CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HẠNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM *** 1. Cơ sở lịch sử - xã hội cho sự ra đời hạnh các thánh tử đạo Công giáo Việt Nam 1. Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI – XIX và sự du nhập đạo Công giáo vào Việt Nam Xã hội Việt Nam từ khoảng nửa đầu thế kỷ XVI chứng kiến sự suy vong thảm hại của các thế lực phong kiến. Cuộc tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến từ nhà Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn đẩy đất nước vào tình cảnh trì trệ, kém phát triển.
Trong thời gian này, các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục diễn ra nhằm chống lại các chính sách hà khắc, trì trệ của nhà nước phong kiến. “Hoài niệm về một thời gian tốt đẹp hơn trong quá khứ tồn tại trong rất nhiều xã hội trên thế giới. Phải đương đầu với những khổ nạn kinh kiếp này, người nông dân Việt Nam nhìn quanh để tìm cứu tinh” [21, tr. Hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt là cánh cửa mở cho các loại hình tôn giáo phát triển, trong đó Việt Nam như một mảnh đất mới màu mỡ, đặc biệt trong hai thế kỷ XVIII – XIX.
Trong Triều Nguyễn và xã hội Việt Nam thế kỷ XIX, Nguyễn Phan Quang cho rằng: “Chưa ở thời kỳ nào các cuộc nổi dậy và chống đối của các tầng lớp dân chúng lại nhiều, rộng lớn và liên tục như ở thời Nguyễn. Vua Gia Long chỉ thành công trong việc tiêu diệt Tây Sơn nhưng hoàn toàn thất bại trong thu phục dân tâm toàn quốc. Triều Nguyễn lúng túng trong nỗi lo sợ trước luồng tư tưởng mới tràn vào, đồng thời phải đối phó với những mâu thuẫn nội tại. Riêng với Giatô giáo thì triều Nguyễn đã từ lúng túng đến bế tắc, không đủ sức chuyển đổi tư duy để có biện pháp phù hợp”.
16] Buổi đầu, Công giáo nhìn chung còn khá xa lạ với tư duy truyền thống Việt Nam nên cánh đồng truyền giáo đầy mênh mông và cũng còn nhiều khó khăn so với Phật giáo đã gắn bó hàng mấy thế kỷ. Dần theo thời gian, với một hệ thống thần học cao siêu, nền tảng giáo lý đức tin chặt chẽ và sức mạnh vật chất của văn minh phương Tây, Công giáo đã nhanh chóng tìm được tiếng nói thích hợp nơi vùng đất xa xôi giàu tiềm năng này. Công cuộc truyền bá đạo không chỉ đem lại một niềm tin mới cho lưu dân ở vùng đất phương Nam mà còn chuyển tải đến Việt Nam một số thành tựu của văn hóa Tây phương. Đặc biệt, hệ thống luân lý giàu tính nhân ái, biết hy sinh trở nên rất phù hợp với truyền thống tình cảm của người dân bản xứ: “Yêu thương là một tình cảm tự nhiên của con người, là một điều răn dạy của mọi đạo đức và tôn giáo.
Nhưng ở Việt Nam, yêu thương lại là một điều kiện để tồn tại, là vũ khí để chiến đấu, là lẽ sống bền vững, là hạnh phúc lớn nhất của con người” [38, tr. Vì lẽ đó, các tôn giáo khi vào Việt Nam buộc phải cùng đi chung trên một con đường với lịch sử dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt. Công giáo cũng không ngoại lệ. Nhà nghiên cứu Lê Chí Quế cho rằng: “Ngoài quan niệm tín ngưỡng truyền thống, Phật giáo rồi Thiên Chúa giáo là hai tôn giáo du nhập từ nước ngoài vào đã có những ảnh hưởng rộng lớn trên phạm vi cả nước” [51, tr.
Không phải ngay từ lúc đầu, Công giáo đều gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của nhà cầm quyền. “Có một điều ngạc nhiên đến thích thú là công cuộc Nam tiến của đất nước thời Nguyễn Hoàng vào Thanh Hóa có một sự trùng hợp một cách định mệnh với sự có mặt của đạo Chúa ở Việt Nam” [41]. Thời gian đầu, việc truyền giáo nhìn chung khá thuận lợi, dường như ít gặp trở ngại “do tính khoan dung rộng mở, do xu thế hoà nhập mà không đối đầu của các tôn giáo truyền thống” [68, tr. 265], như trong câu ca dao: Các thầy đọc tiếng Latinh Các cô thiếu nữ thưa kinh dịu dàng.
Đặc biệt vào thời vua Lê Thế Tông, giáo sĩ Ordonez từng rửa tội cho công chúa Mai Hoa, chị nhà vua. Sau còn thêm chúa Nguyễn Hoàng, thân mẫu, em trai và em gái của chúa [65, tr. Như vậy, Công giáo bước đầu tìm được tiếng nói chung, hòa mình với dân tộc. Điểm gắn kết giữa người lương và giáo chính là lòng yêu nước.
Như chính giáo sư Vũ Khiêu đã nhận định: “Nếu chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện rõ rệt nhất của tính cộng đồng Việt Nam thì nó là cốt lõi của mọi tư duy triết học, là tiêu chuẩn cao nhất trong đạo đức, là thiêng liêng nhất trong mọi tôn giáo ở Việt Nam” [38, tr. Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng đằng sau sự du nhập đạo của các thế lực đến từ phương Tây lúc bấy giờ là những tổ chức kinh tế tài trợ cho công cuộc truyền giáo, để qua đó, tìm ra những thị trường buôn bán mới, rộng lớn và nếu có thể, biến chúng thành thuộc địa. Nhà nước phong kiến Việt Nam nhìn thấy rõ những mưu toan này và những bất ổn về chính trị – xã hội, đặc biệt ở hai thế kỷ XVIII – XIX, là những trở ngại nhất định không tránh khỏi cho sự ươm mầm và phát triển của đạo Công giáo ở Việt Nam: “Ngay từ khi còn dựa vào các thừa sai Thiên Chúa giáo và người Pháp, trong thâm tâm Nguyễn Ánh đã bắt đầu nghi ngờ, lo sợ người Pháp và các thừa sai. Vì vậy sau khi lên ngôi, Gia Long muốn xa lánh họ, hơn thế, muốn cự tuyệt họ.
Do cách lựa chọn những đường lối cơ bản không phù hợp với yêu cầu xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, an ninh chính trị không đảm bảo, khối đoàn kết dân tộc không được củng cố, tiềm lực dân tộc không được bồi dưỡng và đất nước đứng trước nguy cơ xâm lược” [50, tr. Dẫu biết “ Bốn ngàn năm ta vẫn là ta” (Tố Hữu) nhưng nếu như Việt Nam chỉ đóng cửa để bảo vệ bản sắc dân tộc mà không tiếp thu những thành tựu của thế giới thì không những không tiến bộ và thậm chí không tồn tại nữa. Mặt khác, không thể tiếp thu có hiệu quả những tinh hoa văn hóa từ nước ngoài nếu Việt Nam không có tinh thần độc lập và tự chủ. “Mọi nhân tố từ bên ngoài vào đều phải được chắt lọc và cải biến cho phù hợp với tình hình và nhu cầu của dân tộc.
Có điều những giá trị ấy phải được sàng lọc cho thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam để trở thành những giá trị của bản thân văn hóa Việt Nam” [38, tr. Chính trong quá trình phát triển đó, giáo hội Công giáo đã chịu nhiều tổn thất nặng nề bằng chính sự hy sinh của rất nhiều giáo hữu nhưng đồng thời, cũng thu nhận được dồi dào nhiều hoa trái của Tin mừng. Trong hoàn cảnh đặc biệt đó, nhiều nhân chứng đức tin đã ngã xuống, được giáo dân tôn thờ, kính trọng mà mỗi khi kể về cuộc đời họ với niềm tin, thái độ yêu mến như những bậc anh hùng cao cả. Từ đó, dẫn đến sự hình thành và lưu truyền về hạnh tích các thánh tử đạo Việt Nam.
Sự ra đời truyện kể hạnh các thánh tử đạo Việt Nam Từ xa xưa, Việt Nam vốn là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo rồi sau đó là Nho giáo. Tín ngưỡng Việt Nam theo truyền thống là đạo thờ Trời và thờ cúng ông bà tổ tiên. Trong bối cảnh đó, từ năm 1615, đạo Công giáo bắt đầu được tổ chức rao giảng qui mô với sự hiện diện đông đảo của các giáo sĩ dòng Tên đến từ phương Tây. Giữa lúc Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đã ăn sâu vào tâm thức Việt, nhất là sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc, nhưng với tinh thần cởi mở và lòng bao dung sẵn có, người Việt Nam mở lòng đón nhận một tôn giáo mới.
Trải gần năm trăm năm thử thách, Công giáo từng bước hòa nhập vào đời sống tâm hồn của họ. Điều đó đòi hỏi tôn giáo ấy một sự hội nhập văn hóa để vừa trung thành với truyền thống đức tin vừa thích nghi với văn hóa bản địa. Nói về niềm tin tôn giáo, cha Placido Cortese viết: “Tôn giáo là một gánh nặng mà con người phải gánh vác nhưng chính nhờ đó mà tâm hồn được tràn đầy yêu thương để chấp nhận những hy sinh cao cả. dù bị hành hạ tra tấn đau đớn cho đến chết như những vị tử đạo của Kytô giáo” [31, 32].
Quả thật, mỗi tôn giáo đều lấy đạo đức căn bản là giới răn cho con người. Dẫu là đạo nào, người Việt Nam vẫn dành tình cảm chính cho đạo hiếu. Ông bà ta vẫn thường quan niệm: Giáo lương thì cũng một làng Đồng cùng chung gánh, đôi đàng cùng đi Mỗi người mỗi đạo thì tùy Miễn sao có ngãi có nghì với nhau. Nhận định trên giúp chúng ta hiểu rõ hơn chính sách và đường lối hành xử của nhà cầm quyền phong kiến đối với tôn giáo cũng như phản ứng của người dân trước buổi đầu của công cuộc truyền giáo.
Từ đó, ảnh hưởng nhất định lên giáo hội và lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam, trong đó có hạnh tích các thánh tử đạo. Khi các thừa sai người châu Âu đem đạo Công giáo đến Việt Nam, với cái nhìn của nhà nước phong kiến, người bản địa không dễ dàng chấp nhận ngay. Vì thế, những người theo đạo Công giáo thường cũng bị đồng hóa với người phương Tây, bị coi là giặc, là những kẻ xâm lăng, làm đảo lộn phong tục ngàn đời của người dân nơi đây. Thêm vào đó, các giáo sĩ truyền đạo phần lớn là người phương Tây, trong đó chủ yếu là người Pháp.
Về sau, khi người Pháp không che giấu ý đồ thực dân của họ nên người Công giáo cũng thường bị coi là Việt gian. Họ trở thành nạn nhân của chiếu chỉ phân sáp (1861) phân tán các làng Công giáo, của các phong trào Văn Thân (1864), Bình Tây sát Tả (1874), Cần Vương (1885). để lại nhiều mất mát, tổn thất nặng nề cho giáo hội Việt Nam buổi sơ khai. Như trong cuộc nổi dậy của các Văn Thân ở Nghệ An (tháng 3 năm 1874), họ đã làm bài hịch Bình Tây sát tả, trong đó nội dung đại ý như sau: “Triều đình dẫu hòa với Tây mặc lòng sĩ phu nước Nam vẫn không chịu.
Vậy trước nhất xin giết hết giáo dân rồi sau đánh đuổi Tây cho hết để giữ lấy cái văn hóa của ta đã hơn ngàn năm” [50, tr.