mở đầu làn, sau vào điêu. Làn vào bằng câu vỉa, hoạc ngâm sổng, hay nói thơ, sau hát điệu. Hình thức âm nhạc làn và điệu mang hai nội dung âm nhạc: Một tự do ngâm ngợi diễn kể, hai hát theo nhịp điệu tạo thành âm nhạc mô hình giai điệu lên xuống gấp khúc và đường thẳng. Đây còn dấu tích âm nhạc dân gian phát triển lên chuyên nghiệp từ làn thành điệu.
Sau tách ra làn, điệu riêng hoàn chỉnh ca nhạc sân khấu chèo. Nhiều nhà nghiên cứu sân khấu nhận định làn điệu chèo từ ca dao, thơ vào cấu thành ca nhạc chèo, một nhận định sai lầm cần chứng minh khi nghiên cứu thơ ca mới chính xác. Thực tiễn nghiên cứu chứng minh thơ ca ra đời trước ca nhạc chèo, làn điệu là khung giai điệu nhạc sinh sau thơ ca. Ca nhạc chèo định hình sẵn lòng bản, từ những âm giai cho trước lồng điệu vào các thể thơ, ca dao.
Đây phương pháp bẻ làn nắn điệu mang tính dân gian, nhờ phương pháp này ngày nay làn điệu chèo luôn mới, dù thay đổi lời ca giai điệu âm nhạc không đổi. Âm nhạc chèo luôn giữ chất dân gian chuyên nghiệp kinh điển, hát lời mới mà giai điệu âm nhạc lòng bản nguyên vẹn. Đây một phương pháp phát triển làn điệu chèo vào vở diễn mới dưới các hình thức: Lồng làn điệu. Giữ nguyên mô hình lòng bản.
Dựa vào giai điệu cũ lồng điệu, bẻ làn nắn điệu vào lời thơ mang nội dung mới. 16 Các phương thức lồng điệu lời ca mới chung một âm giai có sẵn, muốn rõ lời chỉ thêm phụ âm, nguyên âm luyên láy cho rõ lời. Đây như một hình thức làm mới nội dung các làn điệu chèo, đáp ứng nhu cầu nhịp sống con người thời đại. Ca nhạc làn điệu chèo ra đời trong qúa trình phát triển sân khấu chèo từ những làn hát nói trong trò nhại - một hình thức diễn xướng dân gian.
Từ trò diễn ra đời các làn, phát triển lên nửa làn, nửa điệu, đáp ứng nhu cầu diễn kể tích trò sân khấu. Từ loại nửa làn, nửa điệu dần tách riêng hai hình thức cấu trúc giai điệu âm nhạc: Cấu trúc làn, cấu trúc điệu. Ca nhạc chèo phát triển qua ba bước để hoàn thiện sân khấu chèo. Bước thứ nhất, hình thành trong trò nhại từ các điệu hò, tiêu biểu Hò đưa linh, một hình thức diễn kể trong tang ma phong tục đồng bằng Bắc Bộ.
Bước thứ hai, làn phát triển lên nửa làn, nửa điệu phục vụ tiễn trò diễn kể mang tính sân khấu, vừa ngâm ngợi tự sự, lại hát múa vui tươi. Phần điệu sinh sau đáp ứng nhu cấu sân khấu kể chuyện, cần tạo không khí cao trào tình kịch. Bước thứ ba, điệu và làn tách riêng tạo điều kiện ra đời sân khấu, hoàn thiện vốn ca nhạc chèo cổ. Qua ba bước ra đời ca nhạc chèo, ra đời sân khấu chèo hoàn chỉnh đặc điểm ca nhạc chèo cổ.
Vốn ca nhạc chèo mang đặc điểm: Diễn tả nội dung tình cảm tính cách nhân vật, các tình huống sân khấu kịch hát. Đặc điểm phong cách ca nhạc sân khấu dân gian, chuyên nghiệp. Tính kinh điển và đương đại. Đặc điểm ca nhạc phản ánh tính sân khấu kịch hát, qua phát triển chọn lọc thành những làn điệu ca nhạc tinh hoa chất dân ca, dân tộc thời đại.
Mỗi đặc điểm một đặc tính ca nhạc biểu hiện mỹ học âm nhạc, sân khấu ca nhạc chèo. Ca nhạc chèo cổ khi ra đời đã có dàn nhạc, khởi từ dàn nhạc dân gian dàn bát âm, lên chuyên nghiệp loại bỏ một số nhạc khí thuộc dàn bát âm, chỉ giữ lại những nhạc khí cơ bản phục vụ ca diễn đặc tính sân khấu chèo. 17 Bộ gõ dàn nhạc chèo giữ vị trí tạo không khí sân khấu, nội dụng: Trống lệnh (trống cái) chuẩn bị đêm hát chèo, gọi mời công chúng. Trống lệnh (trống dế), hòa tấu dàn nhạc tạo không khí rộn ràng.
Trống mở màn, giáo trò dọn giọng, hát mở màn Vỡ nước. Dàn nhạc cổ chưa có phần nhạc không lời, nhưng bộ gõ làm nên không khí hòa tấu dàn nhạc đánh giai điệu bài hát tạo không khí đêm chèo. Mở màn dàn đồng ca hát, dàn nhạc đệm theo bằng phương pháp bè tòng, không cần hòa thanh, phối khí nghe hấp dẫn từ âm thanh dàn nhạc dân dã. Dàn nhạc chỉ tạo không khí, những câu nhạc lưu không đôi khi bắc cầu giọng ca, sáo đưa hơi, nhị lồng giọng hòa vào đào hát ngọt ngào êm ấm.
Dàn nhạc chèo cổ đúng nghĩa tên gọi: Nhạc nền. Nhạc làm nền đêm diễn. Sau năm 1954, nhạc chèo phát triển chuyên nghiệp, dàn nhạc biến đổi từ nhạc nền sang nhạc diễn tả tính cách nhân vật, không gian sân khấu, tình huống cao trào tính kịch… Vai trò nhạc không lời phát triển lấn át nhạc hát, đảm nhiệm nhiều chức năng, hỗ trợ, thay thế nhạc hát bằng nhạc miêu tả, biểu hiện. Nhạc hát, làn điệu chèo có những bài hát tính cách: Con gà rừng, Hát xuôi hát ngược, Lão say… bây giờ thêm dàn nhạc hỗ trợ đồng diễn tả.
Âm nhạc trong dàn nhạc hiện nay đang đánh mất vốn chèo cổ. Dàn nhạc chèo cổ xưa chỉ bộ gõ nói lên tất cả, trống cái khai cuộc cùng mõ, thanh la, sáo, nhị tạo không khí đêm diễn. Trống con (trống đế), đánh hai dùi nhỏ: Rục, cắc… tung hướng cùng người hát diễn kể. Vai trò trống đế diễn tả sâu sắc tình huống sân khấu, tâm trạng tính cách nhân vật, dẫn giải tính chất câu chuyện kịch.
Ngày nay, những tay trống lão luyện đã mất, bởi đạo diễn không cho anh trổ tài cùng người hát, nếu cần “tôi” thay bằng âm nhạc miêu tả, biểu hiện. Đây là mai một thất truyền âm nhạc, sân khấu chèo cổ. Những cảnh báo mới, nghệ thuật chèo cổ đã thất truyền: Các chiếu chèo đang tan rã. 18 Lề lối diễn chèo cổ nhiều người quên lãng.
Nhà hát, các đoàn chèo chuyên phá chèo, là mối nguy hại thất truyền. Chèo cổ mai một vì nhiều nguyên nhân, nhưng chính những người làm chèo chưa phục cổ theo đúng chiếu chèo dân gian làm sao bảo tồn vốn cổ. Muốn bảo tồn vốn ca nhạc chèo cổ, cần phục dựng các chiếu chèo làng nghề xứ Bắc như phục hồi các phường rối nước. Hiện nay, các phường chèo hãy tự bước ra thị trường, thể loại sân khấu chèo cần Nhà nước hỗ trợ, họ mới tồn tại.
Trên đường phát triển của mình, chèo đã tiếp nhận nhiều nhân tố mới lạ cả về cấu trúc lẫn âm nhạc, múa, mỹ thuật. Những thủ pháp cấu trúc của kịch nói (gốc phương Tây) đã được du nhập vào chèo để phục vụ cho việc kể chuyện của chèo thêm hấp dẫn, nhưng đã được "chèo hóa", hài hòa trong mạch kể. Những làn điệu dân ca các vùng, miền Trung, miền Nam, các dân tộc miền núi, thậm chí của cả nước khác trên thế giới cũng được "chèo hóa" đi cho phù hợp với phong cách của nó, phù hợp với "khẩu vị" của người dân quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Có thể nói, người Việt Nam đã hình thành nên một kiểu "Văn hóa chèo" bền vững và đầy sức sống (bao gồm Văn chèo, Nhạc chèo, Múa chèo, Mỹ thuật chèo và Cách diễn chèo).
Nó không bị đồng hóa, mà còn có khả năng tự làm phong phú bằng cách đồng hóa các yếu tố ngoại nhập trên con đường phát triển của mình và luôn luôn đào thải những gì không phù hợp với nó. Cái chất dân dã mộc mạc, nhắn nhủ duyên dáng, hài hước đã tạo dựng lên cái xương cốt của chèo với phong vị riêng. Nó nghiêm chỉnh đấy nhưng cũng hài hước ngay được. Cái bi tưởng đến tột cùng nhưng lại xóa ngay được bằng cái hài ý vị, thoắt hư thoắt thực, có lúc nhân cái phi lí để làm rõ cái có lý, cứ thế dẫn người xem vào một cuộc hành trình đầy bất ngờ và thú vị.
Nghệ thuật Chèo với đời sống văn hóa của Giáo phận Thái Bình Giáo phận Thái Bình là một Giáo phận có truyền thống văn hóa phong phú và đa dạng. Trong các sinh hoạt Phụng vụ và nghệ thuật của Giáo phận, không chỉ mang những nét văn hóa đặc trưng của tôn giáo “Công giáo” mà còn ảnh hưởng và có nét đặc sắc của văn hóa nghệ thuật vùng miền. Trong đó phải kể đến đó là nghệ thuật Chèo trong đời sống văn hóa của Giáo phận Thái Bình. Từ lâu nghệ thuật Chèo đã được đưa vào trong các sinh hoạt nghi lễ tôn giáo của Giáo phận.
Cụ thể, trong các ca khúc trong bộ Dâng hoa truyền thống của Giáo phận, cung cách “Ngắm” trong ngắm mười lăm sự thương khó Chúa Giêsu, hay trong Dâng hạt… nhưng thời gian qua nghệ thuật Chèo đã bị mai một lãng quên trong các nghi lễ tôn giáo đó, nhất là các ca khúc trong bộ Dâng hoa truyền thống của Giáo phận hầu hết không còn mấy ai biết đến hoặc nhớ giai điệu nữa. Trong những năm gần đây, Giám mục Giáo phận Thái Bình rất quan tâm cổ võ, mời gọi bà con giáo dân khôi phục các truyền thống văn hóa nghệ thuật Chèo trong các sinh hoạt Phụng vụ. Không chỉ vậy, Giám mục đã mời gọi và đưa nghệ thuật Chèo vào trong các “Dụ ngôn” của Kinh Thánh để biên soạn thành các vở Chèo chuyên nghiệp biểu diễn trong các buổi văn nghệ, hay trên các sân khấu lớn của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Nổi bật là các vở Chèo: “Tiệc cưới Cana” “Người Samani” “Người cha nhân hậu ” … Nghệ thuật Chèo từ lâu đã gắn bó khăng khít với đời sống văn hóa của Giáo phận Thái Bình, không chỉ trong các sân khấu biểu diễn mà nghệ thuật Chèo còn sống động trong các nghi lễ Phụng vụ của Giáo phận.
Ngày hôm nay, nghệ thuật Chèo đang dần được khôi phục trong các nghi lễ Phụng vụ của Giáo phận Thái Bình sau một thời gian bị mai một và lãng quên. Thực tiễn về Phụng vụ tại Giáo phận Thái Bình 1. Sơ lược về sự hình thành Giáo Phận Thái Bình Giáo phận Thái Bình bao gồm toàn bộ tỉnh Thái Bình và gần hết tỉnh Hưng Yên, với tổng diện tích 2.220 km2, bắt đầu từ Giáo xứ An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trải dài theo hướng Đông Đông Nam đến vịnh Bắc Bộ và chấm dứt ở bờ biển Đồng Châu, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Giáo phận Thái Bình nằm trọn trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, vị trí địa lý ở vào khoảng 20,17 - 20,44 độ Vĩ Bắc và 106,06 - 106,39 độ Kinh Đông.
Phía Bắc giáp giáo phận Hà Nội và Bắc Ninh, phía Đông Bắc giáp Giáo phận Hải Phòng, phía Tây và Tây Nam giáp giáo phận Bùi Chu và phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ.