CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÀO TẠO GIỌNG SOPRANO CHẤT LƯỢNG CAO 1. Vài nét về đào tạo chất lượng cao 1. Một số khái niệm Dựa theo Luật Giáo dục Đại học năm 2012 số 08/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012.
Theo Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT “Về đào tạo chất lượng cao trình độ đại học”. Chúng tôi xây dựng cơ sở lý luận vể đào tạo chất lượng cao với đối tượng nghiên cứu của luận án như sau. Về thuật ngữ liên quan đến đào tạo như: Đào tạo, giáo dục, chương trình đào tạo… Các khái niệm này đều đề cập đến một quá trình con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi, nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân, để hiểu rõ, chúng tôi đưa ra một số khái niệm trên như sau. Đào tạo: Là hoạt động học tập nhằm giúp cho người học tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn trong vị trí chuyên môn, ngành nghề của mình.
Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp mới thích hợp trong tương lai. Phát triển: Là hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt, liên quan tới việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn hoặc mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Đại trà: Có nghĩ là rộng khắp, trên quy mô lớn Chương trình đào tạo: Thể hiện rõ qua “trình độ đào tạo, đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp, mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập. 12 Đào tạo đại trà: “Là chương trình đào tạo trình độ đại học được thực hiện hợp pháp tại cơ sở đào tạo, có mức trần học phí theo quy định hiện hành của Chính phủ đối với cơ sở đào tạo công lập” [5.
Như vậy, theo cách hiểu của chúng tôi, chương trình đào tạo đại trà là chương trình dành cho số đông, cung cấp nguồn nhân lực chung cho xã hội, không có sự phân chia từng đối tượng cụ thể cho mục đích đào tạo. Đào tạo chất lượng cao: Dựa trên Thông tư số 24/2014/TT-BGDĐT “Về Đào tạo Chất lượng cao trình độ đại học khái niệm chất lượng cao được định danh như sau: “Là chương trình đào tạo có các điều kiện đảm bảo chất lượng đầu ra cao hơn chất lượng đào tạo đại trà đồng thời đáp ứng tiêu chí và điều kiện đào tạo CLC” [5. Nghĩa là yêu cầu về nội dung, chương trình, giáo trình, phương thức dạy học tới đối tượng người học phải cao hơn mức đào tạo đại trà. Ngoài ra, chúng tôi chưa tìm thấy khái niệm cụ thể về đào tạo CLC.
Trong quá trình tìm hiểu làm rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi gặp một số ý kiến cho rằng: Ở một số trường có danh tiếng, uy tín, chương trình đào tạo của trường đó đã là đào tạo chất lượng cao nên việc xây dựng một chương trình mới cho đào tạo CLC là không cần thiết. Ở ngành âm nhạc, HVANQGVN là một trong những cơ sở đào tạo như vậy. Tuy nhiên, chiếu theo các định nghĩa đã nêu trên chúng tôi cho rằng, chương trình đào tạo TN tại HVANQGVN hiện phục vụ cho số đông và trong diện rộng, kiến thức chuẩn đầu ra SV cần đạt mức tối thiểu theo yêu cầu đào tạo. Do vậy, chương trình hiện hành vẫn được hiểu là chương trình đào tạo đại trà.
Mặt khác, qua tìm hiểu, so sánh với một số cơ sở đào tạo trong khu vực và trên thế giới chúng tôi nhận thấy chương trình đào tạo hiện hành còn bộc lộ nhiều hạn chế và chưa mang nhiều tính ưu việt (điều này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở phần nghiên cứu về chương trình dạy học ở phần sau). Như vậy, việc xây dựng một chương trình đào tạo CLC dành riêng cho những SV có khả năng vượt trội, có giọng hát xuất sắc sẽ giúp họ có cơ hội phát triển xa bởi tri thức 13 họ cần lĩnh hội không phải tối thiểu cần đạt, thay vào đó là ngưỡng kiến thức tối đa bản thân có khả năng chiếm lĩnh. Chương trình đào tạo CLC “được xây dựng và phát triển trên nền của đào tạo đại trà của cơ sở đào tạo” [5. Dựa trên chương trình đào tạo hiện hành, cơ sở đào tạo xây dựng một chương trình riêng cho đào tạo chất lượng cao sao cho chuẩn đầu ra: “Phải cao hơn đào tạo đại trà tương ứng” [5.
Cụ thể, GV có trình độ thạc sĩ trở lên, có năng lực chuyên môn, nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu của đào tạo CLC, có kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy hiệu quả. Cơ sở vật chất, phòng học riêng cho lớp đào tạo CLC, các thiết bị hỗ trợ giảng dạy, học tập. Đủ giáo trình, tài liệu tham khảo trong, ngoài nước, được cập nhật thường xuyên và các cơ sở vật chất cần thiết khác theo yêu cầu đào tạo CLC. Dựa trên những phân tích trên, chúng tôi xây dựng khái niệm đào tạo chất lượng cao đối với giọng Colorature Soprano như sau: Là chương trình đào tạo dành riêng cho giọng Colorature Soprano xuất sắc được chọn lọc từ những giọng Soprano nói chung, giọng Colorature Soprano nói riêng có khả năng vượt trội từ chương trình đào tạo hiện hành.
Những SV, học viên được chọn cần đảm bảo một số tiêu chí bắt buộc như: Âm sắc giọng hát có tính chất nhẹ, bay, vang xa (những đặc điểm điển hình của giọng Colorature Soprano), âm vực của giọng hát rộng, nắm được kỹ thuật hát căn bản, ngoại ngữ, có niềm khát khao và đam mê trong học tập. Chương trình đào tạo CLC được thiết kế theo hướng điều chỉnh, bổ sung từ chương trình đào tạo hiện hành nhằm tăng cường các kiến thức chuyên sâu ở mức cao hơn nhằm đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra là những sinh viên, học viên giọng Colorature Soprano tài năng, có khả năng hát tốt những tác phẩm đòi hỏi kỹ thuật và nghệ thuật thanh nhạc phức tạp. Có khả năng tham dự những cuộc thi thanh nhạc lớn mang tầm quốc gia, quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu đó, GV tham gia giảng dạy chương trình đào tạo CLC đối với giọng Colorature Soprano phải có trình độ chuyên môn cao, từ thạc sỹ trở lên, có thâm niên giảng dạy từ 5 năm trở lên, 14 có năng lực nghiên cứu và hiểu biết sâu, rộng về kiến thức chuyên ngành, đặc biệt phải có kinh nghiệm giảng dạy giọng Clorature Soprano.
Phương pháp giảng dạy cũng yêu cầu phải cải tiến để tạo ra sự tương tác tích cực giữa giảng viên và sinh viên, phát huy tính sáng tạo, đột phá thường có ở các sinh viên xuất sắc. Cơ sở vật chất cần được đáp ứng với yêu cầu dạy và học trong đào tạo CLC. Năm 2018, Khoa thanh nhạc, HVANQGVN manh nha thực hiện lựa chọn một số sinh viên có tố chất giọng hát tốt, chọn giảng viên đồng thời hỗ trợ kinh phí cho giảng viên nhằm mục đích giúp SV có tố chất đạt chất lượng cao hơn. Tuy nhiên, việc triển khai chưa theo một lộ trình cụ thể và đồng bộ bởi các yêu tố khác như: Chương trình, giáo trình, thời gian đào tạo.
Khoa còn đang thực hiện theo chương trình đào tạo hiện hành. Mục đích đào tạo chất lượng cao “Nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học ở những cơ sở đào tạo có đủ điều kiện nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tính cạnh tranh cao trên thị trường lao động trong thời kỳ hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” [5. Như vậy, mục đích đào tạo CLC đối với giọng Colorature Soprano mang ý nghĩa quan trọng: Nâng cao chất lượng loại giọng này để tiếp tục phát triển cũng như hội nhập với quốc tế (tham gia các cuộc thi TN ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, xuất khẩu được các nghệ sĩ biểu diễn cho các nhà hát, các GV cho các cơ sở đào tạo TN ra ngoài lãnh thổ Việt Nam). Có thể thấy, mục đích của hai mô hình: đào tạo TN đại trà và đào tạo giọng Colorature Soprano CLC tại HVANQGVN có sự khác nhau cơ bản giữa một bên SV cần nắm vững những kiến thức cơ bản, toàn diện với một bên là đào tạo chuyên sâu nhằm mục đích cạnh tranh, hội nhập quốc tế.
Từ chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo, yêu cầu về đội ngũ GV, tuyển chọn SV đến cơ sở vật chất trong đào tạo đều có sự đòi hỏi cao hơn. 15 Bảng 1: So sánh đào tạo đại trà và đào tạo chất lượng cao đối với giọng Colorature Soprano CLC. Yêu cầu Đào tạo đại trà Đào tạo chất lượng cao cho giọng Colorature Chương Đáp ứng chương trình đào Đáp ứng cho số ít người học trình tạo chung cho mọi đối có khả năng vượt trội, có sự Giáo trình tượng. phân loại, cải tiến về chương trình, giáo trình chuyên sâu hơn mức đại trà.
Giảng viên GV có trình độ đạt chuẩn - GV có trình độ thạc sỹ theo quy định của Bộ GD - chuyên ngành TN trở lên. có thành tựu trong đào tạo giọng Soprano nói chung, Colorature Soprano nói riêng, có giải thưởng về TN trong biểu diễn). Năng lực SV SV có đầu vào đạt tiêu Có năng lực vượt trội về: chuẩn chung về giọng hát, Giọng hát (bay, nhẹ, vang xa); không có cố tật giọng hát, âm sắc đẹp, kiến thức âm nhạc có hiểu biết về kiến thức âm vững vàng, có hiểu biết về nhạc theo quy định chung. ngoại ngữ chuyên ngành.
Có sức khỏe tốt Kỹ thuật Cần nắm được tất cả những Cần nắm được những yêu cầu thanh nhạc yêu cầu chung nhất về kỹ kỹ thuật khó, rất khó dành thuật TN, biết vận dụng vào riêng cho giọng Colorature các tác phẩm theo chương Soprano (passage, Staccato, 16 trình quy định. Các năng lực Hiểu biết cơ bản về xử lý Hiểu sâu về xử lý tác phẩm, khác tác phẩm trường phái âm nhạc gắn với tác phẩm cụ thể, hành động sân khấu, kịch nghệ, hiểu biết về ngoại ngữ chuyên ngành. Từ bảng so sánh trên có thể thấy, đào tạo CLC giọng Colorature Soprano tại HVANQGVN hiện có nhiều thế mạnh để phát triển. Chương trình đào tạo TN tại HVANQGVN đang hiện hữu nhiều nhân tố vượt trội về năng lực chuyên môn.