Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội do nghiên cứu sinh Lê Thị Bạch Vân thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Huyền Nga, thuộc ngành Văn hóa dân gian (mã số: 9229041).
| Thông tin tổng quan |
Nội dung chi tiết |
| Đề tài |
Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội |
| Tác giả |
Lê Thị Bạch Vân |
| Người hướng dẫn |
PGS. Bùi Huyền Nga |
| Cơ sở đào tạo |
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam |
| Ngành & Mã số |
Văn hóa dân gian — 9229041 |
| Năm bảo vệ |
2022 |
| Khung thời gian khảo sát |
1990 – 2021 |
| Địa bàn nghiên cứu |
Hà Nội (các quận, huyện nội ngoại thành mở rộng) |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ca trù là loại hình nghệ thuật diễn xướng có lịch sử lâu đời của người Việt, tích hợp cả yếu tố dân gian lẫn bác học. Trong lịch sử, Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội là trung tâm định hình và phát triển ca trù với nhiều giáo phường, đào kép và tác phẩm văn học hát nói. Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, dưới tác động của lối sống đô thị thời thuộc địa, các nhà hát cô đầu phát triển nhanh (năm 1938, Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2.000 cô đầu tại Khâm Thiên, Ngã Tư Sở), làm nảy sinh lối sinh hoạt thương mại hóa và làm biến dạng tính chất nghiêm ngặt của nghệ thuật truyền thống.
Sau năm 1945 đến trước năm 1986, do biến đổi thể chế, nếp sống thời chiến và các đợt vận động bài trừ hủ tục xem ca trù là tàn dư phong kiến, không gian diễn xướng bị triệt tiêu, giáo phường tan rã, đào kép phải chuyển sang làm các công việc khác để mưu sinh. Từ sau thời kỳ Đổi mới (1986), sự phục hồi bắt đầu với việc thành lập Câu lạc bộ (CLB) Ca trù Hà Nội (1990–1991) và Liên hoan Ca trù Hà Nội mở rộng năm 2000. Tháng 10 năm 2009, UNESCO ghi danh Ca trù vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
Tuy nhiên, quá trình phục hồi đương đại làm xuất hiện hiện tượng "phổ cập hóa", "đại chúng hóa", dẫn đến tình trạng sai lệch chuẩn mực kỹ thuật diễn xướng và không gian trình diễn, trong bối cảnh các nghệ nhân am hiểu lề lối cổ truyền dần qua đời. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có một công trình chuyên khảo nào khảo sát toàn diện thực trạng biến đổi của ca trù tại Hà Nội suốt hơn 30 năm (1990–2021) dựa trên cách tiếp cận tính nguyên hợp của văn hóa dân gian để phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp bảo tồn thích hợp.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội, luận án hướng tới mục đích luận giải những biến đổi và xu hướng phát triển của ca trù trong cuộc sống đương đại nhằm phát huy những giá trị thích hợp, hạn chế những biến đổi chưa phù hợp của ca trù tại Hà Nội trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 3 nhiệm vụ:
- Khảo sát về ca trù truyền thống và đương đại tại Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội thông qua các cuộc liên hoan ca trù và các câu lạc bộ, giáo phường/nhóm ca trù diễn ra trên địa bàn.
- Tổng kết những biến đổi thích hợp và chưa phù hợp; bàn luận về những biến đổi đó trong xu thế phát triển của xã hội mới.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu:
- Đặc trưng của ca trù truyền thống được biểu hiện ở các yếu tố nào?
- Sự biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội được thể hiện ở những nội dung nào?
- Qui luật của sự biến đổi và xu thế phát triển của ca trù tại Hà Nội trong thời gian tới?
Giả thuyết nghiên cứu: Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội, so với ca trù xưa được biểu hiện ở tất cả các lĩnh vực, từ nghệ thuật diễn xướng đến chủ thể thực hành, trong đó có biến đổi cả về chất lẫn về lượng. Qui luật của sự biến đổi là đương nhiên và có xu hướng phát triển theo chiều rộng; chất lượng của nghệ thuật ca trù cần tiếp tục được quan tâm để đưa ca trù thoát khỏi danh mục "bảo vệ khẩn cấp".
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những biến đổi của ca trù trên các khía cạnh: (1) biến đổi về nghệ thuật diễn xướng, (2) biến đổi về môi trường diễn xướng, (3) biến đổi về đối tượng thực hành ca trù, (4) biến đổi về cách truyền dạy và học ca trù.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội mở rộng (gồm các quận huyện nội thành và ngoại thành có hoạt động CLB, giáo phường, nhóm ca trù), có mở rộng phạm vi so sánh sang các địa phương lân cận khi cần thiết.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2021 (tính từ mốc thành lập CLB Ca trù Hà Nội đầu tiên sau thời gian gián đoạn).
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận tính nguyên hợp của văn hóa dân gian để đối sánh ca trù đương đại với ca trù truyền thống.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại lịch sử nghiên cứu ca trù thành hai nhóm công trình chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu về ca trù
- Giai đoạn đầu thế kỷ XX: Các bài khảo cứu mô tả môi trường sinh hoạt và văn chương như Văn chương trong lối hát Ả đào của Phạm Quỳnh, Hát Ả đào (1923) của Phạm Văn Duyệt, Hát Ả đào (1933) của Tú Tài Hà Liên, Khảo luận về cuộc hát ả đào của Nguyễn Đôn Phục, Văn chương hát nói (1932) của Nguyễn Văn Ngọc, Ca nhạc phòng của Phạm Duy (in trong Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam).
- Nhóm khảo cứu âm nhạc chuyên biệt: Loạt bài của Nguyễn Xuân Khoát trên báo Ngày nay và tạp chí Thanh Nghị (1940–1944) gồm Hát Ả đào, Trống chầu, Tiếng hát của đào nương, Hát cửa đình, tập trung vào tiết tấu, khổ phách, khổ đàn.
- Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX: Việt Nam ca trù biên khảo (1962) của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề khảo cứu lịch sử, thể cách hát cửa đình, hát chơi và chức năng văn hóa; Tuyển tập thơ ca trù (1987) của Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú; các bài viết của Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thụy Loan, Nguyễn Hữu Mùi, Trần Kim Anh.
- Các công trình học thuật từ năm 2000 trở đi: Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù (2000) và luận án tiến sĩ Nguồn tư liệu Hán Nôm với việc nghiên cứu ca trù (2007) của Nguyễn Xuân Diện; luận án tiến sĩ Thể loại Hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học (2000) và sách Ca trù Hà Nội trong lịch sử và hiện tại (2010) của Nguyễn Đức Mậu; bộ sách 1000 năm Âm nhạc Thăng Long - Hà Nội (2010, tập 1); bài viết Đặc điểm âm nhạc ả đào (2008) của Phương Hoa; công trình Nhận diện khổ phách/ khổ đàn nhạc ả đào - phương pháp tiếp cận mới (2015–2019) của Bùi Trọng Hiền; luận văn cử nhân của Vũ Nhật Tân (1995); luận án tiến sĩ Âm nhạc ca trù ở Hà Nội (2019) của Nguyễn Hiền Đức; các luận văn thạc sĩ về môi trường diễn xướng của Nguyễn Thủy Tiên (2007), Đặng Thị Toan (2011 tại Thượng Mỗ), Phan Thị Duyên (2012 tại Lỗ Khê); các nghiên cứu của học giả nước ngoài như Barley Norton (1996), Gisa Jähnichen (1997), Aliénor Anisensel, Bùi Long (2019).
Nhóm các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của ca trù
- Tuyển tập Ca trù nhìn từ nhiều phía (2003) do Nguyễn Đức Mậu biên soạn;
- Đặc khảo ca trù Việt Nam (2006) của Đặng Hoành Loan, Phạm Minh Hương, Hồ Thị Hồng Dung (kết quả khảo sát 17 tỉnh thành phục vụ hồ sơ đệ trình UNESCO);
- Luận văn thạc sĩ Bảo tồn và phát huy ca trù trong đời sống đương đại (2012) của Vũ Thanh Thủy;
- Luận án tiến sĩ (2017) và sách Ca trù đất Hà Thành (2021) của Nguyễn Đức Thắng, khảo sát hoạt động biểu diễn của 3 CLB/giáo phường tiêu biểu tại Hà Nội đến năm 2016.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước phần lớn tập trung vào khía cạnh âm nhạc học thuần túy, lịch sử văn bản Hán Nôm, hoặc khảo sát hoạt động ở phạm vi hẹp. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát tổng thể và hệ thống hóa thực trạng biến đổi của ca trù tại Hà Nội trên cả 4 thành tố (nghệ thuật diễn xướng, môi trường diễn xướng, chủ thể thực hành, phương thức truyền dạy) trong suốt giai đoạn 30 năm (1990–2021) dưới góc nhìn tính nguyên hợp của văn hóa dân gian, chỉ rõ nguyên nhân của các biến đổi sai lệch và đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm
- Lý thuyết tính nguyên hợp của văn hóa dân gian: Dựa trên quan niệm của J. Thoms (1846) và Đinh Gia Khánh, xem văn hóa dân gian là một chỉnh thể hữu cơ liên kết mật thiết giữa nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật diễn xướng (thơ – ca – nhạc – múa) với môi trường văn hóa - xã hội. Luận án vận dụng lý thuyết này vào Chương 2 và Chương 3 để nhận diện ca trù truyền thống và khảo sát thực trạng 17 CLB, giáo phường, nhóm ca trù.
- Lý thuyết biến đổi văn hóa: Tiếp thu các luận điểm của Lê Hồng Lý và Đỗ Lan Phương về sự biến đổi văn hóa dưới tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa, truyền thông đại chúng và hội nhập quốc tế; được vận dụng vào Chương 4 nhằm giải thích các quy luật biến đổi văn hóa của ca trù đương đại.
- Hệ thống thuật ngữ chuyên môn:
- Tên gọi thể loại: Ca trù (hát thẻ thưởng tiền), Hát ả đào, Hát nhà tơ, Hát nhà trò (kết hợp múa bỏ bộ), Hát cô đầu (học trò trích tiền đầu phụng dưỡng thầy dạy), Hát cửa đình (hát thờ thần), Hát cửa quyền (nữ nhạc cung đình), Hát ca công, Hát gõ.
- Kỹ thuật diễn xướng: Hát khuôn / đàn khuôn (đúng khuôn phép, chuẩn mực dùng trong hát thờ và hát thi); Hát hàng huê / đàn hàng huê (lối hát đàn ngẫu hứng, bay bướm trong hát chơi); Hơi trong (nuốt hơi vào, nhấc lưỡi gà, ém hơi phát âm sâu trong ruột/thổ can tràng); Hơi ngoài / hát ngoài miệng (thả hơi nông ở khoang miệng, không có độ sâu); Láy chìm (khống chế cường độ, ém chữ xuống rồi đẩy lên); Đổ hột / nảy hạt (dùng độ rung thanh hầu ém ngắt âm, tạo hiệu ứng nháy đúp); Đổ con kiến / ngân hơi con kiến (kỹ thuật ngắt thanh hầu liên tục tạo chuỗi âm lượn sóng); Gân chìm / gân nổi, Ngón chùn (chùng), Ngón mượn trên đàn đáy.
- Khái niệm bổ trợ: Diễn xướng (theo Richard Bauman, Kiều Trung Sơn, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Thụy Loan), Truyền thống (theo Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh), Đời sống đương đại, Câu lạc bộ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Xử lý hệ thống văn bia Hán Nôm (đặc biệt 33 văn bia tại vùng Hà Tây cũ liên quan giáo phường ca trù), các thư tịch cổ (Bát xã thưởng đào văn, Việt sử tiêu án, Công dư tiệp ký) và tài liệu nghiên cứu hiện đại.
- Phương pháp điền dã, quan sát tham dự: Nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia với tư cách đào nương gần 40 năm kinh nghiệm, học trò của các nghệ nhân tiền bối, sáng lập CLB Ca trù Hà Nội và điều hành hoạt động tại Bích Câu đạo quán gần 20 năm.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp hơn 60 nghệ nhân, nghệ sĩ, người cầm chầu, nhà nghiên cứu và nhà quản lý (trong đó có NSND Quách Thị Hồ, nghệ nhân Phó Thị Kim Đức, nghệ nhân Chu Văn Du, nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ, nghệ nhân Phạm Thị Mùi, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc...).
- Phương pháp thống kê: Thu thập số liệu, thống kê định lượng về cơ cấu tổ chức, người thực hành, hoạt động đào tạo và biểu diễn tại 17 CLB/giáo phường/nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu lịch đại giữa nghệ thuật diễn xướng, môi trường diễn xướng truyền thống và đương đại.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn hóa dân gian với văn hóa học, âm nhạc học, văn bản học và quản lý văn hóa.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có tổng dung lượng chính văn 153 trang (chưa kể phần Mở đầu 7 tr., Kết luận 2 tr., Tài liệu tham khảo 10 tr. và Phụ lục 81 tr.), được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về ca trù
Nội dung chương (26 trang) tập trung tổng thuật các nhóm công trình nghiên cứu, xác lập khung lý thuyết (tính nguyên hợp văn hóa dân gian và biến đổi văn hóa), hệ thống hóa các thuật ngữ chuyên môn và khái quát tiến trình lịch sử ca trù qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn ra đời (thế kỷ X) và định hình (thế kỷ XV – XVII thời Hậu Lê): Điểm lại các giả thuyết ra đời thời Lý (vua Lý Thái Tổ lập chức quản giáp năm 1025), thời Trần thế kỷ XIV (ả Hàn Than trong Truyền kỳ mạn lục), và thời điểm định hình hoàn chỉnh vào thế kỷ XV thời Lê với tư liệu Bát xã thưởng đào văn (1462–1529) của Lê Đức Mao cùng sự tích tổ cô đầu Đinh Lễ ở Cổ Đạm sáng chế đàn đáy; kết hợp minh chứng mỹ thuật chạm khắc đàn đáy thế kỷ XVI tại đình Lỗ Hạnh, đình Tây Đằng, chùa Cót.
- Giai đoạn phát triển (thế kỷ XVII – XIX thời Lê - Nguyễn): Giáo phường hoàn thiện tổ chức gắn với thiết chế làng xã thể hiện qua văn bia Hán Nôm (riêng Hà Tây cũ có 33 văn bia). Thế kỷ XIX đánh dấu đỉnh cao văn chương âm nhạc với sự hoàn thiện thể thơ hát nói qua các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Bá Xuyến.
- Giai đoạn suy thoái và phục hồi (thế kỷ XX): Đầu thế kỷ XX phát triển mạnh dạng nhà hát cô đầu thành thị (năm 1938 Hà Nội có 216 nhà hát, 2.000 cô đầu); sau 1945 bị đình trệ do quan niệm xem là tàn dư phong kiến và trải qua các giai đoạn "Đời sống mới" (1954–1965), thời chiến (1966–1975), cơ chế "ba lợi ích" (1976–1986). Giai đoạn sau 1986 bắt đầu hồi phục với việc thành lập CLB Ca trù Hà Nội (1990–1991).
Chương 2: Nghệ thuật ca trù truyền thống Hà Nội
Chương 2 (42 trang) phân tích chỉnh thể nguyên hợp của ca trù truyền thống:
- Thành tố thơ: Thể hát nói đủ khổ gồm 11 câu (khổ đầu 4 câu, khổ giữa 4 câu, khổ xếp 3 câu), cùng các thể thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn tứ tuyệt; là sự phối hợp giữa ngôn ngữ bác học và dân gian.
- Thành tố ca: Kỹ thuật phát âm "hơi trong", ém chữ, lấy hơi kín, kỹ thuật rung ngắt "đổ hột", "ngân hơi con kiến", nhả chữ tròn vành rõ chữ theo lối "hát khuôn".
- Thành tố nhạc và biên chế nhạc khí:
- Phách: Bàn phách tre/gỗ kết hợp lá phách đơn và tay ba kép, phát ra âm sắc rụp – phách – chát (ký hiệu P, RP, C). Hệ thống 5 khổ phách chuẩn mực gồm: khổ sòng đầu, khổ giữa (rải), khổ xiết, khổ lá đầu, khổ sòng kiệt.
- Đàn đáy: Nhạc cụ 3 dây bằng tơ, cần dài, 16 phím to bằng gỗ ngô đồng, không dùng dây buông, đặc trưng bởi kỹ thuật ngón chùn (chùng) và ngón mượn, cùng hệ thống 5 khổ đàn tương ứng với phách.
- Trống chầu: Nhạc cụ thẩm âm và thưởng phạt của quan viên với các khổ trống tom – chát định hình theo quy cách.
- Tổ chức dàn nhạc hát cửa đình xưa có thêm trường cùng, phách quán tiền, đan diện cổ; trong cung đình sử dụng dàn bát âm quy mô lớn; hát chơi thính phòng tinh gọn còn 3 thành tố: đào nương (hát + phách), kép đàn (đàn đáy), quan viên (trống chầu).
- Môi trường diễn xướng: Phân định không gian hát cửa đình (hát thờ thánh hoàng), hát cửa quyền (cung đình), hát chơi (nhà quan, nhà dân, ca quán).
- Chủ thể thực hành và thiết chế giáo phường: Đào nương, kép đàn, quan viên; cơ chế truyền nghề khắt khe trong giáo phường, lễ mở xiêm áo công nhận đào nương chính thức vào nghề.
| Thành tố diễn xướng |
Đặc điểm kỹ thuật truyền thống |
Nhạc cụ / Phương tiện |
| Thơ |
Hát nói đủ khổ (11 câu: đầu 4, giữa 4, xếp 3), lục bát, song thất lục bát |
Văn bản thi ca bác học và dân gian |
| Ca |
Hơi trong, ém chữ láy chìm, đổ hột, đổ con kiến, hát khuôn |
Thanh quản đào nương |
| Phách |
5 khổ: sòng đầu, khổ giữa (rải), khổ xiết, khổ lá đầu, sòng kiệt |
Bàn phách, lá phách, tay ba (rụp, phách, chát) |
| Đàn |
5 khổ đàn, không dùng dây buông, ngón chùn (chùng), ngón mượn |
Đàn đáy 16 phím, thùng gỗ ngô đồng |
| Trống |
Điểm câu, thưởng phạt, đánh đúng lề lối (tom, chát) |
Trống chầu và roi chầu của quan viên |
Chương 3: Thực trạng ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội
Chương 3 (34 trang) phản ánh kết quả khảo sát thực tế tại 17 CLB, giáo phường, nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội:
- Biến đổi nghệ thuật diễn xướng: Kỹ thuật hát bị đơn giản hóa, đào nương trẻ chuyển sang lối hát "hơi ngoài" (phát âm ngoài miệng), phát âm thiếu độ sâu, mất dần kỹ thuật đổ hột và ngân con kiến; kỹ thuật đàn đáy bị lược bỏ các ngón chùn sâu; tiếng phách thiếu độ chắc, trượt khỏi khổ phách quy định.
- Biến đổi môi trường diễn xướng: Chuyển dịch từ không gian thính phòng và cửa đình truyền thống sang sân khấu hóa, hội trường, nhà văn hóa, phố đi bộ, biểu diễn phục vụ du lịch với thời lượng bị cắt ngắn, mất đi tính tương tác tĩnh lặng giữa người hát và người nghe.
- Chủ thể thực hành và vấn đề truyền dạy: Người cầm chầu đương đại phần lớn không nắm được âm luật và cách điểm trống; mô hình đào tạo chuyển từ "kèm cặp truyền khẩu trực tiếp, lâu năm" sang các lớp học tập trung ngắn hạn mang tính bề nổi; giáo trình và phương pháp truyền dạy thiếu thống nhất.
- Công tác đánh giá và xét tặng danh hiệu: Phân tích những bất cập trong thành phần ban giám khảo các kỳ liên hoan ca trù (thiếu chuyên gia am hiểu lề lối cổ) và các vướng mắc trong quy trình xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú (NNƯT), Nghệ nhân nhân dân (NNND).
Chương 4: Đánh giá, bàn luận về biến đổi của ca trù Hà Nội
Chương 4 (40 trang) luận giải các chiều hướng biến đổi và đề xuất kiến nghị:
- Những biến đổi tích cực: Ca trù được phục hồi sau thời gian dài gián đoạn; thành lập được nhiều CLB, giáo phường; thu hút sự quan tâm của giới trẻ và các tổ chức quốc tế; nâng cao ý thức bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
- Những biến đổi dẫn đến sai lệch truyền thống: Xu hướng "sân khấu hóa", "phổ cập hóa" làm nhạt nhòa tính chất thính phòng bác học; sai lệch kỹ thuật phát âm, đàn, phách; hiện tượng thương mại hóa phục vụ du lịch tạo ra các tiết mục chắp vá.
- Các yếu tố tác động: Tác động của cơ chế thị trường, sự thay đổi nhu cầu thẩm mỹ đô thị, mặt trái của công tác quản lý văn hóa nặng về phong trào, sự đứt gãy thế hệ khi các nghệ nhân cao tuổi qua đời mà chưa kịp chuyển giao toàn diện bài bản cổ.
- Khuyến nghị: Chuẩn hóa chương trình truyền dạy; phục hồi không gian diễn xướng thính phòng đúng chuẩn; nâng cao năng lực chuyên môn của ban giám khảo liên hoan; hoàn thiện chính sách đãi ngộ nghệ nhân; xây dựng quy chuẩn đánh giá để đưa ca trù thoát khỏi tình trạng bảo vệ khẩn cấp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tính nguyên hợp của văn hóa dân gian và lý thuyết biến đổi văn hóa áp dụng chuyên sâu cho loại hình ca trù tại địa bàn trung tâm Hà Nội.
- Xác lập hệ thống tiêu chí khoa học nhằm nhận diện các giá trị chuẩn mực của ca trù truyền thống (từ kỹ thuật thanh nhạc, khí nhạc, văn chương đến môi trường diễn xướng và thiết chế giáo phường).
- Luận giải có căn cứ khoa học về tính hai mặt của quá trình biến đổi di sản trong xã hội hiện đại: phân định rõ biến đổi thích nghi hợp quy luật và những biến đổi làm sai lệch bản sắc cốt lõi.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh khảo sát thực địa toàn diện về hoạt động của 17 CLB, giáo phường, nhóm ca trù tại Hà Nội trong giai đoạn 1990–2021.
- Chỉ ra cụ thể các biểu hiện sai lệch kỹ thuật diễn xướng (hát ngoài miệng, mất ngón chùn đàn đáy, trượt khổ phách, đánh trống chầu sai quy cách) đang phổ biến ở thế hệ thực hành trẻ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị quản lý đối với cơ quan quản lý văn hóa: chuẩn hóa khâu đào tạo truyền nghề, đổi mới tiêu chí chấm thi liên hoan, nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ nghệ nhân, nhằm bảo tồn ca trù đúng chuẩn mực truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu trên địa bàn Hà Nội mở rộng trong mốc thời gian 1990–2021; nguồn tư liệu phỏng vấn nghệ nhân lão thành gặp giới hạn tự nhiên do nhiều nghệ nhân cao tuổi đã qua đời trong quá trình tác giả thực hiện đề tài.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh biến đổi ca trù tại các không gian di sản khác (như Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh); đi sâu phân tích âm nhạc học cấu trúc các thể cách cổ có nguy cơ thất truyền; nghiên cứu mô hình kết hợp bảo tồn ca trù chuẩn mực trong không gian du lịch văn hóa bền vững.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho giảng viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Văn hóa dân gian, Văn hóa học, Âm nhạc học và Quản lý văn hóa.
- Đối với cơ quan quản lý văn hóa: Cung cấp cơ sở thực tiễn để các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Cục Di sản văn hóa) xây dựng chính sách bảo tồn di sản, tổ chức các kỳ liên hoan ca trù và xét tặng danh hiệu nghệ nhân đúng tiêu chí chuyên môn.
- Đối với các nghệ sĩ và câu lạc bộ ca trù: Cung cấp tài liệu tham khảo về kỹ thuật đàn khuôn, hát khuôn, quy cách giữ hơi trong, kỹ thuật đổ hột và lề lối gõ phách chuẩn mực của nghệ nhân xưa.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "Ca trù" bắt nguồn từ đâu và có những tên gọi nào khác trong lịch sử?
Theo giải thích của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trong Việt Nam ca trù biên khảo, chữ "trù" là thẻ tre dài khoảng 20cm dùng để đánh dấu tiền thưởng trong các cuộc hát thờ thần tại đình, đền; khi đào nương hát hay, quan viên đánh trống thưởng kèm ném thẻ vào chậu đồng, cuối buổi quy đổi thẻ ra tiền mặt, nên gọi là "ca trù" (hát thẻ). Ngoài ra, thể loại này còn có các tên gọi: Hát ả đào (gắn với tên gọi đào nương họ Đào thời Lý hoặc thời Hồ), Hát nhà tơ (hát trong dinh quan/ty quan), Hát nhà trò (hát kết hợp múa trò bỏ bộ), Hát cô đầu (học trò trích tiền đầu đi hát phụng dưỡng thầy dạy), Hát cửa đình (hát thờ trước ban thờ công đồng), Hát cửa quyền (nữ nhạc cung đình thời Lê), Hát ca công và Hát gõ.
2. Vì sao ca trù bị gián đoạn sinh hoạt trong giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1986?
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ca trù bị dẹp bỏ do bị quy kết là tàn dư của chế độ phong kiến và chịu ảnh hưởng tiêu cực từ định kiến xã hội đối với lối sinh hoạt nhà hát cô đầu thời thuộc địa. Trong các giai đoạn xây dựng "Đời sống mới" (1954–1965), "nếp sống thời chiến" (1966–1975) và cơ chế "ba lợi ích" (1976–1986), việc cấm đoán các hoạt động tín ngưỡng đình đền khiến không gian hát thờ, hát cửa quyền và ca quán bị triệt tiêu, các giáo phường tan rã, đào kép phải giấu nghề và chuyển sang làm nghề lao động khác để sinh nhai.
3. Kỹ thuật hát "hơi trong" và "đổ hột" của đào nương truyền thống có đặc điểm gì?
- Hơi trong (nuốt hơi vào): Đào nương nhấc lưỡi gà lên, miệng chỉ hơi hé mở để hơi lọt qua kẽ răng từ từ, ém hơi phát âm sâu từ trong ruột (thổ can tràng), tạo ra âm thanh có độ sâu và độ nén lớn; đối lập với hơi ngoài / hát ngoài miệng là lối hát thả hơi nông ở miệng.
- Đổ hột (nảy hạt): Kỹ thuật sử dụng độ rung của thanh hầu ngắt hơi liên tục sau khi nhả chữ. Đào nương ngậm miệng đưa hơi lên mũi rung hạt, tạo ra âm thanh ngắt dứt khoát, chắc nịch, có âm phụ tự nhiên tạo hiệu ứng nháy đúp đặc trưng.
4. Nhạc cụ đàn đáy trong ca trù có cấu tạo và kỹ thuật diễn tấu đặc thù nào?
Đàn đáy có cần dài, thùng đàn bằng gỗ ngô đồng, gắn 16 phím to bằng gỗ trên cần đàn. Người chơi không bao giờ sử dụng dây buông mà chỉ gảy khi ngón tay trái đã bấm vào phím. Đàn đáy có hai kỹ thuật tay trái đặc trưng: ngón chùn (chùng) (vừa bấm dây vừa miết nhanh về phía ngựa đàn làm âm thanh chùng thấp xuống) và ngón mượn (bấm một âm rồi nhấn sâu xuống trước khi gảy để tạo âm cao hơn). Đàn đáy có 5 khổ đàn tương ứng với 5 khổ phách của đào nương.
5. Những biểu hiện biến đổi sai lệch truyền thống của ca trù tại Hà Nội đương đại là gì?
Luận án chỉ ra các biểu hiện sai lệch chính: (1) Đào nương trẻ hát bằng "hơi ngoài", phát âm nông ngoài miệng, mất kỹ thuật ém hơi láy chìm và đổ hột; (2) Kép đàn thiếu ngón chùn sâu, tiếng đàn nông; (3) Gõ phách trượt khổ, sai tiết tấu cơ bản; (4) Người cầm chầu không nắm vững âm luật, điểm trống tùy tiện; (5) Sân khấu hóa và thương mại hóa phục vụ du lịch làm cắt vụn bài bản, mất không gian thưởng thức thính phòng tĩnh lặng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội của Lê Thị Bạch Vân là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Văn hóa dân gian, tiếp cận ca trù như một hiện tượng văn hóa mang tính chỉnh thể nguyên hợp. Tác giả đã hệ thống hóa lịch sử hình thành, nhận diện các giá trị nghệ thuật truyền thống chuẩn mực, đồng thời khảo sát thực trạng hoạt động tại 17 CLB, giáo phường, nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội suốt giai đoạn 1990–2021. Công trình phân tích rõ nguyên nhân của các biến đổi tích cực và biến đổi sai lệch trong bối cảnh đương đại, cung cấp hệ thống khuyến nghị khoa học nhằm phục vụ công tác quản lý, đào tạo và bảo tồn di sản ca trù thoát khỏi tình trạng bảo vệ khẩn cấp.