Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian (mã số được thực hiện trong hệ thống đào tạo nghiên cứu văn hóa tại Việt Nam) tập trung nghiên cứu đề tài Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội. Công trình tiếp cận đối tượng dưới góc độ tính nguyên hợp của văn hóa dân gian kết hợp nghiên cứu liên ngành với văn hóa học và quản lý văn hóa, nhằm làm sáng tỏ các quy luật vận động, kế thừa và biến đổi của loại hình nghệ thuật này trong bối cảnh xã hội hiện đại.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị thế lịch sử của ca trù – một loại hình nghệ thuật diễn xướng kết hợp giữa yếu tố dân gian và bác học, trong đó Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội giữ vai trò trung tâm qua nhiều thế kỷ. Trải qua những thăng trầm lịch sử, đặc biệt là giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX với sự xuất hiện của các nhà hát cô đầu mang tính thương mại hóa, ca trù từng bị biến dạng về lề lối. Sau năm 1945, các môi trường diễn xướng truyền thống bị triệt tiêu, giáo phường tan rã và hoạt động thực hành nghệ thuật bị gián đoạn. Từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, tiêu biểu là sự kiện thành lập Câu lạc bộ (CLB) Ca trù Hà Nội (1990 - 1991) và Liên hoan Ca trù Hà Nội mở rộng lần thứ nhất năm 2000, ca trù bắt đầu bước vào giai đoạn phục hưng. Tháng 10 năm 2009, UNESCO chính thức ghi danh ca trù vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Tuy nhiên, quá trình phục hồi trong đời sống đương đại bộc lộ nguy cơ "phổ cập hóa" và "đại chúng hóa", làm suy giảm các chuẩn mực khắt khe về nghệ thuật diễn xướng lẫn môi trường diễn xướng; nhiều lớp đào kép kế cận tiếp thu nghề chưa chuẩn xác, xuất hiện nhiều biểu hiện sai lệch so với nghệ thuật cổ truyền. Nghiên cứu sinh là người có gần 40 năm gắn bó với thực hành ca trù, trực tiếp tham gia giảng dạy, biểu diễn và tổ chức hoạt động câu lạc bộ, đã tiến hành khảo sát thực tiễn để giải quyết vấn đề này.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Trong suốt giai đoạn 30 năm phục hồi (1990 - 2021), chưa có một chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện sự biến đổi của ca trù tại Hà Nội trên cả bốn khía cạnh của tính nguyên hợp văn hóa dân gian (nghệ thuật diễn xướng, môi trường diễn xướng, chủ thể thực hành, phương thức truyền dạy và học), cũng như chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống các nguyên nhân chủ quan, khách quan để đưa ra định hướng bảo tồn thích hợp.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội, luận án hướng tới mục đích luận giải những biến đổi và xu hướng phát triển của ca trù trong cuộc sống đương đại nhằm phát huy những giá trị thích hợp, hạn chế những biến đổi chưa phù hợp của ca trù tại Hà Nội trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát về ca trù truyền thống và đương đại tại Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội thông qua các cuộc liên hoan ca trù và các câu lạc bộ, giáo phường/nhóm ca trù diễn ra trên địa bàn.
- Tổng kết những biến đổi thích hợp và chưa phù hợp; bàn luận về những biến đổi đó trong xu thế phát triển của xã hội mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những biến đổi của ca trù trên các khía cạnh: (1) biến đổi về nghệ thuật diễn xướng (thơ, ca, nhạc, múa, người thưởng thức); (2) biến đổi về môi trường diễn xướng (không gian và hình thức diễn xướng); (3) biến đổi về đối tượng thực hành ca trù; (4) biến đổi về cách truyền dạy và học ca trù.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Hà Nội mở rộng, bao gồm các quận huyện nội thành và ngoại thành nơi có các hoạt động, sinh hoạt câu lạc bộ, giáo phường hoặc nhóm ca trù đang diễn ra; có mở rộng không gian so sánh khi cần thiết.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2021 (tính từ thời điểm thành lập câu lạc bộ ca trù đầu tiên tại Hà Nội sau thời gian dài gián đoạn).
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu sự biến đổi của ca trù đương đại so với ca trù truyền thống thông qua bốn khía cạnh nêu trên tại 17 câu lạc bộ, giáo phường/nhóm và qua các cuộc liên hoan ca trù.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Đặc trưng của ca trù truyền thống được biểu hiện ở các yếu tố nào?
- Sự biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội được thể hiện ở những nội dung nào?
- Qui luật của sự biến đổi và xu thế phát triển của ca trù tại Hà Nội trong thời gian tới?
Giả thuyết nghiên cứu:
Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội so với ca trù xưa được biểu hiện ở tất cả các lĩnh vực, từ nghệ thuật diễn xướng đến chủ thể thực hành, trong đó có biến đổi cả về chất lẫn về lượng. Qui luật của sự biến đổi là đương nhiên và có xu hướng phát triển theo chiều rộng; chất lượng của nghệ thuật ca trù sẽ phải tiếp tục quan tâm để đưa ca trù thoát khỏi danh mục "bảo vệ khẩn cấp".
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành hai nhóm chính:
Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về ca trù truyền thống:
- Các tài liệu đầu thế kỷ XX bằng chữ quốc ngữ: Khảo luận "Văn chương trong lối hát Ả đào" của Phạm Quỳnh (1923) trình bày về giá trị văn chương của thể hát nói; tác phẩm Hát Ả đào của Phạm Văn Duyệt (1923) đề cập đến cung điệu và giới thiệu các thể cách cơ bản; sách Hát Ả đào của Tú Tài Hà Liên (1933) đi sâu vào kỹ thuật biểu diễn; bài viết "Khảo luận về cuộc hát ả đào" của Nguyễn Đôn Phục; tập sách Văn chương hát nói của Nguyễn Văn Ngọc (1932); tiểu luận "Ca nhạc phòng" của Phạm Duy trong cuốn Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam.
- Các bài khảo cứu của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát trên báo Ngày nay và tạp chí Thanh Nghị giai đoạn 1940 - 1944: "Hát Ả đào" (1940), "Trống chầu" (1942), "Tiếng hát của đào nương" (1943), "Hát cửa đình" (1944). Các bài viết phân tích tiết tấu, âm điệu, vai trò của khổ đàn, khổ phách trong hát ả đào.
- Công trình giai đoạn thập niên 1960: Sách Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề (Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962). Đây là tài liệu khảo cứu tư liệu Hán Nôm và thực tế triều đình Huế trước năm 1945, ghi chép nguồn gốc, các lối hát cửa đình, hát thi, thuật ngữ, tiểu sử đào nương và danh mục bài bản.
- Giai đoạn cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI: Tuyển tập thơ ca trù của Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú (1987); các bài nghiên cứu về tư liệu Hán Nôm và mỹ thuật ca trù của Vũ Ngọc Khánh, Duệ Anh, Bạch Vân, Nguyễn Thụy Loan, Tú Ngọc, Nguyễn Hữu Mùi, Trần Kim Anh, Nguyễn Xuân Diện (1997); công trình Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù (2000) và luận án tiến sĩ Nguồn tư liệu Hán Nôm với việc nghiên cứu ca trù (2007) của Nguyễn Xuân Diện; bộ sách 1000 năm Âm nhạc Thăng Long - Hà Nội (2010); sách Ca trù Hà Nội trong lịch sử và hiện tại của Nguyễn Đức Mậu (2010); bài báo "Đặc điểm âm nhạc ả đào" của Phương Hoa (2008); chuỗi bài viết "Nhận diện khổ phách/ khổ đàn nhạc ả đào - phương pháp tiếp cận mới" của Bùi Trọng Hiền trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (2015, 2018 - 2019).
- Luận văn và luận án liên quan: Khảo luận tốt nghiệp của Vũ Nhật Tân (1995) về nhạc khí và tiết tấu; luận án tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Đức Mậu (2000) về thể loại hát nói; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thủy Tiên (2007) về môi trường diễn xướng; luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Toan (2011) về ca trù Thượng Mỗ; luận văn thạc sĩ của Phan Thị Duyên (2012) về ca trù Lỗ Khê; luận án tiến sĩ Âm nhạc học của Nguyễn Hiền Đức (2019) về âm nhạc ca trù ở Hà Nội. Các nghiên cứu quốc tế gồm luận văn thạc sĩ của Barley Norton (1996), luận án tiến sĩ của Gisa Jahnichen (1997), các nghiên cứu của Alienor Anisensel và luận án tiến sĩ của Bùi Long (2019).
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của ca trù:
- Tuyển tập Ca trù nhìn từ nhiều phía do Nguyễn Đức Mậu biên soạn (2003).
- Công trình Đặc khảo ca trù Việt Nam của nhóm tác giả Đặng Hoành Loan, Phạm Minh Hương, Hồ Thị Hồng Dung (2006), phân tích bước đầu sự chuyển đổi từ mô hình giáo phường cổ truyền sang hình thức câu lạc bộ hiện đại.
- Luận văn thạc sĩ Văn hóa học của Vũ Thanh Thủy (2012) về bảo tồn và phát huy ca trù trong đời sống đương đại.
- Luận án tiến sĩ Văn hóa học (2017) và cuốn sách Ca trù đất Hà Thành (2021) của Nguyễn Đức Thắng, khảo sát hoạt động biểu diễn của ba câu lạc bộ, giáo phường tiêu biểu tại Hà Nội đến năm 2016.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận ca trù ở góc độ văn học, âm nhạc học thuần túy hoặc chỉ khảo sát hoạt động của một vài câu lạc bộ riêng lẻ trong thời gian ngắn. Luận án này giải quyết khoảng trống về một công trình khảo cứu chuyên sâu, tổng kết sự biến đổi của ca trù trên toàn bộ địa bàn Hà Nội mở rộng trong suốt khung thời gian 30 năm (1990 - 2021). Luận án khảo sát đồng bộ 17 câu lạc bộ, giáo phường/nhóm và toàn bộ các kỳ liên hoan ca trù, đặt sự biến đổi trong chỉnh thể nguyên hợp văn hóa dân gian để phân tích quy luật phát triển, phân định các biến đổi phù hợp và không phù hợp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hai hệ thống lý thuyết nền tảng của ngành Văn hóa dân gian:
- Lý thuyết về tính nguyên hợp của văn hóa dân gian: Bắt nguồn từ thuật ngữ "folklore" do William J. Thoms đề xuất năm 1846, được các nhà nghiên cứu Việt Nam như Đinh Gia Khánh khẳng định văn hóa dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp giữa nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật diễn xướng trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội. Luận án vận dụng lý thuyết này vào Chương 2 và Chương 3 để phân tích cấu trúc hữu cơ giữa thơ, ca, nhạc, múa và môi trường diễn xướng cổ truyền, cũng như đánh giá thực trạng biến đổi đa diện của 17 tổ chức ca trù đương đại. Kết hợp với quan điểm về diễn xướng của Richard Bauman, Marcia Herndon, George List, Kiều Trung Sơn và Tô Ngọc Thanh để nhận diện diễn xướng ca trù như một hành vi mang tính văn hóa và nghệ thuật tổng hợp.
- Lý thuyết biến đổi văn hóa: Sử dụng các quan điểm và dự báo về biến đổi văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, truyền thông đại chúng và giao lưu quốc tế của Lê Hồng Lý và Đỗ Lan Phương. Lý thuyết này được vận dụng trong Chương 4 nhằm luận giải các nguyên nhân nội sinh và ngoại sinh thúc đẩy ca trù vận động theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực.
Hệ thống thuật ngữ và khái niệm chuyên môn:
- Tên gọi loại hình: Ca trù (hát có thưởng thẻ/trù bằng tre để quy đổi ra tiền mặt), Hát ả đào (xuất phát từ tên người con gái họ Đào hát hay thời Lý hoặc thời Hồ lập mưu giết giặc Minh), Hát nhà tơ (hát trong tư dinh, ty quan), Hát nhà trò (hát kết hợp múa và làm điệu bộ), Hát cô đầu (học trò trích tiền đầu đi hát để phụng dưỡng đào nương danh ca dạy nghề), Hát cửa đình (hát thờ thần hoàng làng trước ban thờ công đồng trong đình), Hát cửa quyền (hát trong cung vua phủ chúa), Hát ca công (tên gọi phổ biến ở Thanh Hóa, nơi có nhà thờ hoặc đền ca công), Hát gõ (tên gọi dân gian chỉ lối vừa hát vừa gõ phách).
- Thuật ngữ kỹ thuật thanh nhạc và khí nhạc: Hát khuôn / đàn khuôn (hát và đàn đúng khuôn phép, mực thước, âm thanh gằn chắc, dùng trong hát thờ và hát thi); Hát hàng huê / đàn hàng huê (lối diễn tấu ngẫu hứng, bay bướm, luyến láy thêm nhiều âm tô điểm, dùng trong hát chơi); Hơi trong (nuốt hơi vào, nhấc lưỡi gà, miệng hé mở, âm phát ra từ trong họng, tạo độ vang sâu); Hơi ngoài / hát ngoài miệng (thả hơi nhiều ra ngoài, âm thanh nông); Láy chìm (kỹ thuật khống chế cường độ âm thanh, ém hơi xuống rồi mới đẩy lên); Hát tận can tràng (hát sâu từ ruột gan); Đổ hột / nảy hột (sử dụng độ rung ngắt của thanh hầu để tạo âm thanh nháy đúp chắc nịch); Đổ con kiến (kỹ thuật rung ngắt li ti âm thanh lượn sóng); Ngón chùn / chùng (tay trái bấm miết dây đàn đẩy về phía ngựa đàn làm hạ cao độ); Ngón mượn (bấm sâu vào phím đàn trước khi gảy để tạo âm cao hơn); Nhạc mồm / phách mồm / đàn mồm (dùng miệng mô phỏng âm thanh phách và giai điệu đàn đáy).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Bao quát thư tịch Hán Nôm, văn bia làng xã, các công trình khảo cứu, luận án, bài báo khoa học nhằm phục dựng bức tranh lịch sử và lề lối truyền thống.
- Phương pháp điền dã, quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp thực hành với tư cách đào nương gần 40 năm, điều hành CLB Ca trù Hà Nội và sinh hoạt tại Bích Câu đạo quán, tham dự các không gian diễn xướng và lễ hội.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn hơn 60 cá nhân với hàng trăm lượt tiếp xúc, gồm các nghệ nhân gạo cội (Quách Thị Hồ, Phạm Thị Mùi, Vũ Thị Vóc, Nguyễn Thị Chúc, Phó Thị Kim Đức, Chu Văn Du, Phó Đình Kỳ, Nguyễn Phú Đẹ, Nguyễn Thế Hối, Nguyễn Văn Hành, Nguyễn Văn Hoan...), các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và quan viên cầm chầu.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý số liệu về 17 tổ chức câu lạc bộ, giáo phường/nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội, thực trạng hoạt động truyền dạy, số lượng giải thưởng và thành phần dự thi tại các kỳ liên hoan ca trù.
- Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại giữa nghệ thuật diễn xướng, môi trường diễn xướng truyền thống với giai đoạn 1990 - 2021.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn bản học, sử học, âm nhạc học và quản lý văn hóa để xử lý tư liệu.
Nguồn tư liệu: Gồm văn bia Hán Nôm ghi chép về giáo phường (đặc biệt là 33 bia tại vùng Hà Tây cũ), bản thảo ghi chép của các dòng họ nghệ nhân (tư liệu của cụ Nguyễn Hữu Ninh, Nguyễn Xuân La), hệ thống tư liệu ghi âm, ghi hình điền dã và hồ sơ khảo sát thực tế tại các câu lạc bộ, giáo phường Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (2 trang), Danh mục tài liệu tham khảo (10 trang), Phụ lục (81 trang) và 4 chương nội dung chính với tổng dung lượng 153 trang.
| Cấu trúc phần mục |
Tên chương / phần mục |
Dung lượng (Trang) |
| Mở đầu |
Đặt vấn đề, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp nghiên cứu |
7 |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về ca trù |
26 |
| Chương 2 |
Nghệ thuật ca trù truyền thống Hà Nội |
42 |
| Chương 3 |
Thực trạng ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội |
34 |
| Chương 4 |
Đánh giá, bàn luận về biến đổi của ca trù Hà Nội |
40 |
| Kết luận |
Tóm tắt kết quả nghiên cứu và phương hướng |
2 |
| Tài liệu tham khảo |
Danh mục tài liệu Hán Nôm, sách, tạp chí, luận án tiếng Việt và ngoại văn |
10 |
| Phụ lục |
Bảng biểu thống kê, văn bản phỏng vấn, sơ đồ, tư liệu ảnh |
81 |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về ca trù
Nội dung chương 1 (26 trang) tập trung trình bày tổng quan tài liệu nghiên cứu, hệ thống hóa khung lý thuyết (tính nguyên hợp của văn hóa dân gian và biến đổi văn hóa), chuẩn hóa hệ thống khái niệm, đồng thời phác thảo tiến trình lịch sử ca trù qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn ra đời (thế kỷ X) và định hình nghệ thuật ca trù (thế kỷ XV - XVII thời Hậu Lê): Căn cứ vào sử liệu, năm Thuận Thiên thứ 16 (1025) vua Lý Thái Tổ đặt ra chức quản giáp cho giới con hát; thời Trần thế kỷ XIV ghi nhận danh sĩ họ Đào (Ả Hàn Than); nửa sau thế kỷ XV, ca trù được xác định là bộ môn nghệ thuật hoàn chỉnh thông qua 9 bài văn "Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào" (Bát xã thưởng đào văn) của Lê Đức Mao (1462 - 1529). Thế kỷ XVI ghi nhận sự gắn bó chặt chẽ của ca trù với đình làng qua hình tượng chạm khắc đàn đáy tại đình Lỗ Hạnh (Bắc Giang), đình Tây Đằng (Hà Nội) và chùa Cót (Vĩnh Phúc).
- Giai đoạn phát triển (thế kỷ XVII - XIX thời Lê - Nguyễn): Thế kỷ XVII - XVIII hoàn chỉnh tổ chức giáo phường ca trù tại đồng bằng Bắc Bộ, trong đó địa bàn Hà Tây cũ tập trung nhiều nhất với 33 văn bia. Thế kỷ XIX chứng kiến sự phát triển rực rỡ của ca trù với sự hoàn thiện của thể thơ hát nói (tiêu biểu qua sáng tác của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Bá Xuyến).
- Giai đoạn suy thoái và phục hồi (thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI): Đầu thế kỷ XX, ca quán cô đầu phát triển thương mại hóa tại các đô thị (năm 1938 Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2000 cô đầu, tập trung tại Khâm Thiên và Ngã Tư Sở). Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, loại hình này bị triệt tiêu do bị coi là tàn dư phong kiến qua ba thời kỳ xã hội: cuộc vận động "Đời sống mới" (1954 - 1965), nếp sống thời chiến sơ tán (1966 - 1975), và giai đoạn cơ chế "ba lợi ích" (1976 - 1986). Ca trù bắt đầu phục hồi sau Đổi mới năm 1986, mốc thành lập CLB Ca trù Hà Nội (1990 - 1991) và được UNESCO ghi danh năm 2009.
Chương 2: Nghệ thuật ca trù truyền thống Hà Nội
Chương 2 (42 trang) nhận diện chỉnh thể nguyên hợp của nghệ thuật ca trù truyền thống tại Thăng Long - Hà Nội thông qua hai trục nội dung chính: nghệ thuật diễn xướng và môi trường diễn xướng.
Nghệ thuật diễn xướng truyền thống là sự phối hợp chặt chẽ giữa bốn thành tố:
- Thơ: Lời ca do Bộ Lễ, vua chúa hoặc các danh nho biên soạn. Thể thơ tiêu biểu nhất là hát nói đủ khổ gồm 11 câu, phân bổ theo ba khổ: khổ đầu (4 câu), khổ giữa (4 câu) và khổ xếp (3 câu). Hát nói phối hợp niêm luật, vần điệu giữa tiếng Việt và tiếng Hán, mang tính trữ tình và phóng khoáng.
- Ca: Đòi hỏi đào nương phải có âm vực rộng, xử lý phát âm chuẩn xác, áp dụng các kỹ thuật ém hơi, giữ hơi trong, láy chìm, đổ hột, ngân hột nhằm tạo ra âm thanh sâu từ trong họng quyện chặt vào tiếng đàn đáy và tiếng phách.
- Nhạc: Biên chế dàn nhạc biến đổi theo từng không gian. Dàn nhạc dân gian xưa gồm: trường cùng (phách dài 70 - 90 cm do một ả đào già gõ giữ nhịp), đới cầm (đàn đáy 16 phím), phách, phách quán tiền (sinh tiền) và đan diện cổ (trống mảnh một mặt). Dàn nhạc cung đình (bát âm) gồm trúc sinh, đàn cầm, đàn cửu huyền, đàn thất huyền, đàn tranh 15 dây. Dàn nhạc thính phòng thu gọn còn 3 nhạc cụ cơ bản: phách, đàn đáy và trống chầu.
| Tên nhạc cụ |
Cấu tạo và quy cách vật liệu |
Kỹ thuật diễn tấu và chức năng |
| Phách |
Bàn phách bằng tre già hoặc gỗ nhỏ (3x6x22 cm); hai dùi gõ gồm lá phách đơn tròn (dài 26-28 cm) và tay ba kép bằng gỗ trai hoặc trắc. |
Đào nương sử dụng; phát ra các âm tròn và bẹt: rụp (RP), phách (P), chát (C); gồm 5 khổ phách (sòng đầu, giữa/rải, xiết, lá đầu, sòng kiệt). |
| Đàn đáy |
Thùng đàn bằng gỗ ngô đồng, không có đáy; cần đàn dài gắn 16 phím to; mắc 3 dây tơ; tầm âm hơn 2 quãng 8 (từ Rê đến Đô3). |
Kép đàn sử dụng; ngồi xếp bằng hoặc ngồi vắt chân 45 độ kẹp thùng vào nách; không dùng dây buông; áp dụng ngón chùn/chùng, ngón mượn; có 5 khổ đàn tương ứng 5 khổ phách. |
| Trống chầu |
Tang trống bằng gỗ mít rỗng cao 18 cm, hai mặt căng da trâu đực đường kính 15 cm trùm tang 2 cm đóng đinh tre; roi chầu dẻo dài 70-80 cm (gỗ ruối, dâu, găng hoặc sừng trâu). |
Quan viên sử dụng; ngồi vắt chân chữ ngũ; không nhìn đào kép; đánh vào mặt trống tạo tiếng tom (0), gõ vào tang trống tạo tiếng chát (+); đóng vai trò thẩm định, khen chê câu hát và tiếng đàn. |
- Múa: Từng là thành tố bắt buộc trong hát thờ và tế lễ, gồm các điệu: Tấu nhạc và múa tứ linh (Long, Ly, Quy, Phụng do 4 kép hóa trang phối hợp 2 hoặc 4 cô đầu dâng hương); Múa hát dồn đại thạch (hát phách khoan chuyển sang tiết tấu dồn dập); Múa hát bỏ bộ (gồm phần mở đầu và 5 sắp, diễn tả các động tác xe chỉ, xỏ kim, bắn cung, cưỡi ngựa); Múa Bài bông (nhã nhạc đế vương trang trọng, biên chế 8, 16 hoặc 32 đào nương tập luyện công phu).
Môi trường diễn xướng truyền thống:
- Hát thờ: Gồm hát cửa đình thờ thành hoàng làng (tổ chức quy mô lớn từ 20 - 30 đào kép, kéo dài nhiều ngày đêm, diễn ra trong gian tiền tế của đình, đào kép đứng đàn hát nghiêm trang, thực hành bài bản 12 thể cách cố định, có lệ xông đình khi sửa chữa đình đền) và hát tế tiên sư (tổ chức vào ngày 11 tháng Chạp hàng năm để giỗ tổ Bạch Hoa công chúa và Đinh Lễ tại đền nhà thờ tổ như ở Lỗ Khê, Phúc Thọ, Chợ Hôm...).
- Hát cửa quyền: Diễn xướng trong cung vua, phủ chúa nhân dịp khánh tiết, mang tính chất trang nghiêm, âm luật khoan thai.
- Hát chơi: Diễn ra tại tư gia, dinh quan, tiệc khao vọng hoặc nhà hát cô đầu thính phòng, mang tính thưởng thức nghệ thuật thuần túy, đề cao lối hát và đàn hàng huê.
Chương 3: Thực trạng ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội
Chương 3 (34 trang) trình bày kết quả khảo sát thực địa toàn diện của tác giả về hoạt động ca trù tại Hà Nội từ năm 1990 đến năm 2021:
- Khảo sát 17 câu lạc bộ, giáo phường/nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội mở rộng: Phân tích cơ cấu tổ chức, phương thức quản lý, tôn chỉ hoạt động và không gian sinh hoạt của các đơn vị (tiêu biểu như CLB Ca trù Hà Nội tại Bích Câu đạo quán, CLB Ca trù Thái Hà, các nhóm tại Lỗ Khê, Thượng Mỗ, Chanh Thôn, Phú Đô...).
- Thực trạng công tác truyền dạy và học nghề: Đánh giá mối quan hệ giữa người dạy và người học, phương pháp truyền khẩu truyền ngón truyền thống đối chiếu với phương pháp ký âm phương Tây; giáo trình và bài bản giảng dạy; sự sụt giảm thời gian khổ luyện của học viên.
- Biến đổi của các thành tố nghệ thuật diễn xướng đương đại: Lời thơ chủ yếu lặp lại các bài bản cũ, ít sáng tác bài hát nói mới; nghệ thuật hát bị suy giảm kỹ thuật nhả chữ, nhiều ca nương mắc tật hát ngoài miệng (hơi ngoài), thiếu kỹ thuật láy chìm và nảy hạt; ngón đàn đáy của thế hệ trẻ thiếu độ sâu, xuất hiện tình trạng bấm phím nông (gân nổi), ngón chùn không đạt chuẩn; trống chầu bị lạm dụng, thiếu vắng những quan viên sành sỏi am hiểu lề lối; nghệ thuật múa ca trù gần như bị thất truyền hoặc giản lược tối đa.
- Khảo sát các kỳ Liên hoan ca trù Hà Nội và Liên hoan ca trù toàn quốc: Đánh giá thể lệ, quy chế chấm thi, thành phần ban giám khảo, cơ cấu giải thưởng; phản ánh hiện tượng chạy theo số lượng tiết mục, trao giải tràn lan dẫn đến đánh giá sai lệch năng lực thực tế của đào kép trẻ.
Chương 4: Đánh giá, bàn luận về biến đổi của ca trù Hà Nội
Chương 4 (40 trang) áp dụng lý thuyết biến đổi văn hóa để phân tích bản chất, quy luật và hệ quả của sự vận động của ca trù trong đời sống đương đại:
- Nhận diện các biến đổi phù hợp: Sự phục hồi mô hình câu lạc bộ giúp tập hợp những người yêu nghệ thuật cổ truyền; việc đưa ca trù vào biểu diễn phục vụ du lịch tại phố cổ Hà Nội, phố đi bộ, trung tâm văn hóa tạo không gian tiếp cận mới cho công chúng; việc tổ chức định kỳ các kỳ liên hoan tạo phong trào chấn hưng di sản; công tác xã hội hóa giúp tạo nguồn kinh phí duy trì hoạt động cho nghệ nhân.
- Nhận diện các biến đổi chưa phù hợp và nguy cơ: Xu hướng "phổ cập hóa" và "đại chúng hóa" làm biến dạng bản chất âm nhạc thính phòng tinh tế; việc đốt cháy giai đoạn học nghề tạo ra một thế hệ đào nương hát non nớt, kép đàn thiếu chuẩn mực; sự phụ thuộc vào sân khấu hóa và micro làm mất đi không gian tĩnh tại nguyên bản của ca trù; nguy cơ đứt gãy hoàn toàn truyền thống khi các nghệ nhân bậc thầy cuối cùng qua đời mà không kịp truyền dạy trọn vẹn vốn cổ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị: Luận án đưa ra các nhóm khuyến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và ban chủ nhiệm các câu lạc bộ nhằm chuẩn hóa giáo trình, kiểm định nghiêm ngặt chất lượng đào tạo, đổi mới phương thức tổ chức liên hoan theo hướng thực chất, đồng thời thiết lập chính sách đãi ngộ xứng đáng cho nghệ nhân nhằm đưa ca trù từng bước thoát khỏi tình trạng bảo vệ khẩn cấp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghệ thuật ca trù dưới góc độ tính nguyên hợp của văn hóa dân gian; làm rõ mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời giữa bốn thành tố thơ - ca - nhạc - múa trong môi trường diễn xướng truyền thống.
- Làm sáng tỏ quy luật vận động và biến đổi của ca trù Hà Nội như một tất yếu lịch sử để thích ứng với từng giai đoạn phát triển của xã hội Việt Nam từ thời phong kiến, thời kỳ thuộc địa, giai đoạn chiến tranh tập thể hóa cho đến thời kỳ kinh tế thị trường đương đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phác họa bức tranh thực trạng hoạt động ca trù Hà Nội suốt giai đoạn 30 năm (1990 - 2021) dựa trên dữ liệu điền dã khảo sát 17 câu lạc bộ, giáo phường/nhóm và hệ thống các kỳ liên hoan nghệ thuật.
- Phân định ranh giới giữa những biến đổi thích hợp có giá trị bảo tồn và những biến đổi tiêu cực, lai căng làm sai lệch lề lối cổ truyền; chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng "đại chúng hóa" và chất lượng suy giảm của đào kép kế cận.
- Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng và hệ thống thuật ngữ nghề nghiệp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ca trù tại các trường nghệ thuật; đề xuất các giải pháp quản lý văn hóa cụ thể cho các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ và chấn hưng di sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn nghiên cứu trọng tâm tập trung tại khu vực Hà Nội mở rộng, chưa thể mở rộng khảo sát điền dã chuyên sâu tại toàn bộ 17 tỉnh, thành phố có sinh hoạt ca trù trên toàn quốc theo hồ sơ di sản đệ trình UNESCO. Khung thời gian khảo sát thực nghiệm kết thúc ở mốc năm 2021.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng về sự biến đổi của ca trù giữa trung tâm đô thị Hà Nội với các vùng nôi cổ truyền khác như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh; nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp chuẩn hóa sư phạm âm nhạc ca trù để tích hợp vào hệ thống giáo dục đại học và trung cấp nghệ thuật chuyên nghiệp.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Công trình hữu ích đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa dân gian, Văn hóa học, Âm nhạc học, Quản lý văn hóa; các giảng viên, nghệ sĩ, ca nương, kép đàn tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật truyền thống; các nhà quản lý văn hóa tại Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội và Cục Di sản văn hóa.
- Nội dung tham khảo đáng giá: Hệ thống tư liệu phân tích kỹ thuật chuyên sâu (khổ phách, khổ đàn, kỹ thuật thanh nhạc hơi trong, nảy hạt, ngón chùn); danh mục tư liệu Hán Nôm và văn bia liên quan đến giáo phường; bức tranh dữ liệu thực địa về 17 tổ chức câu lạc bộ và các kỳ liên hoan ca trù tại Hà Nội.
Câu hỏi thường gặp
-
Theo luận án, ca trù chính thức định hình thành một bộ môn nghệ thuật hoàn chỉnh từ thời điểm nào trong lịch sử?
Luận án căn cứ vào 9 bài văn "Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào" (Bát xã thưởng đào văn) của Lê Đức Mao (1462 - 1529) có chứa các từ khóa "ca trù", "đào nương", "sênh", "giáo phường" để khẳng định ca trù đã là một bộ môn nghệ thuật hoàn chỉnh từ nửa sau thế kỷ XV (thời Hậu Lê).
-
Dàn nhạc thính phòng ca trù truyền thống gồm những nhạc cụ nào và quy cách âm thanh ra sao?
Dàn nhạc thính phòng gồm 3 nhạc cụ: phách của đào nương (gồm bàn phách bằng tre/gỗ, lá phách đơn và tay ba kép bằng gỗ trai hoặc trắc, phát ra âm rụp, phách, chát); đàn đáy của kép đàn (cần dài gắn 16 phím to, thùng gỗ ngô đồng không đáy, mắc 3 dây tơ, tầm âm hơn 2 quãng 8 từ Rê đến Đô3, sử dụng ngón chùn và ngón mượn); trống chầu của quan viên (tang mít cao 18 cm, hai mặt da trâu đực đường kính 15 cm, roi chầu dẻo dài 70 - 80 cm, đánh ra tiếng tom và tiếng chát).
-
Nguyên nhân lịch sử nào khiến ca trù bị gián đoạn sinh hoạt từ sau năm 1945 đến trước năm 1986?
Do định kiến xã hội thời kỳ đầu thế kỷ XX gắn ca trù với tệ nạn ăn chơi tại các nhà hát cô đầu, sau năm 1945 ca trù bị coi là tàn dư của chế độ phong kiến và bóc lột. Trải qua ba giai đoạn: phong trào "Đời sống mới" (1954 - 1965) bài trừ hủ tục và cấm đoán lễ hội; nếp sống thời chiến (1966 - 1975) phải sơ tán và ưu tiên kháng chiến; giai đoạn khủng hoảng kinh tế theo cơ chế "ba lợi ích" (1976 - 1986), các môi trường diễn xướng như hát cửa đình, hát ca quán bị triệt tiêu hoàn toàn, khiến các giáo phường tan rã và đào kép phải giấu nghề tìm kế sinh nhai khác.
-
Khảo sát thực địa của luận án được thực hiện trên quy mô và đối tượng cụ thể nào?
Luận án khảo sát thực địa tại 17 câu lạc bộ, giáo phường/nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội mở rộng trong giai đoạn 1990 - 2021; tiến hành phỏng vấn sâu hơn 60 cá nhân với hàng trăm lượt tiếp xúc (gồm các nghệ nhân lão thành như Quách Thị Hồ, Phạm Thị Mùi, Vũ Thị Vóc, Nguyễn Thị Chúc, Phó Thị Kim Đức, Chu Văn Du, Phó Đình Kỳ, Nguyễn Phú Đẹ...), kết hợp khảo sát hồ sơ của toàn bộ các kỳ Liên hoan ca trù Hà Nội và Liên hoan ca trù toàn quốc.
-
Luận án chỉ ra những biểu hiện sai lệch chính nào trong nghệ thuật diễn xướng ca trù đương đại?
Các biểu hiện sai lệch gồm: tình trạng "phổ cập hóa" và "đại chúng hóa" khiến đào kép học vội vã; ca nương hát nông ngoài miệng (hơi ngoài), đánh mất kỹ thuật ém hơi, láy chìm và nảy hạt; kép đàn bấm phím nông (gân nổi), ngón đàn hời hợt, không thể hiện được kỹ thuật chùn dây; quan viên cầm chầu đánh tùy tiện, thiếu hiểu biết văn chương và bài bản; nghệ thuật múa ca trù truyền thống (như múa Bài bông, múa bỏ bộ) gần như bị loại bỏ khỏi sinh hoạt thực hành.
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự biến đổi của ca trù tại Hà Nội trong giai đoạn phục hồi 30 năm (1990 - 2021) dựa trên lý thuyết tính nguyên hợp văn hóa dân gian và lý thuyết biến đổi văn hóa. Bằng phương pháp điền dã thực chứng và quan sát tham dự từ vị thế của một đào nương thực hành lâu năm, tác giả đã phục dựng các giá trị chuẩn mực của ca trù truyền thống, đồng thời chỉ ra thực trạng hai mặt thích hợp và bất cập trong đời sống đương đại. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, góp phần định hướng công tác bảo tồn đúng lề lối cổ truyền nhằm đưa ca trù từng bước thoát khỏi danh mục di sản cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO.