PHẦN MỞ ĐẦU GIÁO TRÌNH NỘI BỘ 1. Tên học phần: Văn hóa dân gian Việt Nam 2. Mã số môn học: 3. Số đơn vị học trình: 03 4.
Mục đích môn học: - Cung cấp kiến thức về văn hóa dân gian cho sinh viên, giúp các em hiểu được văn hóa dân gian là một trong những hệ giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc. | - Học phần không chỉ góp phần khơi dậy tình yêu đối với di sản văn hóa đân. gian mà còn giúp sinh viên có kỹ năng bảo tồn cho đúng các giá trị nguyên bản, phát triển thêm các giá trị tốt đẹp để làm phong phú đời sống tỉnh thần của dân tộc. Yêu cầu: - Về tri thức: Hiểu thấu đáo và nắm vững được các vấn đề như: khái niệm văn hóa dân gian; vai trò của văn hóa dân gian; văn hóa dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc; văn hóa dân gian — hệ giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc; những vấn đề đặt ra đối với việc phát huy và bảo tồn di sản văn hóa dân gian; các giải pháp để bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân gian; các thành tố văn hóa dân gian như văn học dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội.
- Về kỹ năng: Có kỹ năng lắng nghe, ghi chép, đặt câu hỏi tìm hiểu bài, kỹ năng thảo luận nhóm, kỹ năng tự nghiên cứu độc lập. - Về thái độ: Có thái độ trân trọng và tích cực phát huy các giá trị văn hóa dân gian của dân tộc. Phân bổ thời gian: Học phần gồm : 45 tiết - 3 đơn vị học trình - Phần lý thuyết: 30 tiết - Phân thực hành: 0 tiết - Thảo luận và làm bài tập: 15 tiết - Xêmina: 0 tiết 7. Giảng viên tham gia giảng dạy môn học TT Họ và tên Cơ quan công tác Chuyên ngành 1 | TS.
Lé Thi Anh Hoc vién Bao chi va Văn hóa Tuyên truyền học 2 | ThS. Nguyễn Thị Mỹ Linh Học viện Báo chí và Văn hóa Tuyên truyền học §. Điều kiện tiên quyết: Sinh viên đã được trang bị kiến thức của những môn học cơ bản của lý luận Mác — Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các môn kiến thức giáo dục đại cương. Nội dung môn học TT Nội dung Tổng Trong đó số tiết Lý Thao [| Tiêu thuyết | luận,bài | luận, tập kiểm tra 1 Bai 1: Nhap m6n văn hóa dân 5 4 1 gian Việt Nam 2_ |Bài 2: Văn hóa dân gian và bản| 4 3 I sắc văn hóa đân tộc | | 3 | Bài 3: Văn hóa dân gian — hệ giá 4 3 1 tri va biéu tuong của văn hóa dân tộc 4_ | Bài 4: Phát huy và bảo tôn di sản| 4 3 1 van hoa dan gian — nhimg van dé dat ra 5 |Bai 5: Các giải pháp bảo tôn | 4 3 0 1 | | phát huy các đi sản văn hóa dân gian 6 | Bai 6: Van hoc dân gian 6 3 3 Bài 7: Nghệ thuật dân gian 6 3 3 Bai §: Tri thức dân gian 6 4 2 Bài 9: Tín ngưỡng, phong tục, lễ 6 4 2 hội 10.
Phương pháp giảng dạy và học tập 10. Phương pháp giảng dạy - Vận dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, lấy sinh viên làm trung tâm, tiếp thu tỉnh hoa của phương pháp giảng dạy truyền thống kết hợp với đôi mới, tích cực hóa việc giảng đạy. | - Kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy cụ thể như: thuyết giảng, vấn đáp, thảo luận nhóm, nêu vẫn đề, hội thảo, tham quan tìm hiểu thực tế, cho sinh yiên viết tiểu luận. Phuong phap hoc tap - Sinh viên phải chăm chỉ, tích cực trong quá trình học tập như chú ý lắng nghe thầy cô giáo giảng bài, hướng dẫn học tập; ghi chép đầy đủ; mạnh dạn đặt câu hỏi; tham gia thảo luận nhóm; tự nghiên cứu giải quyết vấn đề.
| - Sinh viên phải chủ động trong việc tìm hiểu nhiều nguồn tư liệu khác nhau như sách, báo, mạng Internet; nghiên cứu tài liệu; tham dự các cuộc hội thảo; thâm nhập thực tế.Tổ chức, đánh giá môn học TT | Cách thức đánh giá | Trọng số 1 | Kiểm tra điều kiện _ 0,15 2 | Thao luận, thực hành (ThL) 0,10 3 | Tiểu luận 0,25 4 | Thihét mon 0,50 DMH= KTDK x Trong s6 + TL x Trong số + THM x Trọng số 3 12. Phương tiện vật chất đảm bảo Lớp học có hệ thống màn hình máy chiếu, micrô.Giảng viên có máy tính xách tay, đề cương bài giảng, giáo án; sinh viên có đề cương bài giảng môn học, tài liệu tham khảo. Tai liéu tham khao - Tài liệu bắt buộc: 1. Tập đề cương bài giảng Văn hóa dân gian Việt Nam 2.
Dao Duy Anh (2003), Viét Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin. - Tài liệu tham khảo: 1. Đào Duy Anh (1997), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa. Toan Ảnh (2005), Hội hè đình đám, quyên thượng, Nxb Trẻ.
Vũ Thế Bình (2005), Non nước Việt Nam, Nxb Hà Nội. Phan Kế Bính (2004), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Vi Ngọc Khánh (2008), Lễ hội Việt Nam, Nxb Thanh niên. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học.
Trần Việt Ngữ (1995), Về nghệ thuật sân khẩu, Nxb Sân khẩu. Hoàng Tiến Tựu (2001), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục. BÀI 1: NHẬP MÔN VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM 1.Văn hóa dân gian là một môn khoa học 1. Đối tượng nghiên cứu Việt Nam có một nền văn hóa dân gian rất lâu đời và phong phú.
Nhiều giá trị đã thuộc về quá khứ nhưng nhiều gía trị vẫn hiện hữu trong đời sống hôm nay. Văn hóa dân gian theo thuật ngữ quốc tế là folklore (có nghĩa là trí tuệ nhân dân), vốn có một phạm trù rất rộng, bao gồm toàn bộ kho tàng văn hóa vật thể và phi vat thé ma người bình dân đã sáng tạo nên, được lưu truyền gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Môn học ổi sâu nghiên cứu cơ sở hình thành và phát triển của văn hóa dân gian, đặc trưng và vị trí của văn hóa dân gian trong cấu trúc tổng thể của văn hóa Việt Nam, các loại hình văn hóa dân gian như văn học dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, phong tục, tập quán, lễ hội trong đời sống nhân dân. Việt Nam có 54 dân tộc anh em là 54 bản sắc văn hóa khác nhau, bên cạnh đó là.
những vùng không gian văn hóa chịu sự quy định của các yếu tố địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị. Ở đây, môn học ổi sâu nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị văn hóa dân gian của người Kinh là chủ yếu với vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Đây vốn là vùng văn hóa và chủ thể - khách thể văn hóa lâu đời nhất, có tính chất tiêu biểu cho cả dân tộc Việt Nam. Những vùng khác chỉ đề cập đến khi cần thiết hoặc khi có sự đối sánh, khác biệt đáng kê.
Phương pháp nghiên cứu Trước hết môn học áp dụng phương pháp luận khoa học dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác — Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các thành tố văn hóa dân gian được xem xét, nghiên cứu trong mối quan hệ phổ biến, luôn luôn vận động và được định hình trong điều kiện không gian, thời gian khác nhau. Những mối quan hệ giao lưu, tiếp biến là hiện tượng phổ biến, song nhân tố nội sinh của một nền văn hóa là nhân tổ quyết định.Các phương pháp nghiên cứu cụ thê được áp dụng là phương pháp mô tả, so ; : sánh, phương pháp phân tích lôgích, vận dụng tối đa tri thức liên ngành, đa ngành.Khái niệm văn hóa dân gian | Khái niệm văn hóa dân gian được các học giả nước ngoài dùng thuật ngữ folklore để định danh nó. Thuật ngữ folklore do hai từ tiếng Anh ghép lại: folk (nghĩa là nhân dân) và lore (nghĩa là kiến thức, trí khôn).
Folklore có nghĩa duy danh là “kiến thức của nhân dân”, “trí tuệ của nhân dân”. Thuật ngữ này do nhà sử học người Anh Uyliam Tôm đưa ra năm 1864 và đã sớm trở thành một thuật ngữ quốc tế. Từ “dân gian” ở đây có thể chỉ cả phạm vi lưu truyền (trong nhân dân), lực lượng sáng tác (của nhân dân) và đặc tính của loại hình (tính dân gian). Văn hóa dân gian cũng là thuật ngữ được dùng để phân biệt với văn hóa bác học.
Văn hóa dân gian là văn hóa truyền khâu, trải qua bao thế hệ nhiều tác phẩm mang tính dị bản. Văn hóa bác học do tầng lớp trí thức, những người có tài năng sáng tạo nên và hầu như không có tính dị bản — một trong những đặc trưng đề phân biệt với văn hóa dân gian. Có thể nói: Văn hóa dân gian là toàn bộ các sản phẩm văn hóa vật thé va phi vật thể mà người bình dân đã sáng tạo nên từ thời nguyên thủy cho đến nay, được lưu truyền từ thế hệ nảy sang thé hệ khác. Toàn bộ kho tàng văn học dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội.đều thuộc phạm trù văn hóa - dân gian.
Văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc Từ khi có con người xuất hiện thì văn hóa dân gian cũng bắt đầu được hình thành. Văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc bắt đầu từ thời tiền sử, sơ sử, trải qua thời kỳ trung đại cho đến thời cận — hiện đại. Văn hóa dân gian thời kỳ tiền sử Thời kỳ tiền sử có thể tính từ khi con người bắt đầu có mặt cho tới khoảng thế kỷ I trước Công nguyên. Đây là thời kỳ hình thành cơ tang văn hóa bản địa của văn hóa Việt Nam.
Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người. Ít nhất cách đây 50 vạn năm, người vượn (Homo erectus) đã có mặt trên đất nước ta. Lúc bấy giờ con người sống trong trạng thái xã hội bầy người nguyên thủy. Họ sinh sống bằng nghề săn bắt _ Và hái lượm hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên.
Song ho đã biết chế tạo công cụ bằng 6 đá theo lỗi ghè đẽo với một trình độ kỹ thuật còn sơ khai. Con người lúc bấy giờ chưa CÓ nơi cư trú ôn định, họ phải lang thang nay đây mai đó theo từng bầy, kiếm ăn trong rừng núi, ven sông suối. Họ cư trú trong các hang động, mái đá và có thê đã biết làm những mái lều đơn giản.