Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu “Tang ma của người Thái: Quy trình nghi lễ để tạo cuộc sống mới cho người chết (trường hợp người Thái Phù Yên, Sơn La)” do nghiên cứu sinh Lò Xuân Dừa thực hiện năm 2016 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Phương Châm. Luận án thuộc chuyên ngành Văn hóa dân gian, mã số 62 22 01 30.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng từ cuối thập niên 1980, việc nghiên cứu về người Thái (Thái học - Thai Studies) đã trở thành một lĩnh vực mang tính quốc tế. Tại Việt Nam, nhiều nhà dân tộc học, văn hóa học và ngôn ngữ học đã chú trọng tìm hiểu các phong tục, nghi lễ vòng đời của người Thái, trong đó tang ma là nghi lễ có quy trình tín ngưỡng phức hợp. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc mô tả thuần túy diễn trình đám tang, xem xét giá trị đám tang như di sản văn hóa cần bảo tồn, hoặc tiếp cận dưới góc độ biến đổi văn hóa do tác động của hiện đại hóa và hội nhập. Luận án xác định khoảng trống học thuật: chưa có công trình nào đi sâu lý giải quy trình tổ chức đám tang của người Thái có ý nghĩa và chức năng tâm lý xã hội như thế nào đối với người sống trong nỗ lực tạo dựng cuộc sống mới cho người chết.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Đóng góp một nghiên cứu trường hợp cụ thể vào bức tranh học thuật và các cuộc tranh luận trong ngành nghiên cứu văn hóa và nhân học về vai trò, chức năng, ý nghĩa văn hóa - xã hội của nghi lễ tang ma.
- Cung cấp hệ thống cứ liệu khoa học cho các nhà quản lý văn hóa tại địa phương trong việc hoạch định chính sách đối với văn hóa phi vật thể nói chung và việc thực hành tang ma nói riêng.
- Góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống của cộng đồng người Thái.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định:
- Sưu tầm, tổng hợp các nguồn tư liệu thành văn và kết quả nghiên cứu đi trước về dân tộc Thái và nghi lễ tang ma.
- Tiến hành khảo sát điền dã dân tộc học, thực hiện nghiên cứu trường hợp tại địa bàn huyện Phù Yên.
- Phân tích, so sánh và hệ thống hóa bản thảo thực địa về đời sống văn hóa tín ngưỡng tang ma Thái.
- Luận giải vai trò, chức năng của các thực hành nghi lễ, các bài mo và hệ thống biểu tượng nghi lễ trong việc tạo lập cuộc sống mới cho người chết và ổn định tâm lý người sống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ quy trình nghi lễ trong tang ma của người Thái tại Phù Yên, trọng tâm là các đám tang tổ chức cho người chết bình thường, chết già (đã có tuổi, từ 50 tuổi trở lên); khảo sát các thực hành nghi lễ diễn ra trước, trong và sau đám tang; phân tích ý nghĩa của các hành vi và biểu tượng nghi lễ.
- Phạm vi không gian: Cộng đồng người Thái tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Địa bàn điền dã tập trung tại các bản thuộc các xã Quang Huy, Huy Bắc, Tường Phù, Tường Thượng, Tường Tiến, Huy Tường và thị trấn Phù Yên; đồng thời mở rộng so sánh với tang ma của người Mường cùng cư trú và một số tộc người lân cận.
- Phạm vi thời gian: Quá trình khảo sát điền dã diễn ra đan xen từ năm 2006 đến năm 2016; trong đó giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016 tập trung quan sát tham dự gần 30 đám tang thực tế (hơn một nửa số đám tang được theo dõi trọn vẹn từ đầu đến cuối).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các nhóm công trình nghiên cứu đi trước liên quan đến đề tài:
Nhóm nghiên cứu về tang ma của các tộc người ở Việt Nam: Các khảo cứu về tang ma người Việt gồm có công trình của Toan Ánh (Tín ngưỡng Việt Nam - Quyển Thượng), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương), Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục), Phạm Côn Sơn (Gia lễ xưa và nay), Xuân Trường (Thọ Mai Gia Lễ và phong tục của người Việt), Minh Đường, Trương Thìn, Vũ Mai Thùy, Triều Sơn, Đức Thành, Tân Việt, Thái Kỳ Thư, Anh Minh, Túy Lang Nguyễn Văn Toàn, Phan Thuận Thảo, và tập thể tác giả Lê Trung Vũ, Nguyễn Hồng Dương, Lê Hồng Lý (Nghi lễ vòng đời người). Đáng chú ý, ấn phẩm Tục tang ma của Phạm Minh Thảo đã phân tích thuyết vật linh và linh hồn của E.B. Tylor cùng quan niệm "sống gửi thác về". Nghiên cứu tang ma các tộc người thiểu số có công trình của Trần Từ (Người Mường ở Hòa Bình), Đinh Văn Ân (Mo Đường lên trời, Nhạc lễ của người Mường và người Thái Phù Yên), Bùi Huy Vọng (Tang lễ cổ truyền của người Mường), Nguyễn Thị Song Hà (Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình), Hoàng Tuấn Nam (Việc tang lễ cổ truyền của người Tày), cùng các bài viết tạp chí của Lê Cẩm Ly, Đổng Văn Dinh, Lý Hành Sơn, Hoàng Thị Thủy, Đinh Hồng Hải và luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngân.
Nhóm nghiên cứu chung về người Thái: Thời kỳ phong kiến có Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Hưng Hóa xứ phong thổ lục của Hoàng Bình Chính. Thời Pháp thuộc có công trình của R. Robert (Nhận xét về người Tày Đèng ở Lang Chánh Thanh Hóa). Giai đoạn sau năm 1954 có các công trình của Lã Văn Lô (Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, 1959; Sơ lược các nhóm Tày-Nùng-Thái ở Việt Nam, 1968), Cầm Trọng và Cầm Quynh (Quắm tố mướn, 1960), Đặng Nghiêm Vạn và Cầm Trọng (Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, 1977). Cầm Trọng trong Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (1978) đã phân tích các khái niệm Phi khuôn, Phi hươn, Phi bản, Phi mường, Mường phạ và tín ngưỡng Phi Then. Từ thập niên 1980 đến nay có các nghiên cứu của Hoàng Lương (Hoa văn Thái, 1988; nghiên cứu về dòng họ và văn hóa vật chất vùng Mường Tấc), Lê Ngọc Thắng (Nghệ thuật trang phục Thái, 1990), Vũ Thị Hoa, Vi Văn An, Artha Nantachukra, Lò Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Thanh Nga (Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc, 2003), Lò Vũ Vân (Văn hóa dân gian của người Thái vùng Mộc Châu, Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La, 2005), Hoàng Cầm, Nguyễn Công Thảo, Nguyễn Văn Minh, Anh Vũ.
Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về tang ma và tín ngưỡng Thái: Đặng Nghiêm Vạn và Hà Sủm (Tìm hiểu văn hóa cổ truyền người Thái Mai Châu, 1988) miêu tả quy trình tang lễ 8 bước và tục làm hiếu 8 ngày; Đỗ Thúy Bình (Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, 1994) trình bày tập quán ma chay Thái Đen Thuận Châu với vai trò rể gốc, hỏa táng trước thổ táng sau; Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (Luật tục Thái ở Việt Nam, 1999) khảo tả tục tang ma Thái Đen cổ 5 ngày đêm từ bản chép tay của Liêm Phính năm 1961 và bài khóc điếu tiễn hồn Thái Trắng Phong Thổ; Vương Trung với công trình Mo khuôn; Cầm Trọng và Phan Hữu Dật (Văn hóa Thái Việt Nam, 1995) phân tích vai trò của Khuôn, Một, Mo, Then; Lường Song Toàn (Mo lễ tang - một pho thần thoại và sử thi dân tộc Thái (Mai Châu), 1999); Cầm Trọng (Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam, 2005; Huyền thoại Mường Then, 2007); Chu Thái Sơn và Cầm Trọng (Người Thái, 2005); Lương Thị Đại (Tang lễ của người Thái trắng, 2005) khảo tả chi tiết tang lễ cổ truyền 5 ngày với 24 nghi lễ tại Mường Lay (Điện Biên); Lê Hồng Lý (2003) nghiên cứu sự biến đổi trong tang lễ Thái Trắng tại Quỳnh Nhai (Sơn La); Trần Bình và Hoàng Mai Lan (2001); Hoàng Cầm (Mo đám ma của người Thái Mường Tấc, 1995); Đậu Tuấn Nam (2001, 2006) về tín ngưỡng các phi ở Quỳ Châu; Lò Văn Lả (2006) khảo sát Mường Phạ qua các bài cúng; Hoàng Trần Nghịch (Lời tang lễ dân tộc Thái, 2000; Những lời cúng tế của dân tộc Thái, 2005; Sổ xem ngày - xem giờ, 2005); Quán Vi Miên (Mường Bôn huyền thoại, 2006; Tang lễ của người Thái ở Nghệ An, 2011); Lò Vũ Vân (Lời ca tang lễ dòng họ Sa: dân tộc Thái vùng Mộc Châu Bắc Yên, 2010); Nguyễn Văn Hòa (Báo vía trần gian và báo vía mường Then, 2012); Lò Xuân Dừa (Lễ tang họ Lò bản Tặt, 2015).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn công trình đi trước chỉ tập trung khảo tả hình thức, ghi chép văn bản mo hoặc tiếp cận việc bảo tồn di sản, chưa phân tích tang ma như một tiến trình tâm lý - xã hội trọn vẹn. Luận án định vị nghiên cứu của mình vào việc giải mã toàn bộ quy trình nghi lễ từ chuẩn bị đến thực hành tại Phù Yên, phân tích vai trò chức năng của bài mo và biểu tượng nhằm làm rõ cơ chế người sống tạo dựng cuộc sống mới cho người chết để giải tỏa áp lực tinh thần cho chính mình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu định tính của nhân học văn hóa:
Cơ sở lý luận:
- Hướng tiếp cận chức năng tâm lý xã hội của Robert Hertz qua tác phẩm Death and the Right Hand (1960) về tang lễ tại Borneo, Indonesia. Hertz chỉ ra rằng tang lễ và các nghi lễ liên quan có chức năng tâm lý giúp thân nhân vượt qua cú sốc do cái chết tạo ra; việc tham gia nghi lễ có quy chuẩn truyền thống giúp con người chấp nhận sự thật mất mát, từ đó thiết lập lại trật tự xã hội khi vắng mặt người quá cố.
- Luận điểm của Charles Keyes trong công trình From Death to Birth: Ritual Process and Buddhist Meanings in Northern Thailand (1987). Keyes khẳng định các nghi lễ tang ma giúp chuyển hóa nhận thức từ sự hủy diệt thể xác sang niềm tin về một sự tái sinh, một cuộc sống mới của linh hồn, tạo điều kiện cho gia quyến giải tỏa sự thất vọng, chấp nhận cái chết và tái lập trật tự xã hội.
- Thuyết vật linh và linh hồn của Edward Burnett Tylor, làm tiền đề soi chiếu quan niệm vạn vật hữu linh, sự tồn tại song song giữa thể xác và linh hồn của người Thái.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp điền dã dân tộc học (phương pháp cốt lõi): Quan sát tham dự trực tiếp tại gần 30 đám tang của các dòng họ người Thái Phù Yên từ năm 2009 đến 2016, trong đó hơn 15 đám tang được theo dõi trọn vẹn toàn bộ diễn trình. Tác giả kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân và phỏng vấn nhóm với nhiều thành phần (nông dân, cán bộ xã, huyện, người cao tuổi, tang chủ).
- Phương pháp phỏng vấn sâu và hồi cố nghệ nhân: Tác giả trực tiếp làm việc, phỏng vấn và hồi cố với các thầy mo ma (mọ phị) nổi tiếng tại huyện Phù Yên gồm ông Hà Văn Lai (bản Phai Làng, xã Huy Bắc), Hoàng Văn Ành (bản Mo Nghè, xã Quang Huy), Hoàng Văn Dường (bản Bùa Chung, xã Tường Phù), Lò Văn Chướng (bản Chăn, xã Tường Thượng), Hà Văn E (bản Tầm Ốc, xã Tường Hạ), Vì Văn Úng (bản Phố, xã Huy Bắc).
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sưu tầm, dịch thuật và phân tích các bài mo do các thầy mo thực hành tại hiện trường; nghiên cứu tư liệu thứ cấp từ sách, báo cáo khoa học, văn bản chữ Thái cổ.
- Các phương pháp phối hợp: So sánh đồng đại và lịch đại (so sánh Thái Phù Yên với các nhóm Thái khác và tộc người Mường cùng cư trú); phương pháp hệ thống; phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học và nhân học.
Nguồn tư liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập từ các đợt khảo sát điền dã thực tế tại 7 xã và thị trấn của huyện Phù Yên từ năm 2006 đến 2016; các băng ghi âm bài mo tại các tang lễ; dữ liệu thứ cấp từ tài liệu thống kê, địa chí lịch sử địa phương và các công trình dân tộc học đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu, xác lập khung lý thuyết chức năng tâm lý của Robert Hertz và Charles Keyes, đồng thời miêu tả toàn diện địa bàn nghiên cứu huyện Phù Yên (Sơn La). Huyện có diện tích tự nhiên 123.655 ha (chiếm 8,7% diện tích tỉnh Sơn La), nằm trong tọa độ 21° đến 31°30’ vĩ độ Bắc, 104°30’ đến 105°30’ kinh độ Đông. Địa hình chia thành 4 tiểu vùng: tiểu vùng 1 gồm 6 xã vùng cao của người Mường (chiếm 77% đất lâm nghiệp toàn huyện); tiểu vùng 2 gồm 8 xã lòng chảo thung lũng Mường Tấc rộng 700 ha (cánh đồng lớn thứ ba vùng Tây Bắc, chiếm 58% đất ruộng toàn huyện), là nơi hỗn cư của người Thái, Mường và Kinh; tiểu vùng 3 gồm 9 xã vùng lòng hồ sông Đà; tiểu vùng 4 gồm 3 xã vùng cao của người Mông. Hệ thống thủy văn có suối Tấc, suối Sập, suối Mưa, suối Khoáng và 53 km sông Đà (nậm Te). Công trình thủy điện Hòa Bình năm 1993 đã tác động đến 11 xã, khiến 2.400 m² nhà cửa phải di dời.
Về lịch sử và văn hóa, Phù Yên có dấu tích con người thời đồ đá (di chỉ Hang Diêm, Mái Đá) và đồ đồng Đông Sơn (thuổng Tường Hạ, trống đồng Đá Đỏ). Người Thái Trắng khai phá Mường Tấc tự nhận là con cháu của Tạo Tấc. Địa bàn có 3 nhóm người Mường cộng cư: Mường Pi - Tửa Pi (họ Đinh chiếm số đông), Mường Klêl (giữ chạu xựa - chủ hồn áo Mường Tấc, rước ống chiếu chỉ được thắc ra đình Chu), Mường Khoồng Ma. Cư dân canh tác lúa nước với hệ thống mương, phai, lai, lịn, làm nghề dệt vải bông thổ cẩm (nổi tiếng với hoa văn mặt chăn na pha phối màu đen trắng), đan lát, làm khèn. Giao lưu văn hóa Thái - Mường thể hiện sâu sắc qua tập quán ẩm thực mâm 6 người, uống rượu cất (lau siệu), kiểu nhà sàn 4 mái thanh thoát, trang phục váy xịn áo cóm ngắn, hiện tượng song ngữ, hát dân ca của nhau (đang Mường, khắp Thái), và việc mời thầy mo của dân tộc này cúng ma chay, làm vía cho gia đình dân tộc kia.
Chương 2: Quy trình chuẩn bị trong tang ma Thái
Chương 2 phân tích vũ trụ quan, quan niệm cái chết và các bước chuẩn bị nghi lễ cho người chết già:
Vũ trụ quan và linh hồn: Vũ trụ chia làm 3 tầng theo trục dọc: Mường Phạ (Mường Then/cõi trời, nơi Then Luông cai quản, cung điện rộng 40 gian, con người trẻ mãi không già), Mường Piêng (cõi trần gian của con người), và Mường Lùm (cõi dưới lòng đất của người tý hon). Ranh giới giữa trần gian và Mường Phạ là sông Ta Khai nước xoáy thác lớn, do những người chết trẻ chưa vợ chưa chồng cai quản. Điểm tận cùng của Mường Phạ là Đẳm đọi ngoi phá, nơi tổ tiên cư ngụ. Người Thái quan niệm con người có thể xác và 80 hồn (khoăn) (30 hồn phía trước, 50 hồn phía sau). Khi tắt thở (khạt chợ, mết đơi), các hồn phân tách: hồn ma chính do thầy mo dẫn lên Đẳm đọi ngoi phá sống đời đời; một hồn về Động heo (rừng mồ mả tổ tiên); các hồn còn lại về bàn thờ gia đình thành Ma nhà (Phi hươn). Chết không phải là mất hẳn mà là chuyển hóa trạng thái sang một thế giới khác.
Các nghi thức khi mới qua đời: Con cháu túc trực nghe trăng trối. Khi người bệnh tắt thở, người nhà cất tiếng gọi vía (êm/ải ơi). Con trai cả cầm dao và 3 nén hương ra sân than thở với các thần sông suối (chau nắm), thần đất (chau địn), rồi chém 3 nhát vào cửa sổ đầu hồi vách tàng khoạng bày tỏ sự hờn giận tổ tiên. Trưởng họ cử người đánh 2 hồi chiêng dài hoặc 2 hồi 3 tiếng trống cái báo hiệu. Người đứng tuổi vào nâng cằm, vuốt mặt; phụ nữ đun nước lá thơm tắm rửa, mặc quần áo mới cho thi hài. Đàn ông dùng sợi rơm bện buộc hai ngón chân, hai ngón tay (buộc nài). Thi hài được bó bằng vải trắng thổ cẩm thành hình "cuống tôm" (nam 7 lượt, nữ 9 lượt vải, bó 3 đoạn ngang). Người đứng tuổi dùng cục than đen vạch lên bọc vải 7 vạch đối với nam, 9 vạch đối với nữ để xác nhận người sống đã giao đủ vải. Gia đình báo cáo trưởng bản, tiến hành căng màn ba góc (cách căng màn dành riêng cho ma, người sống kiêng kỵ) và quây vải na pha bốn bên màn để ngăn chặn tà ma bắt hồn.
Chuẩn bị vải thổ cẩm và tang phục: Vải bông tự dệt (lan phái) giữ vai trò cốt lõi trong đám tang: dùng may trang phục người chết, làm vải liệm, kê đầu quan tài, quây áo quan, cuốn đòn khiêng (máy dua), làm áo phủ quan tài, lợp nhà mồ, lót mâm lễ cúng Phi Táy của thầy mo, làm cờ ma, câu đối, giấy thông hành, và dứt sợi làm chỉ buộc cổ tay giữ vía cho người sống. Tang phục chia làm các cấp độ: tang 3 tầng dành cho con đẻ, con dâu, cháu nội (quần, áo, váy, mũ rơm, gậy chống, khăn thắt ngang lưng); tang 2 tầng và 1 tầng dành cho các hàng cháu chắt và họ hàng xa hơn.
Chương 3: Quy trình thực hành nghi lễ cúng ma
Chương 3 trình bày chi tiết tiến trình thực hành các nghi lễ từ khâm liệm đến sau khi chôn cất:
Tiến trình cúng ma tại gia: Gia đình thực hiện khâm liệm nhập quan, đón thầy mo và phường kèn trống. Thầy mo lập bàn thờ cúng ma và bàn thờ tổ nghề (Phi Táy) tại gian quản (tàng khoạng). Thầy mo thực hiện các bữa cúng cơm chu kỳ (sáng, trưa, tối) nhằm duy trì nhịp sống tượng trưng cho người quá cố. Nghi lễ cởi tội giải oan (ke sộ) được tiến hành để xóa bỏ những lỗi lầm trần thế. Gia đình tổ chức các nghi thức giao nộp của cải, công cụ sản xuất (cày bừa, dụng cụ đánh bắt, đồ đan lát, chăn đệm, gia súc tượng trưng) cho người chết mang về cõi trời. Thầy mo diễn xướng các chương mo dẫn dắt linh hồn người chết vượt các địa danh.
Nghi lễ đưa tang (đưa ma): Quan tài được chuyển ra khỏi nhà sàn theo các quy tắc nghiêm ngặt; gia quyến và cộng đồng thực hiện nghi thức tiễn biệt. Đoàn tang di chuyển đến khu rừng ma của bản (Động heo). Tại đây, người dân tiến hành đào huyệt, làm lễ hạ huyệt, dựng nhà mồ bên trên. Gia đình dựng cây cờ ma (cọ cao / co heo / cao phạ), chăng dải chỉ nối thông linh từ huyệt mộ lên đỉnh cờ, và bài trí các vật dụng tùy táng quanh mộ để người chết bắt đầu cuộc sống lao động tại thế giới mồ mả.
Các nghi lễ sau khi đưa ma: Sau khi chôn cất, gia đình thực hiện nghi lễ tẩy uế, rửa nhà nhằm trừ tà ma và làm sạch không gian sinh hoạt. Thầy mo làm lễ gọi hồn, buộc chỉ cổ tay (mัด khoăn) cho toàn bộ tang quyến và những người tham gia phục dịch đám tang để giữ vía ở lại trần thế. Linh hồn người chết được rước về an vị tại bàn thờ tổ tiên (hán hòng, choong xơ) trở thành Phi hươn. Tuần tang kết thúc, giải tỏa những kiêng kỵ và đưa nhịp sống gia đình trở lại trạng thái bình thường.
Chương 4: Vai trò và chức năng của các thực hành nghi lễ trong việc tạo cuộc sống mới cho người chết
Chương 4 đúc kết ý nghĩa văn hóa và chức năng xã hội của các thành tố nghi lễ:
Vai trò, chức năng của chủ thể thực hành: Thầy mo (mọ phị) đóng vai trò là cầu nối trung gian giữa người sống và cõi siêu nhiên, là người dẫn đường tâm linh đưa hồn ma vượt hơn 30 cửa ải nguy hiểm trên đường lên trời. Dâu ma, rể ma (khượi, pớ) và người thân trong dòng họ đảm nhận các phần việc nghi lễ cụ thể, giúp duy trì trật tự gia tộc và chia sẻ gánh nặng tâm lý cho tang chủ.
Vai trò, chức năng của các bài mo: Các bài mo (tiêu biểu như Tảy ỏn óc, Quám sống phi) cung cấp một bản đồ tâm linh chi tiết dẫn dắt linh hồn; đồng thời lưu giữ tri thức dân gian, lịch sử thiên di của tộc người, răn dạy đạo lý làm người. Lời mo giải tỏa nỗi sợ hãi cái chết, xác nhận sự chuyển hóa của người mất sang một cuộc sống đầy đủ tại Đẳm đọi ngoi phá.
Chức năng của các biểu tượng nghi lễ: Các biểu tượng như vải thổ cẩm (lan phái), cuống tôm, số lượt quấn vải (7 nam, 9 nữ), vạch than đen, màn ba góc, cây cờ ma (cọ cao), sợi chỉ kết nối âm dương, nhà mồ... có chức năng phân định ranh giới giữa hai cõi, thực hiện sự chuyển giao tài sản tượng trưng, bảo vệ người sống trước tà khí, và tái lập trật tự tâm lý xã hội cho cộng đồng.
Bảng tổng hợp các biểu tượng và nghi thức chính trong tang ma Thái Phù Yên:
| Nghi thức / Biểu tượng |
Hình thức thực hiện |
Ý nghĩa và chức năng văn hóa |
| Vào cuống tôm |
Bọc vải trắng thổ cẩm 7 lượt (nam) hoặc 9 lượt (nữ), bó 3 đoạn ngang. |
Phân định giới tính theo quan niệm vía; đóng gói thể xác trọn vẹn để chuyển sang thể ma. |
| Vạch than đen |
Dùng than vạch 7 vạch (nam) hoặc 9 vạch (nữ) trên bọc vải. |
Xác nhận người sống đã giao đủ vải, giúp người chết yên tâm về thế giới bên kia không bị xấu hổ. |
| Màn ba góc |
Buông màn buộc 3 góc, quây 4 mặt bằng vải mặt chăn (na pha). |
Biểu tượng không gian riêng của người chết; ngăn hồn ma đi lại và chống ma xấu bắt hồn. |
| Buộc nài |
Dùng sợi rơm bện buộc 2 ngón chân cái và 2 ngón tay cái. |
Giữ thi thể ngay ngắn; ngăn ngừa các biến dạng bất thường sau khi qua đời. |
| Chém vách tàng khoạng |
Con trai cả cầm dao chém 3 nhát vào vách cửa sổ đầu hồi. |
Nghi thức than thở với thần đất, thần suối và bày tỏ sự hờn giận trước quyết định của tổ tiên. |
| Cây cờ ma (cọ cao) |
Dựng cây cờ tại mộ, nối dải chỉ từ huyệt lên ngọn cờ. |
Biểu tượng dẫn lối linh hồn lên trời; che chở mộ phần và kết nối ranh giới âm - dương. |
| Lễ làm vía (mัด khoăn) |
Thầy mo buộc chỉ đen - trắng vào cổ tay tang quyến và người giúp việc. |
Giữ vía người sống ở lại trần gian; tái lập cân bằng tinh thần và xua tan ám ảnh chết chóc. |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu rõ các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Luận án vận dụng khung lý thuyết chức năng tâm lý của Robert Hertz và Charles Keyes vào việc giải mã nghi lễ tang ma của người Thái Trắng tại Phù Yên (Sơn La).
- Công trình chứng minh rằng các thực hành nghi lễ trong đám tang không đơn thuần là sự than khóc hay chôn cất thể xác, mà là một quy trình nghi lễ tích cực nhằm kiến tạo một cuộc sống mới cho người chết ở cõi vĩnh hằng. Qua đó, nghi lễ giúp thân nhân giải tỏa cú sốc mất mát, chấp nhận cái chết và tái thiết lập trật tự tâm lý - xã hội của cộng đồng người sống.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp một chuyên khảo với nguồn tư liệu điền dã dân tộc học phong phú, hệ thống về các bước chuẩn bị, diễn trình cúng ma và các nghi lễ sau tang ma của người Thái Phù Yên.
- Ghi âm, phiên âm và dịch thuật nhiều bài mo nghi lễ trực tiếp từ các nghệ nhân hát mo tại địa phương, làm giàu thêm kho tàng tư liệu văn hóa dân gian Thái.
- Làm rõ tính chất hỗn dung, giao lưu văn hóa đặc thù giữa người Thái, người Mường và người Kinh tại vùng lòng chảo Mường Tấc.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp các nhà quản lý văn hóa địa phương hoạch định chính sách quản lý văn hóa phi vật thể, giữ gìn phong tục truyền thống tốt đẹp và hạn chế các tập quán rườm rà, tốn kém.
Kiến nghị và giải pháp: Tác giả đề xuất các cơ quan quản lý văn hóa cần nhận thức đúng giá trị nhân văn cốt lõi trong tang ma Thái để có biện pháp bảo tồn phù hợp; hỗ trợ các nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật diễn xướng bài mo; đồng thời vận động nhân dân tinh giản thời gian tổ chức và các lễ vật tốn kém nhằm xây dựng đời sống mới văn minh nhưng vẫn bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về đối tượng: Do khuôn khổ nghiên cứu, luận án chỉ tập trung khảo sát các đám tang tổ chức cho người chết bình thường, chết già (từ 50 tuổi trở lên), chưa đi sâu khảo sát các trường hợp chết bất thường (chết trẻ, chết tai nạn, chết đường chết chợ).
- Về phạm vi không gian: Dữ liệu thực địa chủ yếu tập trung tại huyện Phù Yên (Sơn La), chưa có điều kiện so sánh sâu rộng với toàn bộ các nhóm Thái ở các tỉnh Tây Bắc khác hoặc các cộng đồng Thái bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.
- Về vũ trụ luận: Luận án mới chỉ tập trung phân tích mối quan hệ giữa Mường Phạ (cõi trời) và Mường Piêng (cõi người), chưa đi sâu khảo cứu tầng Mường Lùm (cõi dưới lòng đất).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát so sánh tang ma giữa các nhóm Thái Đen, Thái Trắng và Thái Thanh tại các vùng địa lý khác nhau.
- Đi sâu nghiên cứu các nghi lễ xử lý đối với các trường hợp chết bất thường để làm sáng tỏ thêm quan niệm về linh hồn và thế giới bên kia của người Thái.
- Theo dõi sự biến đổi của tang ma Thái trong bối cảnh tái định cư thủy điện sông Đà, tác động của kinh tế thị trường và xu thế đô thị hóa hiện nay.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học và Văn hóa dân gian (đặc biệt là phân ngành Thái học) có thể sử dụng luận án như tài liệu tham khảo về phương pháp điền dã dân tộc học và việc ứng dụng lý thuyết chức năng tâm lý trong nghiên cứu nghi lễ đời người.
- Các nhà quản lý văn hóa, cán bộ chính sách tại tỉnh Sơn La và khu vực Tây Bắc có thể khai thác tư liệu thực tế của luận án để xây dựng quy ước bản văn hóa, bảo tồn di sản mo Thái và định hướng nếp sống văn minh trong việc tang.
- Các chương đáng tham khảo nhất gồm: Chương 1 (khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu), Chương 2 và Chương 3 (nguồn tư liệu miêu tả chi tiết quy trình chuẩn bị và thực hành nghi lễ), Chương 4 (mô hình phân tích vai trò của bài mo và giải mã biểu tượng nghi lễ).
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quan niệm của người Thái Phù Yên, linh hồn con người sau khi chết phân chia như thế nào?
Người Thái quan niệm con người có 80 hồn (khoăn), chia làm 30 hồn phía trước và 50 hồn phía sau. Khi một người qua đời, các hồn này phân tán thành ba ngả: hồn ma chính được thầy mo dẫn đường vượt qua các cửa ải lên cõi trời (Mường Phạ) để cư ngụ tại Đẳm đọi ngoi phá cùng tổ tiên; một phần hồn ma chuyển về Động heo (khu rừng mồ mả của bản); các hồn còn lại quy tụ về nương tựa nơi bàn thờ gia đình để trở thành Ma nhà (Phi hươn) ngụ cùng con cháu.
2. Ý nghĩa của nghi thức bọc thi hài hình "cuống tôm" và dùng than đen vạch lên vải là gì?
Thi thể người chết được bọc bằng vải trắng thổ cẩm theo chiều dài thành hình cuống tôm (nam 7 lượt vải, nữ 9 lượt vải, bó thành 3 đoạn ngang). Sau đó, người đứng tuổi dùng cục than đen vạch 7 vạch (với nam) hoặc 9 vạch (với nữ) lên bọc vải. Nghi thức này mang ý nghĩa xác nhận người sống đã giao đủ số lượng vải theo quy chuẩn vía của giới tính, giúp người chết yên tâm lên đường sang thế giới bên kia mà không sợ bị thiếu thốn hay xấu hổ trước thế giới ma tổ tiên.
3. Vì sao người Thái Phù Yên kiêng căng màn ba góc trong đời sống thường nhật?
Trong đời sống thường ngày, người Thái rất kiêng kỵ việc căng màn ba góc vì quan niệm đây là kiểu căng màn dành riêng cho người chết. Trong tang lễ, sau khi bọc thi hài xong, thân nhân sẽ căng màn ba góc buông xuống và quây vải mặt chăn (na pha) bốn bên nhằm tạo lập không gian thiêng tách biệt, ngăn không cho hồn người chết đi lại lung tung và phòng ngừa ma xấu đến bắt hồn.
4. Ranh giới nguy hiểm nhất mà thầy mo phải dẫn linh hồn vượt qua trên đường lên cõi trời là gì?
Theo các bài mo, ranh giới hiểm trở nhất giữa trần gian (Mường Piêng) và cõi trời (Mường Phạ) là con sông Ta Khai, nơi có sóng to thác lớn. Vùng đất này do linh hồn của những người chết trẻ chưa có vợ có chồng (tại òn tại cháu, tại bàu mi phụa bàu mi mia) cai quản. Khi đưa linh hồn qua đây, thầy mo phải dùng lời lẽ khéo léo để thuyết phục các hồn giữ ải không bắt giữ linh hồn người chết ở lại.
5. Sự giao thoa văn hóa giữa người Thái và người Mường tại Phù Yên biểu hiện như thế nào trong tang ma?
Do lịch sử cộng cư lâu đời tại Mường Tấc, người Thái và người Mường có sự gắn kết văn hóa sâu sắc: nhiều gia đình người Thái mời thầy mo Mường cúng ma chay hoặc làm vía, ngược lại nhiều gia đình người Mường sử dụng thầy mo Thái; người già của hai dân tộc đều thành thạo tiếng nói và có thể hát làn điệu của nhau (đang Mường, khắp Thái); đồng thời có sự vay mượn qua lại về ngôn ngữ cúng tế và cách bài trí đồ dùng nghi lễ trong tang ma.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lò Xuân Dừa là công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghi lễ tang ma của người Thái tại huyện Phù Yên (Sơn La) dưới góc độ Văn hóa dân gian. Bằng việc vận dụng khung lý thuyết chức năng tâm lý xã hội kết hợp với phương pháp điền dã dân tộc học thực chứng, tác giả đã giải mã trọn vẹn quy trình chuẩn bị, thực hành nghi lễ, các bài mo và hệ thống biểu tượng. Công trình khẳng định tang ma Thái là một tiến trình văn hóa tích cực nhằm kiến tạo cuộc sống mới cho người chết ở cõi vĩnh hằng, qua đó giúp người sống giải tỏa chấn thương tâm lý, củng cố niềm tin và tái lập trật tự xã hội. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học cho ngành Thái học và cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa phi vật thể tại địa phương.