Luận án Tiến sĩ Văn hóa học: Lễ hội Gò Tháp Đồng Tháp và đời sống tinh thần của người dân

Dưới đây là kết quả tạo meta tags cho bài viết 'Lễ hội Gò Tháp Đồng Tháp trong đời sống tinh thần cư dân': { "ai_description": "Lễ hội Gò Tháp Đồng Tháp là

Trường đại học

Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

Chuyên ngành

Văn hóa dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2018

234
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lễ hội Gò Tháp và đời sống tinh thần cư dân

Lễ hội Gò Tháp là một trong những lễ hội lớn nhất tại tỉnh Đồng Tháp, gắn liền với Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Gò Tháp nằm trên địa bàn xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười. Di tích này thuộc vùng Đồng Tháp Mười, nơi có lịch sử văn hóa lâu đời với dấu ấn của nền văn hóa Óc Eo từ hàng nghìn năm trước. Hàng năm, lễ hội được tổ chức thành nhiều đợt nhằm tưởng niệm các nhân vật lịch sử và nhân vật dân gian như Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều và Bà Chúa Xứ. Lễ hội thu hút hàng trăm ngàn lượt khách thập phương về chiêm bái, cầu nguyện. Trong đời sống tinh thần của cư dân Đồng Tháp, lễ hội Gò Tháp đóng vai trò trung tâm trong việc duy trì tín ngưỡng, củng cố bản sắc văn hóa cộng đồng và tạo không gian giao lưu tâm linh sâu sắc. Nghiên cứu về lễ hội này giúp hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa tính thiêng và tính thế tục trong đời sống văn hóa người dân Nam Bộ.

1.1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành di tích Gò Tháp

Di tích Gò Tháp tọa lạc tại xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng đất đầu nguồn sông Tiền, diện tích khoảng 3.275,8 km² với hơn 1,6 triệu dân. Di tích có nguồn gốc từ nền văn hóa Óc Eo hình thành từ thế kỷ đầu Công nguyên, chịu ảnh hưởng rõ nét của văn hóa Ấn Độ. Các cuộc khai quật khảo cổ đã phát hiện nhiều di tích cư trú, kiến trúc tôn giáo, mộ táng và di vật quý giá. Qua hàng nghìn năm, Gò Tháp trở thành điểm hội tụ văn hóa tâm linh quan trọng bậc nhất của cư dân vùng Tây Nam Bộ.

1.2. Các nhân vật được thờ cúng tại lễ hội Gò Tháp

Lễ hội Gò Tháp tưởng niệm nhiều nhân vật khác nhau, chia thành hai dạng chính. Dạng thứ nhất là nhân vật lịch sử như Thiên Hộ Dương (Dương Công Trừng) và Đốc Binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều), hai anh hùng kháng Pháp thế kỷ XIX. Dạng thứ hai là nhân vật được nhân dân hư cấu dựa trên truyền thuyết như Bà Chúa Xứ. Người dân đã thiêng hóa các nhân vật này qua ba quá trình: lịch sử hóa, huyền thoại hóa qua truyền thuyết và địa phương hóa qua các câu chuyện linh thiêng. Quá trình thiêng hóa chưa trọn vẹn như ở Bắc Bộ do tuổi đời lễ hội tương đối ngắn, nhưng tính thiêng đã lan tỏa sâu vào tiềm thức cộng đồng.

II. Phân tích tính thiêng và tính thế tục trong lễ hội Gò Tháp

Lễ hội Gò Tháp thể hiện sự đan xen phức tạp giữa tính thiêng và tính thế tục, tạo nên bản sắc riêng biệt trong đời sống tinh thần cư dân Đồng Tháp. Tính thiêng biểu hiện qua hệ thống nghi thức thờ cúng trang nghiêm, lòng thành kính của người dân đối với các nhân vật được thờ phụng và niềm tin tâm linh sâu sắc về sự phù hộ, che chở. Mỗi mùa lễ hội, hàng trăm ngàn lượt khách từ khắp nơi đổ về cầu nguyện, chiêm bái, thể hiện sức hút mãnh liệt của không gian thiêng. Tính thế tục thể hiện qua các hoạt động vui chơi, giải trí, giao thương buôn bán và sinh hoạt cộng đồng sôi động diễn ra bên lề nghi lễ. Mối quan hệ giữa hai tính chất này không phải lúc nào cũng hài hòa. Sự tác động của cơ chế thị trường, thương mại hóa du lịch và nhu cầu giải trí của công chúng đang đặt ra thách thức lớn cho việc bảo tồn giá trị thiêng liêng vốn có của lễ hội truyền thống.

2.1. Biểu hiện tính thiêng trong tín ngưỡng và nghi thức thờ cúng

Tính thiêng của lễ hội Gò Tháp thể hiện rõ nét nhất qua thái độ thành kính của người dân đối với nhân vật thờ. Các nghi thức cúng tế được thực hiện trang nghiêm theo phong tục truyền thống. Người dân tin rằng các nhân vật lịch sử và Bà Chúa Xứ có quyền năng tâm linh, có thể phù hộ độ trì cho cuộc sống bình an, mùa màng bội thu. Niềm tin này được củng cố qua nhiều thế hệ, từ các truyền thuyết dân gian về những câu chuyện linh thiêng liên quan đến di tích. Tính thiêng còn lan tỏa qua không gian kiến trúc tôn giáo, các hiện vật khảo cổ mang dấu ấn văn hóa Óc Eo hàng nghìn năm tuổi.

2.2. Biểu hiện tính thế tục trong hoạt động lễ hội hiện đại

Tính thế tục trong lễ hội Gò Tháp ngày càng trở nên rõ rệt dưới tác động của quá trình đô thị hóa và cơ chế thị trường. Các hoạt động vui chơi giải trí, hội chợ thương mại, biểu diễn nghệ thuật phục vụ du khách phát triển mạnh mẽ. Ban Hội hương đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động mang tính thế tục này. Sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác tổ chức cũng góp phần thay đổi diện mạo lễ hội theo hướng hiện đại hóa. Tuy nhiên, ranh giới giữa phục vụ đời sống tinh thần và thương mại hóa ngày càng mong manh, đòi hỏi sự cân nhắc thận trọng từ các bên liên quan.

III. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Gò Tháp

Việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Gò Tháp đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cộng đồng dân cư, Ban Hội hương và cơ quan quản lý nhà nước. Giải pháp đầu tiên là nâng cao nhận thức của người dân về giá trị văn hóa truyền thống, giúp cộng đồng hiểu rõ ý nghĩa lịch sử và tâm linh của lễ hội. Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế quản lý, phân định rõ vai trò của từng chủ thể trong quá trình tổ chức. Ban Hội hương cần được hỗ trợ để duy trì các nghi thức truyền thống đúng nguyên bản. Thứ ba, phát triển du lịch văn hóa một cách bền vững, hài hòa giữa khai thác kinh tế và bảo tồn giá trị thiêng liêng. Các hoạt động thế tục cần được tổ chức có quy hoạch, không xâm phạm không gian nghi lễ. Cuối cùng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tư liệu hóa để lưu giữ kho tàng tri thức văn hóa dân gian vùng Đồng Tháp Mười cho các thế hệ tương lai.

3.1. Vai trò của cộng đồng trong việc gìn giữ tính thiêng lễ hội

Cộng đồng cư dân Đồng Tháp đóng vai trò chủ thể trong việc bảo tồn tính thiêng của lễ hội Gò Tháp. Thái độ thành kính, niềm tin tâm linh và sự gắn bó với truyền thống của người dân là yếu tố quyết định sự trường tồn của giá trị thiêng liêng. Cần tổ chức các chương trình giáo dục, truyền thông giúp thế hệ trẻ hiểu rõ nguồn gốc, ý nghĩa lịch sử của các nhân vật được thờ cúng. Việc khôi phục và duy trì các nghi thức cúng tế truyền thống cần dựa trên sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, đặc biệt là những người cao niên am hiểu phong tục.

3.2. Giải pháp cân bằng giữa tính thiêng và tính thế tục

Cân bằng giữa tính thiêng và tính thế tục là thách thức lớn nhất trong quản lý lễ hội Gò Tháp hiện nay. Giải pháp đề xuất bao gồm quy hoạch không gian lễ hội rõ ràng, tách biệt khu vực nghi lễ trang nghiêm với khu vực vui chơi giải trí. Ban tổ chức cần xây dựng quy tắc ứng xử phù hợp trong không gian thiêng. Các hoạt động thương mại cần được kiểm soát, không để tình trạng chèo kéo, ép giá du khách làm ảnh hưởng hình ảnh lễ hội. Cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò giám sát, ban hành quy định bảo vệ di tích và hướng dẫn tổ chức lễ hội theo hướng bền vững.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu lễ hội Gò Tháp

Nghiên cứu về lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần cư dân Đồng Tháp cho thấy đây là một hiện tượng văn hóa phong phú, đa chiều, mang giá trị to lớn đối với cộng đồng. Lễ hội không chỉ là không gian tưởng niệm các anh hùng dân tộc và nhân vật tâm linh mà còn là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa tính thiêng và tính thế tục. Quá trình thiêng hóa nhân vật thờ diễn ra qua ba bước: lịch sử hóa, huyền thoại hóa và địa phương hóa, tạo nên hệ thống tín ngưỡng đặc trưng của vùng Nam Bộ. Tuy nhiên, lễ hội đang đối mặt với nguy cơ thương mại hóa và mất đi bản sắc truyền thống. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong công tác quản lý di tích, hoạch định chính sách văn hóa và phát triển du lịch bền vững. Đây cũng là tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa và những ai quan tâm đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Cửu Long.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu lễ hội Gò Tháp đóng góp quan trọng vào kho tàng tri thức về văn hóa dân gian Nam Bộ. Về mặt khoa học, công trình bổ sung hiểu biết về quá trình hình thành, phát triển và vai trò của lễ hội trong đời sống tinh thần cộng đồng cư dân vùng Đồng Tháp Mười. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận cho việc xây dựng quy hoạch bảo tồn di tích, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa và đào tạo nguồn nhân lực quản lý lễ hội. Đây là công trình nghiên cứu độc lập đầu tiên về đề tài này dưới dạng luận án tiến sĩ.

4.2. Định hướng phát triển lễ hội Gò Tháp trong tương lai

Định hướng phát triển lễ hội Gò Tháp cần dựa trên nguyên tắc bảo tồn giá trị cốt lõi đồng thời thích ứng với yêu cầu thời đại. Trước hết, cần xây dựng hồ sơ di tích hoàn chỉnh, đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Tiếp theo, phát triển mô hình du lịch tâm linh kết hợp du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười. Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên am hiểu văn hóa địa phương. Ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, giới thiệu lễ hội đến du khách trong và ngoài nước. Mục tiêu cuối cùng là đưa lễ hội Gò Tháp trở thành sản phẩm văn hóa du lịch đặc trưng của tỉnh Đồng Tháp.

20/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngày nay, trên khắp mọi miền của Tổ quốc, đi tới đâu chúng ta cũng dễ dàng được trải nghiệm với cuộc sống của người dân thông qua lễ hội, được tổ chức với nhiều dạng thức, tên gọi, ý nghĩa khác nhau. Nhiều nhất là vào dịp đầu năm và thứ đến là dịp cuối năm. Mục đích của lễ hội chủ yếu nhằm tưởng niệm, tôn vinh nhân vật có thật trong lịch sử, hoặc một sự kiện nào đó, hoặc qua các truyền thuyết được nhân dân thêu dệt, hư cấu, nhằm gửi gắm niềm tin tín ngưỡng của mình vào nhân vật ấy.

Có những lễ hội lên đến hàng ngàn năm tuổi như ở Bắc Bộ và ít nhất cũng trên cả trăm năm tuổi như ở Nam Bộ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là dạng lễ hội dân gian, hay lễ hội truyền thống., được hình thành dựa trên cơ sở tín ngưỡng của người dân. Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp thuộc dạng lễ hội dân gian. Để nắm rõ về lễ hội này, trước hết, luận án tiến hành nghiên cứu tổng quan tình hình dưới đây.

Tình hình nghiên cứu lễ hội của người Việt đồng bằng sông Cửu Long Công trình Gia Định thành thông chí [33] là một bộ địa chí ghi chép về vùng đất Nam Bộ vào những năm 1820 - 1822 của tác giả Trịnh Hoài Đức. Đây là công trình ghi chép, miêu thuật về không gian, đời sống, vật chất, phong tục tín ngưỡng., giúp luận án có tư liệu xác định văn hóa vùng Nam Bộ nói chung trong việc nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ của mình. Năm 1992, công trình Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của các tác giả: Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh [120] gồm 11 chương; toàn bộ nội dung chương IV nói về đặc điểm và vị trí sinh hoạt lễ 15 hội truyền thống trong đời sống tinh thần của người Việt ở Nam Bộ, trong đó đề cập đến một số lễ hội tiêu biểu như lễ hội đền Linh Sơn Thánh Mẫu, lễ hội Nghinh Cô, lễ vía bà Chúa Xứ ở Núi Sam, lễ hội Nghinh Ông, lễ hội Lăng Ông. Theo tác giả: Nhìn trên tổng thể, lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ vẫn mang những nét chung tiêu biểu, thống nhất với lễ hội ở miền Bắc, miền Trung trên nhiều bình diện từ mục đích lễ hội, nghi thức tiến hành lễ hội, không gian và thời gian lễ hội, đến đối tượng tham dự hội.

Thực tế ấy không có gì là khó hiểu bởi lẽ lễ hội cổ truyền Việt Nam (dù ở Bắc, ở Trung hay ở Nam) đều được hình thành và xuất phát từ một nền tảng chung, đó là nền kinh tế nông nghiệp, mà trung tâm là nghề trồng lúa nước. Tuy nhiên, do sự tác động của những điều kiện tự nhiên, địa lí – xã hội, lịch sử và kinh tế ở môi trường mà nó được hình thành và phát triển, lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ, bên cạnh những nét chung, còn mang những nét riêng, những sắc thái đặc thù. Năm 1993, công trình Đình Nam Bộ, tín ngưỡng và nghi lễ của các tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường [154], đề cập đến hai vấn đề chính: Đặc điểm lịch sử của đình làng Nam Bộ; nghi thức cúng tế của đình Nam Bộ. Về lễ hội, các tác giả nghiên cứu các vấn đề: Các lễ đầu năm và cuối năm; tam nguyên; tứ thời tiết lạp; lễ chính ở đình: Kỳ yên, thượng điền và hạ điền; lễ cúng tiên sư; tạp tế; giỗ hậu và giỗ các anh hùng lịch sử; lễ vật cúng mặn; lễ vật cúng chay; lễ vật đặc biệt; lễ vật cúng thần thành hoàng bổn cảnh; nghi thức cúng; nghi thức tế thần; các nghi lễ khác trong lễ Kỳ yên.

Năm 1994, công trình Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại của các tác giả: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (Chủ biên) [67], đề cập đến nhiều vấn đề xung quanh lễ hội – hội lễ trong nước và một số nước trên thế 16 giới như Inđônêxia, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Campuchia. Nghiên cứu về lễ hội người Việt ở Nam Bộ gồm có: - Bài: “Mấy đặc điểm của sinh hoạt lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ”, cho rằng: .Cũng như những hiện tượng văn hóa và tinh thần khác, lễ hội cổ truyền của một dân tộc thường chịu sự tác động trực tiếp của những điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, lịch sử của môi trường mà nó hình thành và tồn tại. Do vậy, lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ, bên cạnh những nét chung, còn có những sắc thái đặc thù mang dấu ấn địa phương [67. - Bài: “Bàn về việc tổ chức hội lễ ở khu lăng Lê Văn Duyệt trong tình hình mới”, có nêu: Trước đây, nhiều đình, miếu được nông dân sùng bái, tu tạo.

Dần dần với sự phát triển kinh tế thị trường, nhiều vùng nông thôn được đô thị hóa, những sinh hoạt tôn giáo – tín ngưỡng ở một số đình, miếu cần phải được tổ chức phù hợp với nếp sống của người dân thành thị gồm đa số là tiểu thương, thương gia và nhân sĩ lớn tuổi [67. Năm 1995, công trình Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt: Nghệ thuật kiến trúc, trang trí, lễ hội của tác giả Bùi Thị Ngọc Trang [151], ở phần lễ hội, công trình miêu tả trình tự về nghi thức tế lễ gồm: nghi thức túc yết, nghi thức đoàn cả; mỗi nghi thức đều có đội lễ sinh (4 người) và đào thài thực hiện dâng các lễ vật: dâng hương, dâng rượu, dâng trà lên chánh điện. Công trình nhận định: “Những nghi thức sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội diễn ra tại lăng miếu Tả Quân Lê Văn Duyệt hiện nay là những tập tục, sinh hoạt văn hóa của nhân dân, thể hiện lòng biết ơn, kính trọng đối với người đã có công với quốc gia, dân tộc” [151, tr. 17 Năm 1997, công trình Tìm hiểu một số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre của tác giả Nguyễn Chí Bền [11] dành gần 20 trang (Chương hai) viết về các vấn đề lễ hội ở đình làng Bến Tre như: Kiến trúc của đình làng, các vị thần được phụng thờ, các lễ và hội, nét chung và nét riêng trong diện mạo lễ hội cổ truyền.

Năm 1997, công trình Văn hóa Nghệ thuật Nam Bộ của nhiều tác giả [100] đề cập đến nhiều vấn đề xung quanh đời sống văn hóa tín ngưỡng và nghệ thuật của người dân Nam Bộ nói chung. Tuy nhiên, về di tích và lễ hội Gò Tháp tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp chưa được công trình quan tâm đề cập đến. Năm 1998, tuyển tập Lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam của tác giả Thái Thị Bạch Liên [81], là cuốn sách mỏng 88 trang, nhưng nội dung đã chuyển tải được hai vấn đề chủ yếu như: Tín ngưỡng thờ bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc, An Giang; lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam, Châu Đốc An Giang. Qua bài viết của tác giả, luận án nhận thấy lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam gồm hai phần (Phần lễ và phần hội).

Phần lễ bà đã miêu tả và giải mã về các nghi lễ như: Lịch lễ và ban tổ chức thờ cúng, nghi thức tế lễ (lễ mộc dục, lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, lễ túc yết, lễ xây chầu, lễ chánh tế). Phần hội cũng được tác giả miêu tả và giải mã: Những tục lễ (xin xăm, tục xin khăn bùa, tục vay tiền bà, tục hầu bóng), những sinh hoạt hội (hát bội, những sinh hoạt hội khác); tín ngưỡng và lễ hội bà Chúa Xứ trong đời sống kinh tế văn hóa của cư dân hiện nay. Năm 1999, công trình Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ (Khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc) của tác giả Huỳnh Quốc Thắng [137], đã lược khảo tổng quan về một số lễ hội như lễ hội thờ cúng thần thành hoàng và các nhân vật lịch sử, lễ hội nghề nghiệp, lễ hội thờ Mẫu – Nữ thần. Theo tác giả: Lễ hội dân gian người Việt ở Nam Bộ chỉ mới phát triển trong vòng trên dưới vài ba trăm năm nay nhưng căn cứ vào thể loại, nội dung 18 và đặc biệt thu hút lượng người tham gia vào các hoạt động của nó, người ta có thể khẳng định rằng hệ thống lễ hội ấy đã chiếm vị trí đáng kể trong đời sống văn hóa của người dân địa phương nơi đây [137, tr.

Năm 2004, công trình Đình miễu và lễ hội dân gian miền Nam của tác giả Sơn Nam [92], là công trình biên khảo, đề cập đến những vấn đề: Đình miễu và lễ hội dân gian, Lăng ông bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian, nghi thức và lễ bái của người Việt Nam, người Việt có dân tộc tính không? Ở chương hai (phần thứ nhất), khi bàn về đình, miếu, tác giả trích đoạn của Nguyễn Văn Tố: “Người có công với dân thì được dân thờ cúng (hữu công tắc tự chi), vì vậy lập đình từ (đình và đền) để thờ các vị thành hoàng tức là công thần đời trước. Khi cầu việc gì mà thấy được linh ứng thì cũng dựng cơ ngơi, gọi đền đài dinh phủ” [92, tr. Ở chương ba (phần thứ nhất), tác giả nói về nguồn gốc và ý nghĩa của đình ở miền Nam, có đoạn viết: “Ở đình xã Định Yên (Cái Dầu), huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp, đồng bào bảo thờ ông “Tam thần tứ”, xưa kia dày công đánh cọp, khẩn hoang nhưng trong sắc chỉ ghi chức vụ khái quát Bổn cảnh thành hoàng” [92, tr. Năm 2004, công trình Nam Bộ - Đất và người của nhiều tác giả [105], gồm nhiều tập, nghiên cứu về đất và con người trên vùng Nam Bộ rộng lớn; tập một nghiên cứu về đời sống con người, đất đai và thiên nhiên, tập hai nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa tinh thần và vật chất [106].

Năm 2005, hội tiếp tục cho xuất bản cuốn Nam Bộ đất và người tập ba [107]. Đây là cụm công trình nghiên cứu một cách đa dạng về mọi mặt xung quanh cuộc sống của con người Nam Bộ nói chung. Năm 2005, công trình Đình ở Thành Phố Hồ Chí Minh do tác giả Hồ Tường (Chủ biên) [157], đề cấp đến các vấn đề: Làng và đình ở Sài Gòn Gia Định xưa, kiến trúc đình ở TP. Hồ Chí Minh, tín ngưỡng trong đình ở TP.

Hồ 19 Chí Minh, lễ hội đình ở TP. Hồ Chí Minh, đình trong đời sống văn hóa ở TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu về lễ hội đình ở TP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ