phần mở đầu, kết luận cũng nhƣ phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực trạng giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị hệ Trung Cấp. Chƣơng 2: Các giải pháp nâng cao chất lƣợng giảng dạy. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY CÁC BÀI TẬP KỸ THUẬT CHO ĐÀN NHỊ HỆ TRUNG CẤP 1.1 Vai trò của kỹ thuật trong nghệ thuật diễn tấu đàn Nhị: Nghệ thuật diễn tấu đƣợc tổng hợp qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển lâu dài trong âm nhạc dân gian cổ truyền va âm nhạc mới. Từ những trải nghiệm thực tế kết hợp với những lý thuyết âm nhạc, ngƣời nghệ sĩ đã từng bƣớc hoàn thiện nghệ thuật diễn tấu của bản thân.
Trong nghệ thuật diễn tấu đàn Nhị, kỹ thuật giữ một vị trí rất quan trọng, cũng giống nhƣ các nhạc cụ khác, tất cả kỹ thuật đều đƣợc sử dụng để thể hiện những cảm xúc âm nhạc. Chỉ có cảm xúc âm nhạc mới đi vào lòng ngƣời và chinh phục con ngƣời. Sử lý tốt các kỹ thuật, ngƣời nghệ sĩ mới chuyển tải đƣợc khả năng biểu cảm một cách gần gũi nhất đến với khán giả. Bên cạnh đó, ngƣời nghệ sĩ cần kế thừa những kinh nghiệm và tri thức của các thế hệ trƣớc, sau đó phát triển thêm bởi những sáng tạo trong biểu diễn mỗi bài bản (nhạc cổ và nhạc mới).
Từ đó, với những kiến thức nghề nghiệp và kinh nghiệm đƣợc đúc rút, ngƣời nghệ sĩ đàn Nhị sẽ từng bƣớc hình thành nên sự độc đáo trong nghệ thuật diễn tấu qua cách sử dụng kỹ thuật để thể hiện tâm hồn của mình. Kỹ thuật trong dân ca 3 miền: Dân ca là một thể loại âm nhạc cổ truyền của Việt Nam, giàu bản sắc dân tộc, có nhiều làn điệu từ khắp các miền cộng đồng ngƣời. Trong sinh hoạt cộng đồng ngƣời trong vùng đất của họ, thƣờng là làng xóm hay rộng hơn là cả một miền, các làn điệu dân ca thể hiện phong các bình dân, sát với cuộc sống lao động con ngƣời. Thƣờng biểu diễn ở các lễ hội, hát làng nghề, thƣờng ngày cũng đƣợc hát lên để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa ngƣời với ngƣời.
Các bài dân ca có giai điệu đẹp, tiết tấu đơn giản, làm cho ngƣời nghệ sĩ càng có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu với nhiều bài bản dân ca, từ đó họ ngấm chất, biết cách xử lý các bài bản, khiến cho ngƣời biểu diễn càng thể 5 hiện đƣợc cái hồn của dân ca đó, và tiếng đàn của họ càng trở nên sâu lắng. Tuy nhiên, mỗi vùng miền có tính chất âm nhạc khác nhau nên sử lý kỹ thuật cũng khác nhau, thể hiện qua cách "rung, vỗ, luyến láy, ngân nga". Kỹ thuật tay phải: - Cung vĩ rời : là cách dùng cung vĩ kéo hoặc đẩy để tấu một âm nhƣng vĩ không nẩy hoặc tách khỏi dây đàn. Có 2 kiểu: + Cung vĩ rời dài: dùng kỹ thuật kéo hoặc đẩy cả cung vĩ (từ gốc đến ngọn).
Kỹ thuật này cho ta những âm thanh khỏe, đầy đặn, và hay đƣợc sử dụng. Thƣờng dùng trong các bài có tốc độ chậm. Ví dụ 1: Trích “ Inh lả ơi " + Cung vĩ rời ngắn: dùng kỹ thuật kéo hoặc đẩy nhƣng chỉ dùng một phần của cung vĩ (1/2 hoặc 1/3). Kỹ thuật này tạo nên sự linh hoạt, dứt khoát.
Hay sử dụng trong các bài có tiết tấu nhanh, vui. Khi diễn tấu thì cần lƣu ý chơi nhiều ở phần từ ngọn vĩ đến giữa vĩ. Ví dụ 2: Trích " Trèo lên quán dốc" - Cung vĩ luyến: là cách dùng cả cung vĩ kéo hoặc đẩy không ngắt quãng để tạo nhiều âm trên một cung vĩ. Âm thanh tạo bởi cung vĩ liền thể hiện sự da 6 diết, tình cảm, nhẹ nhàng.
Rất hay đƣợc sử dụng, thƣờng là một vĩ 2 hoặc 4 âm, thỉnh thoảng là 3 âm một vĩ. Ví dụ 3: Trích " Lý cây bông " b.Kỹ thuật tay trái: - Dân ca Bắc bộ: giai điệu tƣơi sáng, nhẹ nhàng. +Ngón rung: là sự chuyển động đều của ngón bấm, tạo ra sự rung động, làm tăng màu sắc cho âm thanh. Ngón rung sử dụng hầu hết ở các âm có độ ngân dài, có thể rung cả ở dây buông.
Đây là kỹ thuật quan trọng đặc trƣng của đàn Nhị, tạo nên sự mềm mại, mƣợt mà khi thể hiện, giúp âm thanh ngân vang mà không khô cứng. Ví dụ 4: Trích " Bèo dạt mây trôi " + Ngón láy (ngón vỗ): giữ nguyên ngón bấm (thƣờng là ngón 1 hoặc ngón 2) ngón khác bấm rồi thả ra luôn. Ngón láy dùng rất nhiều trong dân ca Bắc bộ, thƣờng là láy 1 hoặc 2 nốt. Ngón láy diễn tả tình cảm lƣu luyến, ngậm ngùi.
7 Ví dụ 5: Trích " Cây trúc xinh " + Ngón vuốt: là kỹ thuật di ngón trên dây đàn từ dƣới lên trên hay từ trên xuống dƣới. Ngƣời nghệ sĩ sẽ đánh một nốt trƣớc rồi chuyển động ngón tay (có thể cùng một ngón đó hoặc ngón khác) liền mạch trên dây đàn (không rời tay khỏi dây đàn) tới vị trí nốt thứ hai. Kỹ thuật này hay đƣợc sử dụng để tạo sự mềm mại cho giai điệu. Tốc độ vuốt nhanh hay chậm tùy thuộc vào tính chất của giai điệu, tính chất vui tƣơi thì vuốt nhanh, tính chất buồn thì vuốt chậm.
Có 2 cách vuốt : Vuốt từ âm thấp đến âm cao : Ví dụ 6: Trích " Cỏ lả " Vuốt từ nốt Đô lên nốt Rê, bấm nốt Đô bằng ngón 1 rồi kéo ngón 2 từ vị trí nốt Đô lƣớt lên nốt Rê thì dừng. Vuốt vừa phải. 8 Vuốt từ âm cao xuống âm thấp: Ví dụ 7: Trích " Hoa thơm bƣớm lƣợn " Vuốt từ nốt La xuống nốt Sol, để thể hiện ngón vuốt này bấm nốt La bằng ngón 3, kéo ngón 3 xuống dần đến sát vị trí nốt Sol (ngón 2 bấm sẵn vị trí nốt Sol) thì buông ngón tay. - Dân ca Trung bộ: giai điệu sâu lắng, êm dịu.
Với tính chất âm nhạc khác dân ca Bắc bộ, sử dụng các kỹ thuật: rung chậm, vuốt, luyến láy ngân nga để tạo nên phần hồn của giai điệu. Ví dụ 8: Trích " Lý thƣơng nhau " - Dân ca Nam bộ: giai điệu trữ tình, thơ mộng. Sử dụng với các kỹ thuật rung nhanh, vuốt, láy để thể hiện. Ví dụ 9: Trích " Lý đất giồng " 9 1.
Kỹ thuật trong nhạc cổ: a. Kỹ thuật tay phải: Với 3 phong cách (Chèo, Huế, Cải lƣơng) sử dụng các kỹ thuật cung vĩ rời (dài và ngắn), cung vĩ luyến (2,3,4 nốt), và cung vĩ ngắt: dùng khi cần tạo nên những âm ngắn, ngắt quãng. Nhƣng trong Nhạc cổ thì chỉ dùng kỹ thuật ngắt rời: Đánh ngắt từng âm, mỗi âm do một đƣờng cung vĩ (kéo hoặc đẩy) tạo nên. Cách kéo ngắn gọn, vĩ không nhấc khỏi dây đàn, có thể dùng ở phần đầu, phần giữa hay phần cuối cung vĩ để đánh.
Ví dụ 10: Trích " Hề mồi " (Nhạc Chèo).Kỹ thuật tay trái: Sử dụng các kỹ thuật: láy (vỗ), vuốt và Nhấn (kỹ thuật không thể thiếu trong nhạc cổ): dùng ngón tay bóp dây đàn sâu vào trong với một lực đều và liên tục sẽ tạo ra sự rung động lớn về âm thanh (có thể nửa cung, hoặc gần một cung), tùy theo tần số nhấn nhanh hay chậm, nông hay sâu để diễn tả các sắc thái tình cảm khác nhau (vui hoăc buồn). Ví dụ 11: Trích " Cách cú " (Nhạc Chèo). 10 - Nhạc Chèo: Là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, giàu tính tự sự và trữ tình. Chèo có rất nhiều làn điệu, với các làn điệu mang tính chất vui tƣơi sẽ sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh, láy, vuốt nhanh.
Các làn điệu trữ tình, buồn thảm, man mác sử dụng kỹ thuật nhấn chậm (sâu), láy, vuốt chậm. Ví dụ 12: Làn điệu vui tƣơi. Trích " Xẩm xoan ". Làn điệu trữ tình, buồn rầu.
- Nhạc Huế: Là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, đƣợc biểu diễn vào các dịp lễ hội. Nhạc nghi thức trong âm nhạc cung đình Việt Nam, nhạc tế lễ trong các đình làng. Hệ thống thang âm "Đô, rê (non), fa (già), son, la (non) " là hệ thống bao trùm đa số bài bản của âm nhạc truyền thống Huế, chứ không theo 12 11 âm bình quân. Nhạc Huế, đƣợc phân chia thành 2 loại: Điệu Bắc và Điệu Nam, mỗi Điệu có tính chất khác nhau.
Điệu Bắc là những bài bản vui (sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh, láy, vuốt nhanh), điệu Nam là những bài bản buồn thƣơng, sầu oán (sử dụng kỹ thuật nhấn chậm sâu, láy, vuốt êm, nhẹ nhàng). Mỗi điệu có các hệ thống Hơi nhƣ sau: + Điệu Bắc có 4 hơi: Hơi quảng: là hơi nhạc của những bài bản ít nhiều mang âm hƣởng nét nhạc miền Nam Trung Quốc. Hơi đảo: là hơi nhạc của những bài bản thuộc điệu Bắc nhƣng có nhiều đoạn chuyển hệ thang âm (ngũ cung đảo). Hơi thiền: là hơi nhạc của những bài bản mang âm hƣởng xƣớng, tán, tụng trong âm nhạc Phật Giáo.
Hơi nhạc: là một trong những hơi quan trọng trong nhạc Huế, là hơi của những bài bản mang phong cách trang trọng, hùng tráng. + Điệu Nam cũng có 4 hơi: Hơi xuân, hơi thƣơng, hơi ai, hơi oán. Ví dụ 13: Điệu Bắc. Trích " Cổ bản ".
Trích " Cổ bản dựng ". 12 - Nhạc tài tử cải lƣơng: Là loại hình sân khấu kịch hát, có nguồn gốc ở miền Tây Nam Bộ. Nhƣ chúng ta đã biết, hệ thống bài bản trong âm nhạc Đờn ca - Tài tử cũng đƣợc phân chia thành thể loại: hơi Bắc, hơi Nam, hơi Oán. Mỗi loại hơi đều có những đặc điểm về kỹ thuật : nhấn, láy, vuốt khác nhau để ngƣời ta có thể phân biệt đƣợc Hơi của mỗi bài bản.
Hơi Bắc: vui tƣơi, nhộn nhịp, (sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh, vuốt nhanh). Ví dụ 14: Trích " Lý ngựa ô " Hơi Nam: tính chất trang nghiêm, đồng thời đƣợc phân chia thành một số hơi cụ thể nhƣ (hơi Xuân, hơi Ai, hơi Đảo). Sử dụng kỹ thuật nhấn sâu, láy, vuốt. Ví dụ 15: Trích " Nam xuân " Hơi Oán: bi ai, buồn thảm, than thở.
Ví dụ 16: Trích " Văn thiên tƣờng " 13 1. Kỹ thuật trong tác phẩm mới: Một số tác phẩm mới (Việt Nam và nƣớc ngoài) cho đàn Nhị. Tác phẩm Việt Nam: Bè xuôi về bến, Hội ngộ mùa xuân (Nguyến Thế Dân). Kể chuyện ngày mùa (Nguyễn Thao Giang).
Những kỷ niệm quê hƣơng (Hoàng Dƣơng) Nƣớc về đồng (Bùi Hồng Giót). Tình Quê Hƣơng (Nguyễn Thao Giang). Quê Hƣơng Ngày Mới (Ngọc Phan). Vũ Khúc Tây Nguyên (Hoàng Đạm).