin, ma chay, cúng vía, làm ruộng, săn bắn.
- Lối tư duy biểu đạt nhân cách hóa: hỏi thăm trẻ sơ sinh là "con đực hay con cái", gọi phụ nữ là "ả mái"; tính thời gian bằng chu kỳ cây bương trút lá bên mó nước làng Chiềng Va; đo lường lễ vật qua hình ảnh gà chưa kịp đóng lông đuôi.
- Thủ pháp so sánh - ẩn dụ: luôn lấy các thực thể tự nhiên của không gian rừng làm thước đo chuẩn mực thẩm mỹ.
- Khắc khoải nỗi đau sinh thái:
- Nỗi đau thực tế khi rừng núi, cảnh sắc quê hương bị tàn phá do quá trình đô thị hóa và áp lực mưu sinh.
- Bất an trước nguy cơ "sinh thái tinh thần": nỗi lo con người bị "mất vía" (mất lương tri, tha hóa đạo đức, quay lưng với truyền thống), khi chết trở thành "ma cô", "ma độc" không được về Mường Trời; con cháu mụ Dạ Dần không bảo vệ được không gian sinh tồn của tổ tiên.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự đúc kết các kết quả và đóng góp mới trên các mặt:
- Về mặt lý luận: Là chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống đầu tiên vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái (trọng tâm là tư tưởng sinh thái trung tâm luận) vào khảo sát văn học dân tộc Mường. Luận án xác lập khung lý thuyết về sự vận động từ "trực giác sinh thái" (ở thời kỳ cổ sơ) sang "ý thức sinh thái" (ở thời kỳ hiện đại).
- Về mặt thực tiễn văn học sử:
- Phân tích cấu trúc tư tưởng và hệ thống biểu tượng sinh thái của sử thi Đẻ đất đẻ nước qua văn bản 476 trang do nhóm Vương Anh biên soạn.
- Khảo sát các sáng tác của các tác giả Mường hiện đại (tiêu biểu là Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh), chỉ ra sự kế thừa liên tục về thi pháp so sánh ngầm định, nhân cách hóa thiên nhiên và tâm thức hướng về cội nguồn sinh thái.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý xây dựng chiến lược bảo tồn, lưu giữ và phát huy giá trị của di sản Mo Mường cũng như văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh biến đổi sinh thái và xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào phạm vi và nội dung được tác giả công bố trong văn bản:
- Hạn chế về phạm vi tư liệu: Luận án mới chỉ tập trung khảo sát ngôn bản Mo trong công trình Sử thi và thần thoại dân tộc Mường của nhóm Vương Anh (chủ yếu trích xuất hai phần Mo trêu và Mo lên trời), chưa thể bao quát toàn bộ các dị bản Mo Mường khác đang tồn tại ở các tiểu vùng văn hóa Mường. Ở bộ phận hiện đại, ngữ liệu tập trung ở một số gương mặt tiêu biểu như Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu phê bình sinh thái sang các dị bản Mo khác tại Hòa Bình, Phú Thọ, Sơn La; khảo sát thêm các thể loại dân ca nghi lễ, xường, rang, truyện thơ Mường; đồng thời cập nhật sáng tác của các thế hệ tác giả Mường trẻ trong giai đoạn hiện nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nhà nghiên cứu văn học và văn hóa: Cung cấp khung phân tích cụ thể khi ứng dụng phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học dân gian và văn học thiểu số.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Sử dụng trong giảng dạy và học tập các học phần về Văn học Việt Nam, Văn học các dân tộc thiểu số, Văn hóa học và Lý luận văn học.
- Cơ quan quản lý và làm chính sách văn hóa: Cung cấp luận cứ khoa học cho công tác lập hồ sơ di sản, bảo tồn không gian văn hóa Mo Mường tại các địa phương (Thanh Hóa, Hòa Bình).
Danh mục công trình khoa học đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài
Các kết quả của luận án đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành:
| STT |
Tên tác giả |
Tên bài báo khoa học |
Tạp chí xuất bản |
Thông tin số và năm xuất bản |
| 1 |
Hoả Diệu Thuý - Cao Thị Mai |
Từ văn hoá bản địa đến cảm thức sinh thái (khảo sát qua tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh) |
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Hồng Đức |
Số 58, tháng 4/2022 |
| 2 |
Cao Thị Mai |
Ý thức sinh thái của người Mường, nhìn từ tập tục văn hoá |
Diễn đàn văn nghệ Việt Nam (Tạp chí của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam) |
Số 318-319, tháng 7-8/2021 |
| 3 |
Cao Thị Mai |
Phong tục người Mường - một sắc màu văn hoá đẹp |
Tạp chí Văn hoá quân sự |
Số 3/2021 |
| 4 |
Cao Thị Mai |
Đặc sắc trong áng Mo đẻ đất đẻ nước của người Mường |
Tạp chí Văn hoá nghệ thuật |
Số 394, tháng 4/2017 |
| 5 |
Cao Thị Mai |
Người Mường xứ Thanh và sự độc đáo của Mo Mường |
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Thanh Hoá |
Số 1/2017 |
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa và phân biệt "cảm quan sinh thái" và "ý thức sinh thái" như thế nào?
Theo luận án, "cảm quan sinh thái" chính là "trực giác sinh thái", xuất hiện từ thời cổ sơ khi người Mường sống gắn bó với thiên nhiên và cảm nhận thế giới bằng trực giác, xem con người là một phần nhỏ của tự nhiên. Trong khi đó, "ý thức sinh thái" là bước phát triển ở các nhà văn Mường hiện đại: từ cảm xúc tự nhiên chuyển thành nhận thức phản tư sâu sắc về nguy cơ môi trường bị hủy hoại và nỗi bất an trước sự suy thoái sinh thái tinh thần.
2. Ngôn bản Mo Mường nào được lựa chọn làm tư liệu khảo sát chính?
Luận án chọn ngôn bản Mo trong công trình Sử thi và thần thoại dân tộc Mường do nhóm Vương Anh biên soạn. Luận án giới hạn ngữ liệu ở phần Mo Đẻ đất đẻ nước (vốn có độ dài 476 trang với ngót ngàn câu), tương ứng với hai bộ phận diễn xướng cụ thể là Mo trêu (Mo T’lêu) và Mo lên trời.
3. Vị trí của "Đẻ đất đẻ nước" trong nghi lễ Mo tang ma của người Mường ra sao?
Luận án chỉ rõ Đẻ đất đẻ nước không phải là một "rằng mo" mang tính bắt buộc trong nghi lễ tang lễ của người Mường. Sử thi này có tính độc lập tương đối, thường được xem là phần thêm vào khi gia đình có điều kiện kinh tế muốn kéo dài các đêm mo để tăng thêm sự bề thế, hoặc được sử dụng trong các nghi lễ mo mừng thọ, gìn giữ vía cho người già.
4. Những biểu tượng tự nhiên nào trong sử thi được luận án phân tích tập trung?
Luận án tập trung phân tích 03 biểu tượng cốt lõi:
- Cây Tổ - cây Mẹ: Khởi đầu từ "cây xanh xanh" đến "cây si", biểu trưng cho nguồn cội chung của muôn loài và con người.
- Trứng Chiếng (trứng Tiếng): Biểu trưng cho sự sinh sôi dòng giống, phản ánh nhận thức phân loại các giai tầng xã hội từ cùng một nguồn gốc.
- Cây Chu Đồng: Biểu tượng của tài nguyên khoáng sản thiên nhiên ("cây chu tà, lá chu đồng, bông thau quả thiếc"), gắn liền với bài học ứng xử không tham lam trước tài nguyên môi trường.
5. Khái niệm "nguy cơ sinh thái tinh thần" trong văn học Mường hiện đại biểu hiện qua những hình tượng nào?
Khái niệm này gắn liền với quan niệm về "vía" của người Mường. Trong sáng tác hiện đại, nguy cơ sinh thái tinh thần biểu hiện qua hiện tượng con người bị "mất vía" – tức mất đi lương tri, tình cảm và bản sắc truyền thống do bị cuốn theo cuộc mưu sinh hoặc lối sống mới; khi chết đi sẽ hóa thành "ma cô", "ma độc" lang thang, không thể tìm về thế giới Mường Trời.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Cao Thị Mai là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát văn học Mường từ lý thuyết phê bình sinh thái dựa trên quan điểm sinh thái trung tâm luận. Luận án đã làm sáng tỏ chiều sâu triết lý tự nhiên của người Mường cổ trong sử thi Đẻ đất đẻ nước, đồng thời chỉ ra tính kế thừa liên tục về cảm quan sinh thái trong sáng tác của các tác giả Mường hiện đại. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần khẳng định giá trị bền vững của di sản văn học Mường mà còn cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác bảo tồn không gian văn hóa truyền thống của đồng bào Mường hiện nay.